giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại ngân hàng Đầu tư & Phát triển hà nội - Pdf 24

Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
Mục lục
Mục lục 1
Lời mở đầu 3
Chơng 1 5
nguồn vốn và các nhân tố ảnh hởng tới khả 5
năng huy động vốn của Ngân hàng thơng mại 5
1.1 những hoạt động cơ bản của ngân hàng thơng mại 5
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM 5
1.1.2 Chức năng và vai trò của ngân hàng thơng mại 7
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thơng mại trong nền kinh tế 11
1.2 nguồn vốn của Ngân hàng thơng mại 14
1.2.1 Cơ cấu và nguồn hình thành nên nguồn vốn của NHTM 14
1.2.2 Tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với hệ thống NHTM 23
1.2.3 Nguyên tắc và mục tiêu trong công tác huy động vốn của NHTM 24
1.3 các nhân tố ảnh hởng tới khả năng huy động vốn của Ngân hàng thơng mại
27
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài Ngân hàng 27
1.3.2 Các nhân tố thuộc về Ngân hàng 29
Chơng 2 33
thực trạng công tác huy động vốn của chi nhánh 33
ngân hàng đầu t và phát triển thành phố hà nội 33
2.1 khái quát chung về chi nhánh Ngân hàng đầu t và phát triển thành phố hà
nội 33
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Ngân hàng Đầu t và
Phát triển Hà nội 33
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ngân hàng Đầu t và Phát triển Hà nội
34
2.1.3 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng đầu t và Phát triển Hà nội 35
2.1.4 Kết quả đạt đợc từ các hoạt động của Ngân hàng Đầu t và Phát triển
Hà nội trong những năm gần đây 36

ảnh tốt về Ngân hàng 65
3.3 một số kiến nghị nhằm thực hiện các giải pháp tăng cờng công tác huy
động vốn tại chi nhánh Ngân hàng đầu t và phát triển hà nội 66
3.3.1 Kiến nghị với nhà nớc 66
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nớc 68
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng ĐT&PT Việt nam 71
Kết luận 72
Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
Lời mở đầu
Vốn là điều kiện tiền đề cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung.
ở việt nam hiện nay, vốn đang trở thành một vấn đề cấp thiết cho quá trình tăng tr-
ởng và phát triển nền kinh tế đất nớc. Tuy nhiên để huy động đợc khối lợng vốn lớn
từ nền kinh tế trong nớc là một thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt nam nói
chung và đối với hệ thống Ngân hàng thơng mại nói riêng. Trong điều kiện thị tr-
ờng chứng khoán phát triển cha tơng xứng với nhu cầu rất lớn của nền kinh tế thì
quá trình nhận và điều chuyển vốn trên thị trờng chủ yếu đợc thực hiện thông qua
hệ thống Ngân hàng thơng mại_Nơi tích tụ, tập trung, khơi dậy và động viên các
nguồn lực cho sự phát triển nền kinh tế đất nớc và trên thực tế ở nớc ta có hơn 80%
lợng vốn trong nền kinh tế là do hệ thống Ngân hàng cung cấp. Điều này cho thấy,
việc tăng cờng công tác huy động vốn, đảm bảo chất lợng và số lợng vốn luôn là
vấn đề đợc quan tâm hàng đầu trong quá trình hoạt động của bất kỳ một NHTM
nào.
Là một thành viên của hệ thống Ngân hàng Việt nam, Ngân hàng ĐT&PT Hà
nội phải chung sức thực hiện nhiệm chung của toàn ngành, làm thế nào để huy
động đợc vốn đáp ứng cho sự nghiệp Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nớc, phát
triển kinh tế địa phơng là một vấn đề đang đợc Ngân hàng rất quan tâm.
Trong thời gian học tập tại trờng và thực tập tại Ngân hàng ĐT&PT Hà nội,
em nhận thấy công tác huy động vốn luôn giữ vị trí rất quan trọng đối với hệ thống
NHTM trong việc đáp ứng vốn cho đầu t phát triển kinh tế, góp phần thực hiện chủ

Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
Chơng 1
nguồn vốn và các nhân tố ảnh hởng tới khả
năng huy động vốn của Ngân hàng thơng mại
1.1 những hoạt động cơ bản của ngân hàng thơng mại
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM
1.1.1.1 Định nghĩa ngân hàng thơng mại
Để đa ra một định nghĩa về Ngân hàng thơng mại ngời ta thờng phải dựa vào
tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trờng tài chính. Theo luật Ngân
hàng Pháp năm 1941 định nghĩa: Đợc coi là Ngân hàng là những xí nghiệp hay
cơ sở nào hành nghề thờng xuyên nhận của công chúng dới hình thức ký thác
hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ, chiết
khấu hay tài chính.
ở nớc ta trong bớc chuyển đổi sang kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà n-
ớc, Thực hiện nhất quán kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, mọi ngời đợc tự do kinh doanh theo pháp luật, đợc bảo hộ quyền sở hữu và
thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan xen với nhau hình
thành các tổ chức kinh doanh đa dạng, các doanh nghiệp không phân biệt quan hệ
sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trớc pháp
luật. Theo hớng đó nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo những tiền đề cần
thiết cho những hoạt động của ngành Ngân hàng nói chung và sự ra đời của nhiều
loại hình Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Cho nên để tăng cờng quản lý,
định hớng hoạt động cho các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận lợi
cho sự phát triển của nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức
và cá nhân, pháp lệnh Ngân hàng, Hợp Tác Xã Tín dụng và Công ty Tài chính đã
xác định Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và th-
ờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện
thanh toán.
1.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thơng mại.

các Ngân hàng thợ vàng này không đáp ứng đợc nhu cầu của họ. Do vậy một só
nhà buôn đã tự thành lập Ngân hàng và gọi là NHTM. Nh vậy NHTM đợc thành lập
xuất phát từ t bản thơng nghiệp gắn liền với quá trình luân chuyển của t bản thơng
nghiệp. Các NHTM này vừa thực hiện phát hành tiền vừa thực hiện kinh doanh do
vậy mà trong lu thông đã tồn tại nhiều loại tiền khác nhau gây khó khăn cho lu
thông. Các ngniệp vụ Ngân hàng thời kỳ này đã bao gồm hầu hết các nghiệp vụ của
Ngân hàng đơng đại. Tuy nhiên điểm khác biệt giữa NHTM và Ngân hàng thợ vàng
là NHTM chủ yếu cho các nhà buôn vay dới hình thức chiết khấu thơng phiếu -
Đây là các khoản cho vay ngắn hạn dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hoá
với lãi suất thấp hơn so với lợi nhuận đợc tạo ra do sử dụng tiền vay. Để đảm bảo an
toàn tài sản, ban đầu Ngân hàng không cho vay đối với ngời tiêu dùng, không cho
vay đối với nhà nớc, không cho vay trung và dài hạn.
Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
Đến cuối thế kỷ XVIII lu thông hàng hoá đợc mở rộng cả về qui mô và phạm
vi. Trong bối cảnh ấy việc có nhiều Ngân hàng phát hành với nhiều loại giấy bạc
khác nhau đã cản trở quá trình phát triển kinh tế. Mặt khác sự phá sản của nhiều
Ngân hàng đã gây tổn thất lớn cho ngời gửi tiền nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Đặc biệt sau khủng hoảng kinh tế 1929-1933 thì xu hớng chung trên toàn thế giới
là quốc hữu hoá các Ngân hàng phát hành, các Ngân hàng này không đợc phép phát
hành kỳ phiếu, phát hành giấy bạc Ngân hàng. Chuyển chức năng này về NHTƯ,
NHTƯ không chỉ phát hành giấy bạc Ngân hàng mà còn thực hiện chức năng quản
lý nhà nớc về lĩnh vực Tiền tệ-Tín dụng-Ngân hàng, đó là sự ra đời của NHTƯ. Còn
các Ngân hàng khác chỉ thực hiện chức năng nhận tiền gửi, cho vay, đầu t và làm
dịch vụ thanh toán và goi các Ngân hàng này là các Ngân hàng chuyên doanh hay
Ngân hàng thơng mại.
Trong giai đoạn hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và xu
thế chung của nền kinh tế thế giới thì hệ thống NHTM đã phát triển ngày càng đa
dạng về loại hình, phạm vi, về qui mô, về chất lợng hoạt động và có mối liên kết
trên toàn cầu.

