1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Không thể phủ nhận rằng đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mọi quốc gia.
Đất đai là môi trường sống, là nơi diễn ra các hoạt động sống của con người.Đất đai có
những đặc trưng cơ bản khiến nó không giống với bất cứ một loại tư liệu sản xuất nào. Đất
đai là tài nguyên có hạn về số lượng và không có khả năng tái sinh; đất đai có vị trí cố
định trong không gian, không thể di chuyển theo ý muốn chủ quan của con người... Chính
từ đặc trưng hạn chế về số lượng, không có khả năng tái sinh và di chuyển được đã làm
cho đất đai được đặt đúng giá trị của nó. Vấn đề đặt ra là sử dụng đất đai làm sao cho hiệu
quả, khoa học.Đó chính là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh
tế phát triển bền vững.
Ở nước ta đất đai có đặc điểm là thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu. Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền định đoạt đối với đất đai. Nhà nước không
trực tiếp khai thác, sử dụng đất đai mà trao quyền sử dụng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân trên cơ sở thiết lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước đối với người sử dụng
trong việc sử dụng đất là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).
Có thể nói rằng, GCNQSDĐ đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác quản lý
Nhà nước về đất đai. Thông qua công tác đăng ký, cấp GCNQSDĐ, Nhà nước thực hiện
việc quản lý quỹ đất đai, bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của người sử dụng đất,kịp
thời phát hiện những vi phạm,thiếu sót, giúp cho người sử dụng đất có thể yên tâm đầu tư,
khai thác trên mảnh đất của họ. Thông qua đó, Nhà nước có thể thu được một khoản thuế
từ người sử dụng đất đai, góp phần tăng thêm ngân sách, phục vụ lợi ích quốc gia.Bên
cạnh đó,GCNQSDĐ còn là một giấy tờ pháp lý quan trọng trong các giao dịch dân sự về
đất đai,xác thực quyền sở hữu của mảnh đất được giao dịch.Vì vậy,đẩy nhanh tiến độ công
tác cấp GCNQSDĐ sẽ là tiền đề cho sự phát triển lành mạnh, công khai minh bach của thị
trường bất động sản nước ta, qua đó tăng cường thiết chế Nhà nước trong việc quản lý đất
đai và bất động sản,góp phần phát triển kinh tế xã hội đặc biệt trong quá trình phát triển
kinh tế và hội nhập như hiện nay.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc đang phát triển,với lợi thế về vị
trí địa lý, điều kiện tự nhiên, Thái Nguyên đã và đang có nhiều thuận lợi để phát triển
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề có nội dung
chính được trình bày như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về công tác đăng kí, cấp GCNQSDĐ
Chương II: Thực trạng công tác đăng kí, cấp GCNQSDĐ trên địa bàn Thành phố
Thái Nguyên
Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ trên địa bàn
Thành phố Thái Nguyên
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.s.Vũ Thị Thảo cùng các anh chị trong phòng
Quản lý Đất Đai –Sở Tài Nguyên &Môi Trường tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện,tận
tình giúp đỡ để em hoàn thành chuyên đề này.
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
3
CHƯƠNG I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ,CẤP GIẤY
CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 Khái niệm, sự cần thiết của công tác đăng kí và cấp GCNQSDĐ
1.1.1 Khái niệm GCNQSDĐ
Theo điều 48 Luật đất đai 2003 và Điều 41 Nghị định 181/NĐ-CP/2004, GCNQSDĐ
là chứng thư pháp lí xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất đối với
mảnh đất nhằm mục đích đầu tư, cải tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thực hiện các
quyền, nghĩa vụ sử dụng đất theo pháp luật. Theo khoản 20 Điều 4 Luật đất đai 2003:
GCNQSDĐ là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử
dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
1.1.2 Sự cần thiết của công tác đăng kí, cấp GCNQSDĐ
Đất đai là một tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện cần cho sự tồn tại và
phát triển của con người.Trong hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp, đất
đai là nguồn tài nguyên, nguồn lực, là một yếu tố đầu vào không thể thiếu. Diện tích đất
đai là có hạn,vì vậy ,để quản lí quỹ đất đai đòi hỏi Nhà nước phải có những biện pháp
chính sách thích hợp.Đăng ký, cấp GCNQSDĐ là một trong những nội dung của công tác
quản lý Nhà nước về đất đai,thực hiện tốt công tác này một mặt giúp cho Nhà nước quản lí
sự đồng bộ nhịp nhàng về: đo đạc lập bản đồ đối chiếu, quy hoạch sử dụng đất, giao đất
cho thuê đất, phân hạng và quy định giá đất… Thông qua việc kiểm tra, giám sát quản lý,
sử dụng đất đai, Nhà nước nắm chắc tình hình diễn biến về sử dụng đất đai và xây dựng,
cải tạo, phát triển nhà ở, phát hiện những vi phạm và giải quyết những vi phạm pháp luật
về đất đai và nhà ở; làm căn cứ khoa học nhằm sử dụng đất đai đạt hiệu quả cao nhất về
kinh tế và xã hội.Không có những biện pháp quản lý của Nhà nước,cá nhân tự do lựa
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
5
chọn mục đích sử dụng đất thì hiệu quả lợi ích công cộng và xã hội sẽ không được đảm
bảo,Nhà nước đứng trên giác độ tập thể mới có thể đưa ra quyết định để đảm bảo được.