buôn bán với nhau mở tài khoản tại Ngân hàng tạo cơ sở cho các Ngân hàng đứng
ra làm trung gian thanh toán theo lệnh của chủ tài khoản bằng cách trích số d tiền
gửi trên tài khoản của ngời mua chuyển sang tài khoản của ngời bán, tiến hành các
nghiệp vụ này Ngân hàng trở thành là ngời thủ quỹ và là bộ máy kế toán đáng tin
cậy của các nhà kinh doanh trong việc làm trung gian nhận và trả tiền theo yêu cầu
của họ, kế toán và kết toán tài khoản cho họ. Do đó, quá trình thực hiện chức năng
này hệ thống NHTM đã góp phần quan trọng làm giảm bớt khối lợng lu thông tiền
mặt, tiết kiệm chi phí lu thông thuần tuý, giúp cho việc thanh toán tiền hàng hoá
dịch vụ đợc thuận lợi, nhanh chóng, an toàn. Đối với Ngân hàng thực hiện chức
năng này tạo cho Ngân hàng có thể duy trì và nâng cao khả năng thanh toán, quản
lý đợc tình hình thu chi của các đơn vị qua đó có các quyết định kịp thời nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và an toàn tài sản cho khách hàng và Ngân hàng.
Ba là: Chức năng tạo phơng tiện thanh toán
Quá trình tạo tiền của NHTM bắt nguồn từ quá trình phát triển hoạt động tín
dụng gắn liền với việc mở rộng thanh toán qua Ngân hàng. Qua việc thực hiện hai
chức năng trên Ngân hàng đã thu hút đợc một lợng khách hàng và số lợng tiền gửi
khá lớn tại Ngân hàng, bằng cách dùng tiền gửi của ngời này để cho ngời khác vay
và ngời này lại tạo nên tiền gửi của ngời khác nằm trong cùng hệ thống Ngân hàng.
Quá trình đó NHTM đã tự tạo đợc khối lợng tiền gửi tăng thêm nhiều lần từ số tiền
gửi đầu tiên (Tiền gửi sử dụng Sec), khối lợng tiền đó sẵn sàng cung ứng cho nhu
cầu thanh toán vì ngời ta có thể viết Sec để rút tiền từ tài khoản tiền gửi của họ, Sec
đợc sử dụng làm phơng tiện thanh toán thay thế cho tiền trong việc mua bán hàng
hoá và chi trả dịch vụ khác.
Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
1.1.2.2 Vai trò của Ngân hàng thơng mại đối với nền kinh tế
Cùng với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, từ khi ra đời và phát triển
NHTM đã đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền
kinh tế thế giới. ở tất cả các nớc, hệ thống NHTM đã không ngừng phát triển, đóng
vai trò tập trung những khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cung ứng vốn cho

Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
Doanh nghiệp và thông qua hoạt động thanh toán hộ thì Ngân hàng có thể giúp
Doanh nghiệp quản lý tốt hơn về vốn và sử dụng vốn.
Ba là: Ngân hàng khuyến khích tiết kiệm trong nền kinh tế.
Bất kỳ đối tợng nào trong nền kinh tế gửi tiền vào Ngân hàng đều đợc hởng
lãi, điều đó có nghĩa là thu nhập của ngời gửi tiền sẽ tăng lên. Ngời gửi tiền có thể
gửi theo bất kỳ phơng thức nào, bất kỳ thời hạn nào, Các cá nhân có số tiền nhàn
rỗi cha sử dụng đến thì có thể gửi vào Ngân hàng khi cần thì có thể rút ra bất cứ lúc
nào. Thông qua chính sách lãi suất Ngân hàng đã khuyến khích khách hàng tiết
kiệm tiêu dùng hiện tại để có thể tăng tiêu dùng trong tơng lai.
Bốn là: Hoạt động Ngân hàng có tác dụng điều tiết sự dịch chuyển của vốn
đầu t dẫn đến bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và phát triển vùng.
Trong hoạt động tài trợ của mình, Ngân hàng có thể tài trợ đối với tất cả các
đơn vị và cá nhân trong nền kinh tế dới các hình thức khác nhau. Với hệ thống các
Ngân hàng chuyên doanh cùng với mạng lới chân rết của mình, NHTM có mặt ở
hầu hết các địa bàn trong phạm vi cả nớc. Thông qua đó Ngân hàng sẽ tiến hành
cho vay đối với những ai cần vốn mà đáp ứng đợc các điều kiện của Ngân hàng thì
Ngân hàng sẽ tiến hành cho vay. Ngoài ra khi có sự u tiên của nhà nớc về phát triển
ngành nghề hoặc vùng kinh tế nào đó thì Chính phủ đa ra những chính sách riêng
cho từng vùng và thông qua hệ thống NHTM sẽ tiến hành cung ứng vốn cho những
vùng đó. Hoạt động tín dụng Ngân hàng ngày càng phát triển đã làm cho việc di
chuyển vốn diễn ra một cách dễ dàng, tập trung duy trì lực lợng bình quân từ tất cả
các ngành. Đồng thời với sự tác động của Ngân hàng vốn đợc dịch chuyển từ vùng
thừa vốn sang vùng thiếu vốn đảm bảo cho sự phát triển đồng đều giữa các ngành,
xoá dần sự khác biệt, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định.
Năm là: Hoạt động của Ngân hàng góp phần chống lạm phát.
Với đặc điểm của NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các hoạt
động chủ yếu là huy dộng vốn, cho vay và thực hiện chức năng trung gian thanh