1.1.2.3.Đăng kí, cấp GCNQSDĐ là nội dung quan trọng có quan hệ với các nội
dung khác của quản lí Nhà nước về đất đai.
Đăng kí và cấp GCNQSDĐ sẽ góp phần thiết lập nên hồ sơ địa chính với đầy đủ các
thông tin về từng thửa đất. Hệ thống các thông tin đó chính là sản phẩm của các nội dung,
nhiệm vụ quản lí Nhà nước về đất đai khác như:
- Xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy về sở hữu,quản lí và sử dụng đất.Từ
những văn bản tạo ra cơ sở,cơ chế để làm việc,và cơ sở để ra các quyết định,văn bản
khác.Trong quá trình thực hiện việc đăng ký,mới bộc lộ rõ những vấn đề bất cập ,vướng
mắc phát sinh và cần phải điều chỉnh,sửa đổi văn bản cho phù hợp với tình hình thực tế.
- Công tác kiểm tra đo đạc, thành lập bản đồ địa chính,xác định địa giới hành
chính,điều tra đo đạc ,đánh giá phân hạng và lập bản đồ hiện trạng,bản đồ quy hoạch.
- Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thông qua những thông tin từ đăng ký
CGCNQSDĐ để nắm được tình hình sử dụng đất hiện nay như thế nào.
- Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất.
- Công tác thống kê, kiểm kê đất đai dựa trên số liệu đăng ký.
- Công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
-Công tác quản lý tài chính về đất đai
Do đó để đảm bảo việc đăng kí và cấp GCNQSDĐ có chất lượng, đáp ứng yêu cầu kĩ
thuật thì phải triển khai thực hiện đồng bộ các nội dung trên. Mặt khác hoàn thành tốt
nhiệm vụ đăng kí và cấp GCNQSDĐ không chỉ tạo tiền đề mà còn là cơ sở hết sức cần
1.2.1.1. Đảm bảo chặt chẽ về mặt pháp lý
Đăng ký đúng đối tượng, diện tích trong hạn mức đất được giao, đúng mục đích sử
dụng, thời hạn sử dụng, xác định đúng quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Thực hiện đầy đủ thủ tục, tuân thủ mọi quy định của pháp luật, đảm bảo không có kẽ hở vi
phạm pháp luật,tránh tranh chấp và khiếu nại về sau. Đất đai là tài sản của Nhà nước, sử
dụng đúng mục đích, đúng pháp luật cũng là cơ sở để bảo vệ quyền lợi người sử dụng
đất.Xác định đúng đối tượng được giao và cho thuê đất,chặt chẽ và chính xác về diện tích sử
dụng,thời hạn sử dụng,điều này đòi hỏi những cán bộ công tác đăng ký CGCNQSDĐ phải
hiểu các quy định của pháp luật liên quan và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
1.2.1.2. Đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật
Tiêu chuẩn kỹ thuật là các mức chuẩn về những thao tác được thực hiện trong quá
trình đăng ký đất đai.Đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Tổng cục quản
lý đất đai với chất lượng cao nhất về các loại thông tin: diện tích, hình thể, kích thước
từng thửa, hạng đất,những công việc này hết sức phức tạp đòi hỏi kỹ năng ,chuyên môn
của các cán bộ Địa Chính nhằm bảo đảm thông tin chính xác.
Diện tích là thông tin quan trọng làm cơ sở xác định quyền lợi và nghĩa vụ sử dụng đất theo
quy định của pháp luật. Để có các thông tin về diện tích thửa đất, người ta thực hiện việc đo, tính
trực tiếp từ số đo ngoài thực địa hoặc đo vẽ và tính trên bản đồ.