Trên cơ sở lợng tiền gửi từ nền kinh tế mà Ngân hàng đã tiếp nhận và quản lý
đợc sau khi trừ đi phần dự trữ cần thiết theo qui định, phần còn lại sẽ đợc Ngân
hàng sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của mình. Do tính đa dạng của khách
hàng và nhu cầu phong phú về phơng thức sử dụng tiền tài trợ của khách hàng nên
Ngân hàng đã thiết lập và xây dựng các phơng thức tài trợ khác nhau.
a Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ
Khả năng huy động và cho vay với khối lợng lớn của Ngân hàng đã trở thành
trọng tâm chú ý của chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn của chính phủ và thờng là
cấp bách trong khi thu không đủ chi hoặc thu cha đủ thì chính phủ các nớc đều
muốn tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân hàng. Phơng thức đợc sử dụng
nhiều nhất là Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ mua bán tín phiếu, trái phiếu hoặc
Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
làm đại lý phát hành các giấy tờ có giá cho Chính phủ, qua nghiệp vụ này một mặt
vừa thực hiện nghĩa vụ với nhà nớc mặt khác vừa đem lại thu nhập cho Ngân hàng.
b Tài trợ cho nền kinh tế
Để tiến hành hoạt động kinh doanh thì vấn đề sống còn là phải có nguồn lực
tài chính đủ mạnh, trớc hết là dể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mặt khác
là để mở rộng qui mô và tham gia cạnh tranh để đứng vững trong nền kinh tế thị tr-
ờng. Nguồn lực này thì ngoài nguồn vốn tự có của các Doanh nghiệp (thờng chỉ
chiếm tỷ trọng nhỏ), thì phần lớn các doanh nghiệp đều phải dựa và nguồn vốn tín
dụng Ngân hàng. Tuỳ theo nhu cầu và loại hình kinh doanh mà Ngân hàng chấp
nhận cấp tín dụng theo các phơng thức khác nhau trên cơ sở thoả mãn các điều kiện
vay vốn do Ngân hàng đa ra. Khi thực hiện nghiệp vụ này thì nó đem lại lợi nhuận
rất lớn cho Ngân hàng và đây là nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng.
Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng trong một khoảng thời gian và theo mục đích nhất
dịnh trên cơ sở với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là phơng thức phổ
biến nhất trong hoạt động tài trợ của Ngân hàng đối với khách hàng.
Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn kéo dài trên cơ

Đây là một dịch vụ mang lại thu nhập khá cao cho các Ngân hàng. Trên thế
giới dịch vụ này rất phát triển. Nội dung của nghiệp vụ này là các Ngân hàng cho
khách hàng thuê két của Ngân hàng để bảo quản tài sản của mình và thu phí từ hoạt
động cho thuê đó.
Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của các tổ chức tín dụng với
bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách
hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết. Muốn vạy khách hàng phải có đợc
sự đồng ý của Ngân hàng, nó phải tuân theo một qui trình bảo lãnh riêng. Khi Ngân
hàng thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng thì Ngân hàng đợc hởng một khoản
phí gọi là phí bảo lãnh, mức phí này tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của từng hợp đồng
bảo lãnh.
Cung cấp dịch vụ uỷ thác và t vấn đầu t
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về
quản lý tài chính vì vậy có rất nhiều cá nhân và doanh nghệp đã nhờ Ngân hàng
quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Ngân hàng sẵn sàng t vấn về đầu
t, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.
Cung cấp dịch vụ môi giới đầu t chứng khoán
Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
Với trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên và hệ thống cơ sở vật chất kỹ
thuật, Ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng các thông tin về chứng khoán và đầu
t chứng khoán nh các danh mục đầu t, quản lý tài khoản, mua bán hộ, bảo quản
chứng khoán
Cung cấp dịch vụ đại lý
Nhiều Ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh
hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi, nhiều Ngân hàng (thờng là các Ngân hàng lớn)
cung cấp dịch vụ đại lý cho các Ngân hàng khác nh thanh toán hộ, phát hành chứng
chỉ tiền gửi, làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ
1.2 nguồn vốn của Ngân hàng thơng mại

đánh giá về qui mô của một NHTM thì tiêu chí đầu tiên đợc đề cập là vốn thuộc sở
hữu của Ngân hàng đó.
Vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng bao gồm:
a Vốn điều lệ: Là mức vốn đợc hình thành khi Ngân hàng đợc thành lập. Vốn điều
lệ luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải
có khi thành lập một Ngân hàng do pháp luật qui định. Vốn điều lệ đợc ghi vào
điều lệ thành lập Ngân hàng. Tuỳ thuộc vào loạ hình Ngân hàng mà vốn điều lệ đợc
hình thành từ những nguồn gốc khác nhau:
Ngân hàng quốc doanh: Vốn điều lệ đợc hình thành từ Ngân sách nhà nớc
cấp
Ngân hàng cổ phần: Vốn điều lệ đợc hình thành từ vốn góp của các cổ đông
thông qua việc mua các cổ phiếu.
Ngân hàng liên doanh: Vốn điều lệ đợc hình thành từ vốn góp của các bên
liên doanh.
Ngân hàng nớc ngoài: Vốn diều lệ đợc hình thành từ 100% vốn nớc ngoài.
Ngân hàng t nhân: Vốn điều lệ đợc hình thành từ vốn của chủ Ngân hàng.
b Các quỹ
Quỹ dự trữ: Nhằm để bổ sung vốn điều lệ.
Quỹ dự phòng rủi ro: Để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng nhằm bảo vệ vốn điều lệ
Quỹ phúc lợi, khen thởng.
Lợi nhuận cha chia.
1.2.1.2 Nguồn huy động
Theo quan niệm của các nhà kinh tế học và các nhà Ngân hàng trong tổng
nguồn vốn của Ngân hàng ngoài nguồn vốn thuộc chủ sở hữu thì tất cả các nguồn
vốn còn lại đợc coi là nguồn vốn huy động. Nh vậy nguồn vốn huy động của các
Ngân hàng thơng mại chiếm tỷ trọng tới hơn 90% trong tổng nguồn vốn. Vì vậy
các hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng tồn tại và phát triển đợc là nhờ nguồn
vốn huy động này.
Trần Hoài Nam- Nh 41b

thể quản lý tốt lợng tiền gửi, tiền lãi và là cơ sở để Ngân hàng xây dựng chiến lợc
dự trữ phù hợp và chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn đó vào quá trình hoạt
động kinh doanh.
Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là các khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định,
ngời gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào tuỳ theo nhu cầu của mình do đó lãi suất
của loại tiền gửi này thờng thấp hơn so với các loại tiền gửi có kỳ hạn xác định.
Tiền gửi không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của những khách hàng cha có dự định rõ
ràng trong tơng lai. Đây là hình thức chủ yếu đợc các doanh nghiệp lựa chọn nhằm
mục đích giao dịch trong kinh doanh. Do vậy lợng tiền gửi không kỳ hạn thờng
Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng. Với đặc tính
của nguồn tiền này là luôn biến động cho nên Ngân hàng chỉ đợc sử dụng một tỷ lệ
phần trăm(%) nhất định của lợng tiền gửi không kỳ hạn nhận đợc nhất định tuỳ
thuộc vào dự tính của Ngân hàng về sự ổn định tơng đối của lợng tiền huy động đợc
trong thời gian tới. Quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của quả
lý dự trữ của Ngân hàng.
Tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thõa thuận giữa ngời gửi tiền
và Ngân hàng về số lợng, kỳ hạn và lãi suất của khoản tiền gửi dó. Do có sự xác
định rõ ràng về kỳ hạn nên Ngân hàng có thể sử dụng để cho vay với thời hạn tơng
ứng hoặc có thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung và dài
hạn. Do đặc tính của khoản tiền gửi này là có độ ổn định cao nên Ngân hàng chủ
động trong việc sử dụng nguồn tiền đó để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
mình, vì vậy Ngân hàng trả lãi cho ngời gửi tiền cao hơn lãi suất của loại tiền gửi
không kỳ hạn và tiền giửi thanh toán, Ngân hàng đa ra các kỳ hạn khác nhau nh 3
tháng, 6 tháng, 12 tháng, Mức lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn, nếu kỳ hạn càng dài
thì lãi suất càng cao. Các khách hàng gửi tiền theo loại này thì khi đến hạn sẽ đợc
hoàn trả cả gốc và lãi theo qui định, nếu cha đến hạn mà khách hàng gửi tiền rút
tiền ra trớc thì khách hàng chỉ đợc hởng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn.
a