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
7
Hình thể thửa đất là thông tin thể hiện bằng bản đồ dùng để nhận dạng thửa đất. Độ
chính xác đo vẽ hình thể thửa đất trên bản đồ ảnh hưởng lớn tới độ chính xác của thông tin
thửa đất.
Kích thước thửa đất là thông tin quan trọng không chỉ trên cơ sở toán học nhằm đảm
bảo cho độ chính xác hình thể và diện tích thửa đất, mà còn hết sức cần thiết trong quản lý
đất đai, nhất là việc thanh tra và giải quyết tranh chấp sử dụng đất, đồng thời có thể khắc
phục được những hạn chế của bản đồ khi xác định kích thước cạnh do điều kiện tỷ lệ đo
đạc.
Độ chính xác của các thông tin về diện tích, hình thể kích thước thửa đất hoàn toàn
phụ thuộc vào các điều kiện như: năng lực, trình độ chuyên môn, phương pháp đo và
- Tổ chức có tư cách pháp nhân trong nước sử dụng đất do người đứng đầu hoặc người
được người đứng đầu của tổ chức đó ủy quyền đại diện thực hiện việc kê khai, đăng ký
quyền sử dụng đất. Tổ chức trong nước bao gồm: cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị xã hội, tổ chức hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế.
- Đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng đất do thủ trưởng hoặc người được thủ trưởng của
đơn vị đầu mối Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ủy quyền đại diện thực hiện việc kê khai,
đăng ký quyền sử dụng đất.
- Cơ sở tôn giáo sử dụng đất do người đứng đầu thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền
sử dụng đất.
- Cộng đồng dân cư sử dụng đất có các công trình đình, đền, am, miếu, từ đường, nhà
thờ họ hoặc các công trình khác phục vụ lợi ích công cộng của cộng đồng, cử người đại
diện thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất.
- Tổ chức có tư cách pháp nhân nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam do người đứng
đầu hoặc người được người đứng đầu của tổ chức đó ủy quyền đại diện thực hiện việc kê
khai, đăng ký quyền sử dụng đất.
-Tổ chức chưa có tư cách pháp nhân do tổ chức chủ quản của tổ chức đó nếu có tư
cách pháp nhân đứng ra thực hiện việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
- Cá nhân nước ngoài đầu tư có sử dụng đất tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất.
-Đất thuộc quỹ đất công ích xã(5%) do UBND xã đứng tên chủ sử dụng
- Việc ủy quyền thực hiện kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất phải bằng văn bản; đối
với hộ gia đình, cá nhân, văn bản ủy quyền phải có chứng thực của UBND cấp xã nơi cư
trú.
* Diện tích đất kê khai :Bao gồm toàn bộ diện tích mà các tổ chức,cá nhân ,hộ gia
đình hiện đang sử dụng cho các mục đích khác nhau,cụ thể:
- Người đang sử dụng đất có trách nhiệm kê khai toàn bộ diện tích đất đang sử dụng,
đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao, cho thuê sử dụng; kể cả diện tích cho
người khác thuê, mượn, diện tích đất chưa đưa vào sử dụng, diện tích sử dụng đang có
tranh chấp với người khác, diện tích đất của các tổ chức giao cho cán bộ nhân viên làm nhà
ở nhưng chưa bàn giao cho các địa phương quản lý.
do các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất;
- Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết
định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
- Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;
- Người sử dụng đất quy định tại các điều 90, 91 và 92 của Luật đất đai 2003;
- Người mua nhà ở gắn liền với đất ở;
- Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở;
- Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
1.2.2.3. Những trường hợp không được cấp GCNQSDĐ
- Lấn chiếm đất công, đất chưa sử dụng kể từ ngày UBND phường, xã, thị trấn tiếp
nhận, quản lý hồ sơ, quản lý diện tích đất công, đất chưa sử dụng.
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
10
- Tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng nhà ở sau ngày
09/4/2002.
- Đã có quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án theo quy hoạch.
- Lấn chiếm đất lưu thông giữa các nhà chung cư.
- Các trường hợp mua bán, chuyển nhượng, cho, tặng mà đất đó nằm trong hành lang
bảo vệ các công trình hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, cầu cống, đê điều, di tích lịch sử,
văn hóa, an ninh quốc phòng tại thời điểm sau khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban
hành văn bản quy định về phạm vi, hành lang bảo vệ công trình nói trên. Thời điểm mua
bán, chuyển nhượng, cho, tặng do UBND xã, phường, thị trấn xác nhận.
-Đất có nguồn gốc không hợp pháp,vi phạm pháp luật sẽ không được cấp giấy chứng
nhận.
1.2.3. Thẩm quyền xét duyệt cấp GCNQSDĐ
- UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm xem xét tính đầy đủ hợp lệ của hồ sơ
đăng ký, xác nhận và đề xuất kiến nghị vào từng hồ sơ xin đăng ký quyền sử dụng đất về
các vấn đề:
+ Hiện trạng: vị trí, diện tích, loại đất…
án và lên kế hoạch tổ chức kê khai đăng ký đồng thời chuẩn bị các biểu mẫu tài liệu bản
đồ cần thiết cho công tác kê khai. Cán bộ làm công tác kê khai đăng ký phổ biến và hướng
dẫn cho chủ sử dụng đất cách đo vẽ, khai báo và các tài liệu đi kèm, đồng thời phổ biến
nơi bán hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ.
Chủ sử dụng đất phải kê khai đầy đủ, rõ ràng nội dung theo đúng với mẫu quy định,
chuẩn bị đầy đủ các tài liệu liên quan đến việc đăng ký cấp GCNQSDĐ và nộp hồ sơ tại
đúng nơi quy định.
Theo Luật đất đai 2003 quy định, hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ bao gồm:
- Đơn xin cấp GCNQSDĐ (theo mẫu của Bộ Tài nguyên và Môi trường).
- Các loại giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất(giấy tờ về nguồn gốc,biên bản xác
nhận ranh giới,mốc giới thửa đất….)
- Hộ khẩu thường trú,bản sao chứng minh thư nhân dân
- Văn bản ủy quyền xin cấp GCNQSDĐ (nếu là trường hợp ủy quyền)
-Đơn xin ghi nợ nghĩa vụ tài chính
Cán bộ địa chính phường có trách nhiệm thẩm tra,xác minh nguồn gốc,thời hạn ,đất
có tranh chấp hay không…đồng thời phối hợp với cán bộ của các đơn vị đo vẽ bản đồ địa
chính tại các phường, lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất để các hộ gia đình làm cơ sở kê khai
đăng kí,hướng dẫn chủ sử dụng đất chuẩn bị tất cả tài liệu liên quan đảm bảo cho việc kê
khai đăng kí kịp thời, hợp lệ, hợp lý tuân thủ đúng tiêu chuẩn Nhà nước đề ra. Việc kê khai
đăng kí này phải được thực hiện từ dưới cấp cơ sở là cấp phường đối với tất cả các loại đất
thuộc loại đối tượng phải kê khai đăng kí cấp GCNQSDĐ.
Sau khi chủ sử dụng đất đã kê khai, đăng kí cấp GCNQSDĐ tại phường, phường
thành lập Hội đồng xét cấp GCNQSDĐ và nhiệm vụ của Hội đồng này sẽ tổ chức xét
duyệt các hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ đó.
1.2.4.2. Phân loại và xét duyệt hồ sơ cấp phường
Theo Luật đất đai 2003, Quyết định 23/2005/QĐ-UB ngày 19/02/2005 của tỉnh Thái
Nguyên, việc phân loại và xét duyệt hồ sơ cấp xã, phường, thị trấn thực hiện như sau:
UBND xã, phường, thị trấn tổ chức thành lập Hội đồng đăng ký đất và tổ đăng ký đất.
Hội đồng đăng ký đất là tổ chức tư vấn chochủ tịch UBND xã, phường, thị trấn trong việc
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
và lập hồ sơ đầy đủ cho từng chủ sử dụng đất; sơ bộ phân loại hồ sơ theo mức độ hoàn
thiện, đầy đủ hoặc chưa đầy đủ, hợp lệ hoặc chưa hợp lệ, rõ ràng hoặc chưa rõ ràng về
nguồn gốc sử dụng đất.
- Tổ chức hội nghị xét đơn: trong quá trình xét duyệt, Hội đồng đăng ký đất họp dưới
sự điều khiển của chủ tịch hội đồng để xem xét từng đơn kê khai, đăng ký trên cơ sở hồ
sơ, tài liệu của chủ sử dụng đất đã được tổ chuyên môn giúp việc chuẩn bị, thẩm tra phân
loại. Hội đồng có thể xét duyệt đồng loạt nhiều hồ sơ đăng ký (trong trường hợp tổ chức
kê khai đồng loạt), hoặc xét duyệt cho một số ít hồ sơ (trong trường hợp kê khai đăng ký
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
13
đơn lẻ). Trên cơ sở kết quả xét đơn của chủ sử dụng đất, Hội đồng đăng ký đất xác định và
phân loại hồ sơ theo các trường hợp:
+ Trường hợp đủ điều kiện đăng ký và đề nghị được cấp GCNQSDĐ.