tiết kiệm đó cha đủ thì Ngân hàng có thể hỗ trợ thêm một phần dới hình thức cho
vay với một lãi suất hợp lý đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên. Đây là một hình thức
huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính chất ổn định, đồng thời có tác
dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho ngời dân về việc mua sắm nhà cửa, phơng tiện.
Tiền gửi thanh toán: Là các khoản ký gửi của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh không nhằm mục đích tìm kiếm thêm thu nhập mà để đợc h-
ởng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng, thông thờng các khoản tiền gửi thanh
toán có số lợng lớn. Mặt khác một số Ngân hàng thờng u tiên hơn đối với các
doanh nghiệp mở tài khoản tại Ngân hàng và phải có số d nhất định trên tài khoản
tiền gửi tại Ngân hàng. Các khoản tiền gửi này Ngân hàng phải chịu chi phí thấp,
phải quản lý chính xác khâu dự trữ nhng lại đợc sử dụng một khoản tiền lớn phục
vụ cho các hoạt động của mình.
Các khoản tiền gửi thanh toán một mặt làm phát triển hệ thống thanh toán
không dùng tiền mặt qua hệ thống Ngân hàng, tiết kiệm chi phí trong lu thông, mặt
khác kiểm soát đợc hoạt động của các doanh nghiệp. Khi thực hiện chức năng là
trung gian thanh toán cho nền kinh tế, Ngân hàng tạo đợc một nguồn vốn từ hoạt
động thanh toán: vốn trên tài khoản mở th tín dụng, tài khoản tiền gửi chờ thanh
toán Các khoản tiền tạm thời đang nằm ở tài khoản của Ngân hàng chờ sử dụng
nên đợc coi là nhàn rỗi. Ngân hàng thơng mại cũng thu hút đợc một lợng vốn đáng
kể trong quá trình thu hộ hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các tổ chức tín
dụng khác, nhận vốn uỷ thác của các tổ chức trong và ngoài nớc. Do tiền đợc giải
ngân theo tiến độ công việc nên Ngân hàng có thể sử dụng tạm thời các khoản tiền
đó vào kinh doanh.
b Vốn vay
Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
Tiền gửi mà Ngân hàng nhận đợc là nguồn vốn mà Ngân hàng có đợc một
cách thụ động. Trong hoạt động của mình nếu nh thiếu vốn thì Ngân hàng phải chủ
động tìm kiếm vốn để thực hiện các hoạt động của mình. Nguồn vốn mà Ngân
hàng chủ động tạo nên đó là nguồn vốn vốn vay. Vậy các Ngân hàng đi vay khi

gia tăng của nhu cầu tín dụng trong tơng lai mà nguồn vốn huy động cha thể đáp
Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
ứng nhu cầu sử dụng vốn rrong thời kỳ tới thì Ngân hàng thực hiện đi vay vốn để
đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Thứ t: Vay để giảm chi phí nguồn tiền cho giai đoạn sau.
Vào cuối kỳ hạch toán, nếu các chủ Ngân hàng dự tính đợc thu nhập của kỳ
đó lớn nghĩa là kỳ đó họ phải chịu thuế nhiều. Nếu họ cũng dự tính đợc kỳ sau họ
sẽ có những khoản chi phí lớn thì họ có thể phát hành kỳ phiếu ngắn hạn trả lãi trớc
nhằm tăng chi phí cho kỳ này và giảm chi phí cho kỳ sau
Nh vậy Ngân hàng sẽ đi vay với các lý do trên, với các mục đích vay khác
nhau Ngân hàng sẽ áp dụng các hình thức vay khác nhau.
b
1
Kỳ phiếu có mục đích
Khi các Ngân hàng muốn có một khoản tài chính để tài trợ cho các dự án có
qui mô lớn, thời hạn dài hoặc tăng qui mô hoạt động của các Ngân hàng hoặc liên
doanh với các tổ chức khác mà nguồn vốn vốn hiện tại cha đáp ứng đợc, Ngân hàng
có thể phát hành kỳ phiếu để tạo nguồn vốn trung và dài hạn để đầu t cho các hoạt
động này. Có thể kỳ phiếu là một chứng chỉ nhận nợ của Ngân hàng có mục đích
kỳ hạn rõ ràng. Kỳ phiếu của Ngân hàng phát hành để huy động vốn từ dân c và
các tổ chức kinh tế để tạo lập nguồn vốn trung và dài hạn dể tài trợ cho các hoạt
động của mình. Khi Ngân hàng muốn giảm chi phí cho kỳ sau thì Ngân hàng phát
hành kỳ phiếu ngắn hạn trả trớc.
b
2
Trái phiếu
Trái phiếu Ngân hàng thực chất là một giấy nhận nợ của Ngân hàng với
khách hàng. Phát hành trái phiếu Ngân hàng nhằm tập trung vốn trung và dài hạn
để tài trợ cho các dự án lớn theo yêu cầu phát triển trên địa bàn hoặc tập trung vốn