+ Trường hợp chưa đủ điều kiện đăng ký cấp GCNQSDĐ, phải bổ sung, xác minh lại
mới được đăng ký, cấp GCNQSDĐ.
+ Trường hợp không được đăng ký cấp GCNQSDĐ.
Kết quả làm việc của Hội đồng đăng ký đất được ghi lại bằng biên bản.
- Công bố công khai hồ sơ xét duyệt
Trên cơ sở nghiên cứu kết luận của Hội đồng đăng ký đất và các quy định của pháp
luật, UBND xã, phường, thị trấn xác nhận vào đơn đăng ký của từng chủ sử dụng đất và
thực hiện công bố công khai kết quả đã xét duyệt để mọi người dân được tham gia ý kiến.
Thời gian công bố công khai là 15 ngày, hết thời hạn này UBND xã, phường, thị trấn lập
biên bản kết thúc việc công bố công khai hồ sơ.
- Lập hồ sơ kết quả xét đơn đăng ký cấp xã để trình lên Phòng Tài nguyên và Môi
trường. Hồ sơ gồm:
+ Hệ thống đơn xin đăng ký của từng chủ sử dụng đất đã được ghi ý kiến của UBND xã,
phường, thị trấn kèm theo giấy tờ có liên quan đến nguồn gốc sử dụng đất.
+ Bản đồ địa chính.
+ Hồ sơ kỹ thuật thửa đất, biên bản xác định ranh giới thửa đất.
+ Biên bản xét duyệt của hộ đồng đăng ký đất.
GCNQSDĐ và chịu trách nhiệm trước UBND về kết quả kiểm tra. Đồng thời trình UBND
những trường hợp đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ. Sau khi có quyết định cấp GCNQSDĐ
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm
ra thông báo và chuyển quyết định cấp GCNQSDĐ đó xuống các phường để phường phát
quyết định cho chủ sử dụng đất có trong quyết định.
Sau khi có quyết định cấp GCNQSDĐ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chủ sử
dụng đất sẽ mang theo quyết định này đến Văn phòng đăng kí đất và nhà kê khai và nộp
hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính.
Theo Luật đất đai 2003, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ
về thi hành Luật đất đai, Quyết định 23/2005/QĐ-UB ngày 19/02/2005 của tỉnh Thái
Nguyên:
- UBND cấp huyện,thành phố sẽ kí duyệt và cấp GCNQSDĐ cho các đối tượng thuộc
thẩm quyền UBND cấp huyện cấp. Bao gồm các trường hợp sau:
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất.
+ Cộng đồng dân cư sử dụng đất.
+Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.
-Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện theo ủy quyền đối với GCNQSDĐ do
UBND tỉnh cấp. Bao gồm các đối tượng sau:
+ Tổ chức trong nước sử dụng đất.
+ Cơ sở tôn giáo.
+ Cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Đối với trường hợp khi phát hiện nội dung ghi trên GCNQSDĐ có sai sót thì Sở Tài
nguyên và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra, đính chính đối với GCNQSDĐ do UBND
tỉnh cấp. Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra, đính chính đối với
GCNQSDĐ do UBND quận (huyện) cấp.
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
15
Việc thu hồi hay cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp nào có thẩm quyền
cấp mới thì có quyền thu hồi và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
1.2.4.5. Chủ sử dụng đất hoàn thành nghĩa vụ tài chính và nhận GCNQSDĐ
1.3.1.Chính sách pháp luật về đất đai
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
16
Trong giai đoạn hiện nay,việc xây dựng và kiện toàn hệ thống pháp luật luôn được
Đảng và Nhà nước đã được đặt lên hàng đầu. Hệ thống pháp luật nói chung và Luật đất đai
nói riêng của nước ta ngày càng hoàn thiện, nhiều chính sách về đất đai đã được xây dựng
và liên tục đổi mới nhằm giải quyết các vấn đề đất đai phát sinh.
Tuy vậy,thực trạng đặt ra trong Luật đất đai 2003 cũng như trong các văn bản pháp
luật khác là sự thiếu đồng bộ, ăn khớp giữa việc thực hiện các văn bản này. Việc thi hành
Luật đất đai phải chờ các văn bản hướng dẫn thi hành Luật gây tâm lý chờ đợi ở cơ quan
thi hành Luật,sự e dè,tâm lý hoang mang của người sử dụng đất khi tiếp cận với một chính
sách mới. Bên cạnh đó, chính sách về đất đai chưa hoàn toàn phát huy đầy đủ vai trò điều
tiết thúc đẩy và phát triển thị trường bất động sản ở nước ta đã tạo ra những rào cản đối
với các doanh nghiệp và người sử dụng đất. Việc quản lý Nhà nước về đất đai một cách
chặt chẽ và có hiệu quả đòi hỏi Nhà nước phải tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ hệ thống
pháp luật về đất đai cũng như hệ thống pháp luật khác.