sử dụng và hình thức vay vốn mà NHTƯ chia thành các loại sau:
Vốn vay ngắn hạn bổ sung: Là hình thức mà NHTM xin vay vốn bổ sung
nguồn vốn ngắn hạn của mình. Trong trờng hợp này các NHTM chỉ đợc vay khi
còn hạn mức tín dụng theo qui định của NHTƯ.
Vốn vay để đảm bảo khả năng chi trả: Các NHTM vay vốn của NHTƯ để
bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán hoặc thiếu hụt trong dự trữ (thờng là vay
với thời hạn ngắn).
Tái cấp vốn: NHTƯ cho các NHTM vay vốn trên cơ sở các chứng từ có giá.
Các chứng từ này phải hợp lệ, hợp pháp và an toàn. Tái cấp vốn gồm có các hình
thức: Cho vay bằng chiết khấu hoặc tái chiết khấu giấy tờ có giá và cho vay có bảo
đảm.
Tuy nhiên việc NHTM vay vốn ở NHTƯ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ
quốc gia trong từng thời kỳ mà NHTƯ có thể cho vay với khối lợng, thời hạn, lãi
suất, hạn mức khác nhau để thực hiện chính sách tiền tệ của mình.
Nh vậy với đặc điểm tiện lợi của kỳ phiếu, trái phiếu hoặc vốn vay từ các tổ
chức tín dụng khác hoặc vay ở NHTƯ là tuỳ theo mục đích sử dụng của các khoản
vay cùng với tính cân đối giữa nguồn vốn và cho vay tại những thời kỳ nhất định.
Với một tỷ lệ lãi suất đủ sức hấp dẫn, Ngân hàng có thể chủ động huy động đợc l-
ợng vốn cần thiết trong thời gian ngắn. Vì vậy các hoạt động về nguồn vốn ngày
Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
nay đợc gọi là nguồn vốn chủ động thu gom của các Ngân hàng và hoạt động quản
lý dự trữ. Hơn nữa việc phát hành kỳ phiếu và trái phiếu ngoài mục đích huy động
còn có mục đích khác nh kiềm chế lạm phát, góp phần hình thành và phát triển thị
trờng vốn, thị trờng chứng khoán- Một kênh huy động vốn trung và dài hạn hữu
hiệu của nền kinh tế.
c Nguồn vốn khác
c
1
Điều chuyển vốn

Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
1.2.2 Tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với hệ thống NHTM
Cũng nh các ngành nghề kinh doanh khác, để cho hoạt động kinh doanh đợc
diễn ra thờng xuyên và liên tục thì cần phải có t liệu sản xuất. Ngân hàng thơng mại
là một Doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ trong đó tiền là nguyên liệu chính trong
việc tạo ra sản phẩm Ngân hàng, là một thứ nguyên liệu độc tôn không thể thay thế.
Hoạt động tìm kiếm t liệu sản xuất của Ngân hàng là hoạt động huy động vốn. Do
đặc trng của nguồn vốn huy động là luôn có một lợng tồn khoản rất lớn và Ngân
hàng có thể sử dụng lợng tồn khoản này để phục vụ cho qúa trình hoạt động kinh
doanh của mình. Nên tình hình hoạt động của Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào tình
hình huy động vốn của chính Ngân hàng đó.
Thứ nhất: Nguồn vốn huy động có ảnh hởng trực tiếp đến qui mô hoạt động
của các Ngân hàng.
Nguồn vốn khả dụng của Ngân hàng có ảnh hởng trực tiếp đến việc mở rộng
hay thu hẹp tín dụng, hoạt dộng bảo lãnh hay trong hoạt động thanh toán của Ngân
hàng. Thông thờng so với các Ngân hàng nhỏ thì các Ngân hàng lớn có các khoản
mục về đầu t, cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối lợng tín dụng cũng lớn hơn.
Trong khi các Ngân hàng nhỏ lại giới hạn phạm vi hoạt dộng chủ yếu trong một
khu vực nhỏ hay trong một quốc gia. Nếu khả năng vốn của Ngân hàng lớn thì
Ngân hàng có thể mở rộng qui mô khối lợng tín dụng, có thể tài trợ cho các dự án
lớn (về qui mô tín dụng, về thời hạn tín dụng) và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của
khách hàng về các dịch vụ của Ngân hàng.
Thứ hai: Nguồn vốn huy động giúp Ngân hàng chủ động trong kinh doanh.
Trong cơ cấu vốn của Ngân hàng thì ngoài phần vốn tự có thì còn có vốn huy
động, vốn vay và các nguồn vốn khác. Một Ngân hàng không thể chỉ hoạt động với
nguồn vốn tự có và vốn đi vay vì vốn tự có của Ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trộng
nhỏ trong tổng cơ cấu vốn của Ngân hàng còn vốn vốn đi vay thì Ngân hàng phải
phụ thuộc vào dối tợng cho vay về thời hạn, số lợng và các chi phí khác. Do đó có
thể Ngân hàng sẽ bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh. Ngợc lại nếu Ngân hàng có lợng
vốn lớn sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động của mình. Nguồn vốn lớn làm tăng

động của Ngân hàng.
1.2.3 Nguyên tắc và mục tiêu trong công tác huy động vốn của NHTM
1.2.3.1 Nguyên tác huy động vốn
Nguyên tắc thứ nhất: Việc huy động vốn phải trên cơ sở nhu cầu cho vay.
Ngân hàng phải tính toán nhu cầu cho vay để xác định số vốn cần huy động. Phải
đảm bảo cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn về qui mô, về thời hạn để nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng.
Nguyên tắc thứ hai: Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng (bao gồm các
Doanh nghiệp nhà nớc, Doanh nghiệp t nhân, các cơ quan nhà nớc, đoàn thể xã hội
và các tầng lớp dân c) phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn lẫi lãi
theo thoã thuận trớc giữa Ngân hàng và khách hàng.
Trần Hoài Nam- Nh 41b
Gii phỏp tng cng cụng tỏc huy ng vn ti Ngõn hng T&PT H ni
Để đảm bảo khả năng chi trả theo nguyên tắc trên, pháp lệnh Ngân hàng,
Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính quy định các NHTM phải mở tài khoản
tiền gửi tại Ngân hàng nhà nớc và duy trì trên tài khoản đó số tiền dự trữ bắt buộc
(do Ngân hàng nhà nớc qui định), Ngân hàng không đợc huy động quá 20 lần tổng
số vốn tự có và quỹ dự trữ của mình.
Nguyên tắc thứ ba: Ngân hàng không đợc phát hành trái phiếu mà việc phát
hành trái phiếu đó tạo cho các chủ sở hữu giành đợc quyền quản lý trực tiếp và gián
tiếp đối với Ngân hàng.
1.2.3.2 Mục tiêu trong công tác huy động vốn
Mục tiêu trong công tác huy động vốn là cơ sở cho việc đề ra kế hoạch và
chiến lợc về nguồn vốn của Ngân hàng. Nh trên chúng ta đã nghiên cứu, nguồn vốn
của Ngân hàng khá đa dạng, bao gồm nhiều thành phần. Một số thành phần không
ổn định nhng có khả năng giao dịch cao và lãi suất thấp. Ngợc lại một số thành
phần hạn chế khả năng phát hành Sec, có tính ổn định cao nhng lãi suất cao. Do đó
chi phí vốn, cơ cấu vốn, tính chất ổn định, thời hạn của nguồn vốn là nhân tố quan
trọng đánh giá chất lợng nguồn vốn và là mục tiêu mà các Ngân hàng đều hớng tới.
Đây là những yếu tố quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu vừa an toàn vừa có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status