Hệ thống văn bản pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, các văn bản do cơ
quan cấp dưới ban hành phải đảm bảo thống nhất với các văn bản của cấp trên, các văn
bản của cấp trên phải thể hiện được nguyện vọng và lợi ích của cấp dưới, hệ thống văn bản
phải thống nhất với nhau,phối hợp nhịp nhàng tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng
đất. Mặt khác, hệ thống văn bản phải đảm bảo sự ổn định thể hiện được quan điểm của cấp
trên đối với cấp dưới một cách lâu dài, tránh tình trạng các văn bản ban hành được một
thời gian mới thấy không phù hợp với thực tế phải điều chỉnh, bổ sung hoặc xóa bỏ làm
cho người dân thi hành quy định không kịp ứng phó với những thay đổi trong quy định của
Nhà nước gây ra tình trạng vi phạm,lợi dụng thời cơ để lách luật… do đó gây ra tâm lý e
ngại và mất lòng tin vào các cơ quan Nhà nước cũng như vào thị trường bất động sản minh
bạch.
Mặt khác, nếu hệ thống văn bản pháp luật được ban hành đảm bảo tính đồng bộ và
đúng đắn nhưng không được phổ biến đến người dân thì nó cũng không phát huy được tác
dụng, do đó ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản thì các địa phương mà
nước về đất đai của cấp dưới ảnh hưởng đến công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ của
cấp trên do đó đòi hỏi sự ăn khớp, phối hợp nhịp nhàng và trình độ chuyên môn cao để
tránh xảy ra sai sót. Trên thực tế hiện nay ở nhiều địa phương, nhất là cấp chính quyền cơ
sở chưa thực hiện nghiêm các quy định về quản lý đất đai,tình trạng lãnh đạo xã, phường
bao che, dung túng cho những cá nhân sai phạm vẫn diễn ra.Nhiều gia đình lấn chiếm đất
công, đất của người khác rồi được cơ quan “tiếp tay” làm thủ tục cấp sổ đỏ,thậm chí nhiều
người ngang nhiên chiếm đoạt đất thuê, mượn gây khó khăn cho hoạt động của cán bộ cấp
trên hoặc trình độ chuyên môn kém gây chậm trễ trong việc đăng ký và cấp GCNQSDĐ.
Công tác quản lý và sử dụng đất đai là một trong những lĩnh vực trọng tâm của ngành
Tài nguyên và Môi trường. Lĩnh vực này có nhiều vấn đề nhạy cảm ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống của người dân và chiến lược phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu đảm bảo
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
18
phát triển bền vững. Yêu cầu đặt ra cho ngành quản lý đất đai là phải tiếp tục tăng cường
củng cố công tác quản lý đất đai ở các cấp; đảm bảo về kinh phí, nâng cao hoạt động kiểm
tra, đôn đốc nhất là củng cố về tổ chức, bộ máy quản lý đất đai các cấp để đáp ứng nhiệm
vụ trong thời kỳ mới.
1.3.4. Sự hiểu biết pháp luật về đất đai của người dân
Đất đai là tài sản lớn với mỗi người dân vì vậy vấn đề liên quan đến đất đai luôn là
vấn đề lớn của mọi người dân có thể gây bức xúc cả về phương diện lý luận và thực tiễn,
trong việc đưa ra các chính sách và thực thi chính sách, đối với người dân cũng như với
các cấp chính quyền.
Sự hiểu biết của người dân đối với vấn đề quản lý đất đai rất quan trọng vì người
dân có nắm rõ về luật và các quy định hiện hành thì mới giúp cho cán bộ địa chính dễ
dàng xử lý hồ sơ và các công tác liên quan đến việc đăng ký đất đai, tiến trình cấp
GCNQSDĐ. Phần lớn số các vụ khiếu kiện phức tạp, khó giải quyết; số cán bộ có khuyết
điểm, làm sai bị kỷ luật nhiều hơn cả cũng là các vấn đề liên quan đến đất đai.
Bên cạnh đó,công tác tuyên truyền và hướng dẫn người sử dụng đất kê khai, đăng ký phải
được tiến hành tốt hơn nữa nhằm giảm thiểu số hồ sơ đã kê khai đăng ký không đủ điều
kiện.Giải quyết tốt vấn đề này sẽ mang lại hai lợi ích: Thứ nhất, người sử dụng đất sẽ không
đến 22
0
27
’
vĩ độ Bắc và
105
0
25’ đến 106
0
14
’
kinh độ Đông, nằm cách trung tâm Hà Nội 80 km về phía Bắc, có giới
hạn: Phía Bắc giáp: Huyện Đại Từ, huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ. Phía Nam giáp:
Thị xã Sông Công. Phía Tây giáp: Huyện Đại Từ. Phía Đông nam giáp: Huyện Phú
Bình.Thành phố Thái Nguyên cách sân bay Quốc tế Nội bài 52 km về phía Bắc. Có Quốc
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
20
lộ 3 nối Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Cạn - Cao Bằng. Quốc lộ 1B đi Lạng Sơn. Quốc Lộ
37 đi Bắc Giang, Tuyên Quang.
Địa hình của thành phố Thái Nguyên được coi như là miền đồng bằng riêng của tỉnh
Thái Nguyên. Đây là miền có độ cao thấp nhất, ruộng đất tập trung ở hai bên bờ sông Cầu
và sông Công, được hình thành bởi sự bồi tụ phù sa của hai con sông này. Tuy nhiên, vùng
này vẫn mang tính chất, dáng dấp của địa mạo trung du với kiểu bậc thềm phù sa và bậc
thang nhân tạo, thềm phù sa mới và bậc thềm pha tích (đất dốc tụ). Địa hình của vùng này
gồm có những đồi, gò thoải, bát úp xen kẽ nhau. Độ dốc từ 8
o
- 25
o
chiếm không đáng kể,
phần lớn diện tích có độ dốc nhỏ hơn 8
hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công.
- Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lưu vực 3.480 km
2
bắt nguồn từ
chợ Đồn chảy theo hướng Bắc - Đông Nam.
- Ngoài ra, thành phố Thái Nguyên còn có trữ lượng nước ngầm khá lớn nhưng việc
khai thác sử dụng còn hạn chế.
Như vậy, khí hậu thành phố Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh
thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho việc phát triển ngành nông - lâm nghiệp, là nguồn nguyên
liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm.
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
21
2.1.1.3.Tài nguyên thiên nhiên
Thành phố Thái Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú.Bao
gồm:
-Tài nguyên đất: so với diện tích đất tự nhiên thì tổng diện tích đất phù sa không được
bồi hàng năm với độ trung tính ít chua là 3.125,35ha, chiếm 17,65% so với tổng diện tích
tự nhiên; đất phù sa không được bồi hàng năm, chua, glây yếu có 100,19ha, chiếm 0,75%
tổng diện tích đất tự nhiên được phân bổ chủ yếu ở phường Phú Xá; đất phù sa ít được bồi
hàng năm trung tính ít chua có 379,84ha, chiếm 2,35% tổng diện tích đất tự nhiên; đất
(Pcb1) bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nhẹ có
271,3ha, chiếm 1,53%; đất (Pcb2) bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit
trên nền cơ giới nặng có 545,6ha, chiếm 3,08%...
-Tài nguyên rừng: rừng ở Thái Nguyên chủ yếu là rừng nhân tạo và rừng trồng theo
chương trình 327, rừng trồng theo chương trình PAM, vùng chè Tân Cương cùng với các
loại cây trồng của nhân dân như cây nhãn, vải, quýt, chanh... Cây lương thực chủ yếu là
cây lúa nước, ngô, đậu... thích hợp và phát triển ở những vùng đất bằng trên các loại đất
phù sa, đất mới phát triển, đất glây trung tính ít chua.
-Tài nguyên khoáng sản: 2 tuyến sông lớn chảy qua (sông Cầu và sông Công), do đó
cung cấp cho thành phố một lượng cát, sỏi phục vụ xây dựng khá lớn, đủ đáp ứng nhu cầu
Sự phát triển của 3 nhóm ngành kinh tế lớn và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
Thành phố theo hướng hiện đại cho thấy Thành phố đã từng bước đi vào khai thác lợi thế
so sánh của một đô thị, trung tâm kinh tế lớn của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ. Tỷ
trọng của khối phi nông nghiệp tăng lên và khối nông nghiệp giảm dần. Cụ thể, tỷ trọng
của khu vực phi nông nghiệp tăng từ 94,02% (năm 2010) lên 94,66% (năm 2011) trong khi
tỷ trong khu vực nông nghiệp giảm tương ứng từ 5,98% (năm 2010) xuống 5,34% (năm
2011).
Tiêu chuẩn 2009 2010 2011
Công nghiệp, xây dựng (%) 49,72 48,50 47,78
Dịch vụ (%) 45,19 45,52 46,88
Nông, Lâm và Ngư nghiệp (%) 5,09 5,98 5,34
Nguồn: Phòng Thống kê TPTN
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
23
- Về thương mại và dịch vụ
Các thế mạnh về thương mại, dịch vụ, du lịch được khai thác hiệu quả, phát triển đa
dạng, phong phú cả về quy mô, hình thức góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ngày
càng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế. Các ngành dịch vụ như tài chính, ngân
hang, bảo hiểm, y tế, giáo dục, vận tải, bưu chính viễn thông, chứng khoán được quan tâm
tạo điều kiện phát triển và ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân.
- Về du lịch
Thành phố là đầu mối của các tuyến, tua du lịch, do vậy các khu vui chơi giải trí, hệ
thống nhà hàng khách sạn liên tục được đầu tư nâng cấp, xây mới, đáp ứng nhu cầu tham
quan, nghỉ dưỡng của du khách.
- Về nông - lâm nghiệp
Sản xuất nông nghiệp ổn định và phát triển nhưng tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế của
Thành phố ngày càng giảm, từ 5,72% năm 2009 xuống còn 5,34 năm 2011; Giá trị tăng
thêm do ngành nông nghiệp tạo ra trong GDP của Thành phố tăng 6,2% / năm. Giá trị sản
xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2011 đạt 373,2 tỷ đồng. Tỷ trọng ngành trồng trọt
trong giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 52%, ngành chăn nuôi chiếm 31,5%, ngành dịch
tuyến đương tránh TP.Thái Nguyên, hiện tuyến đường này đã được đưa vào sử dụng.
Thành phố Thái Nguyên có 2 hệ thống đường sắt chính: Hà Nội - Quan Triều và vàLưu Xá
- Kép, ngoài ra còn có tuyến Quan Triều - Núi Hồng chuyên dùng để chở khoáng sản.
thành phố còn là cửa ngõ đi các tỉnh Đông Bắc như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên
Quang, Lạng Sơn.Thành phố hiện có 1 bến xe khách tại khu vực trung tâm. Dự kiến trong
tương lai, thành phố sẽ có 3 bến xe khách: Bến xe trung tâm, Bến xe phía Bắc, Bến xe phía
Nam.
2.1.2.3.Văn hóa xã hội
-Giaó dục:Thành phố là nơi tập trung của rất nhiều các trường đại học và cao đẳng lớn
thuộc các bộ ngành khác nhau,ngoài ra còn có rất nhiều trung tâm,Viện nghiên cứu để phục
vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy.Toàn thành phố có 14 trường trung học
phổ thông,18 trường tiểu học và 25 trường mẫu giáo,chất lượng giáo dục đào tạo không
ngừng được nâng cao và về cơ bản đã đáp ứng được đủ quy mô học sinh trên địa bàn.
-Y tế:Thái Nguyên là trung tâm y tê của khu vực miền núi phía Bắc với rất nhiều trung
tâm ,bệnh viện lớn có chất lượng và uy tín,bao gồm 15 bệnh viện và 4 trung tâm với đội
ngũ y bác sỹ tận tình,hết lòng vì người bệnh.
-Văn hóa: Thành phố Thái Nguyên là trung tâm du lịch của tỉnh Thái Nguyên và các
tỉnh miền núi phía Bắc. Nơi đây có khu du lịch Hồ Núi Cốc nổi tiếng với nhiều danh lam
thắng cảnh đẹp, có Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam mới được tổ chức SIDA Thuỵ
Điển tài trợ sửa chữa, nâng cấp, là nơi lưu giữ hầu hết các di sản mang đậm bản sắc của
các dân tộc Việt Nam, làng nghề chè Tân Cương nổi tiếng, đền thờ Đội Cấn và 91 di tích
lịch sử văn hoá khác hàng năm thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước ghé thăm.
2.1.2.4.Dân số và nguồn lao động
SV Trần Thu Thủy –Lớp Kinh tế và Quản lý Địa Chính K50
25
-Dân số:Tính đến 31/12/2011, dân số (bao gồm cả thường trú và quy đổi) toàn Thành
phố là 330.707 người; trong đó, dân số nội thị (bao gồm 19 phường) là 288.077 người
chiếm 77,43% tổng dân số toàn Thành phố (bao gồm dân số thường trú là 201.277 người
và dân số quy đổi là 86.800 người, dân số ngoại thị (bao gồm 9 xã) là 83.973 người chiếm
22,57% tổng dân số toàn Thành phố (bao gồm dân số thường trú là 78.433 người và dân số