Điều trị một số chứng bệnh mũi theo y học cổ truyền - Pdf 24

ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ CHỨNG BỆNH MŨI THEO YHCT
Y5 Chuyên khoa
I.Viêm mũi cấp tính
1. YHHĐ
- Là bệnh thường gặp, phát quanh năm nhưng hay gặp mùa đông xuân
- Là phản ứng viêm của n/m mũi với các tác nhân gây bệnh không đặc hiệu or
trước 1 kích thích
- Nguyên nhân: thường do VR. Bệnh phát sinh khi có tác nhân làm giảm sức đề
kháng của cơ thể( cảm lạnh)
* Triệu chứng: thể hiện qua các giai đoạn:
- Khởi phát, giai đoạn “khô”: sốt nhẹ, ớn lạnh, TE thường sốt cao, nhức đầu, mệt
mỏi. TC tại mũi: ngứa, cảm giác khô, rát bỏng, có thể lan cả xuống họng, hắt hơi.
Soi mũi: n/m khô, tái, nhạt màu
- Toàn phát, giai đoạn “long tiết”: các biểu hiện viêm long: sổ mũi trong, nghẹt
mũi, mất mùi, chảy nước mắt. Soi mũi: đỏ sậm, sưng nề, xuất tiết
- Kết thúc, giai đoạn “nhầy”: sổ mũi nước trong, đặc dần chuyển qua dạng nhầy.
Các TC giảm dần. Khổi hoàn toàn trong vòng 1 tuần
- Có thể có nhiễm khuẩn thứ phát: xuất tiết nhầy trở nên vàng xanh, các TC rối
loạn chức năng giảm chậm
* Chẩn đoán: dựa vào các TC: tắc mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, sợ lạnh, sốt. N/m
mũi phù nề, hồng nhạt or đỏ
* Điều trị:
- Không có điều trị đặc hiệu cho các nguyên nhân
- Điều trị tại chỗ và TC là chu yếu: xông hơi nước ấm, tinh dầu thơm, thuốc co
mạch nhỏ hoặc bơm phun vào mũi ( Otilin, Otrivin, xylometazolin ), hạ sốt Khi
có bội nhiễm: KS
2. YHCT
Thuộc chứng tỵ tắc
* Nguyên nhân: phong là nguyên nhân gây bệnh thường gặp, có thể kết hợp với
hàn or nhiệt tà. Các yếu tố thuận lợi: thay đổi thời tiết, sinh hoạt, ăn ở không điều
hòa, lao động quá độ làm chính khí hư nhược, phế vệ sơ hở

dẻo, ít khi có mủ. khi viêm lan ra phía sau có TC viêm họng mạn
Soi mũi: giai đoạn xung huyết, xuất tiết n/m mũi phù nề, xung huyết màu tím, lòng
mũi bị thu hẹp. Đặt thuốc co mạch đáp ứng tốt. Giai đoạn sau niêm mạc dày, cuốn
dưới phì đại, đặt thuốc không đáp ứng
* Điều trị
- Loại bỏ các tác nhân kích thích thường xuyên (môi trường sống, làm việc)
- Thuốc nhỏ mũi co mạch giảm nghẹt mũi, không dùng quá 1 tuần
- thủ thuật: đốt điện, laser
2. YHCT
- Thuộc chứng tỵ thất
* Nguyên nhân: thường do phế khí bất túc, tỳ vị hư nhược
* Các thể
a. Thể phế tỳ khí hư
- TC: mũi tắc lúc nhẹ lúc nặng, chảy nước mũi. Gặp lạnh các TC nặng lên, đau
đầu. Khám mũi: n/m mũi sưng, nhạt màu.
Nếu phế khí hư: ho, đờm loãng, khó thở, săc mặt trắng nhợt, chất lưỡi hồng
nhạt, rêu trắng mỏng, mạch hoãn hoặc phù vô lực
Tỳ hư: kém ăn, đại tiện phân nát, người mệt mỏi, chất lưỡi nhạt, rêu trắng ,
mạch hoãn nhược.
Có thể có trường hợp chỉ có TC tại chỗ, TC toàn thân không rõ ràng
- Phân tích: Phế tỳ khí hư, vệ khí bất cố làm cho tà khí ứ trệ lại ở mũi gây tắc mũi.
Phế khí bất túc làm bn khó thở. Phế không phân bố được tân dịch, tích lại rồi hóa
đàm khiến phế khí nghịch gây ho
- Pháp điều trị: phế khí hư là chính nên dùng bổ phế ích khí, khu phong tán hàn
Phương: Ôn phế chỉ lưu đan
Kinh giới Cam thảo H.kỳ
Cát cánh Kha tử Đẳng sâm
Tế tân Ngũ vị tử Bạch truật

Tỳ khí hư là chính nên dùng kiện tỳ trừ thấp

+ Do sự quá mẫn của niêm mạc mũi đối với các kích thích, được gọi là dị nguyên. Các dị nguyên
thường gặp là bụi, phấn hoa, các vi khuẩn Cách chung, đó là những dị nguyên đường hô hấp.
+ Hầu hết các bệnh dị ứng chỉ xẩy ra trên những cơ địa có tính chất gia truyền và có đặc điểm là sự
bấp bênh giữa thần kinh giao cảm và thần kinh phó giao cảm.
* Triệu Chứng: Thường xuất hiện đột ngột từng cơn hoặc lúc sáng sớm, khi thời tiết thay đổi.
Trên lâm sàng thường có ba triệu chứng điển hình:
+ Cơn hắt hơi từng loạt, ngắn hoặc dài hàng giờ. Bắt đầu là cảm giác cay, ngứa, buồn, nóng trong
mũi, lan xuống hàm ếch, lan lên mắt, sau đó là hắt hơi từng tràng dài liên tục, không tự kềm chế lại được
làm cho người bệnh bơ phờ, mệt mỏi.
+ Chảy nước mũi trong, nhiều, và liên tục như vòi nước cứ rỉ nước ra nhiều đợt, đồng thời có cảm
giác mắt nóng, chảy nước mắt, ra ánh sáng càng khó chịu hơn, đầu đau.
+ Nghẹt mũi hoàn toàn, không thở bằng mũi được, cả lúc nằm và lúc ngồi,cổ khô, đầu đau, các
xoang ở mặt có cảm giác căng đau.
Khi ra ngoài trời, gặp gió những triệu chứng càng tăng lên, sáng sớm mũi nặng lên, đêm về lại đỡ
hơn.
2.Theo YHCT:
Đông y gọi là Quá Mẫn Tính Tỵ Viêm, Tỵ Cứu.
*Nguyên Nhân
+ Do Phế khí suy yếu: phong hàn bên ngoài xâm nhập vào làm cho Phế mất chức năng tuyên giáng
gây nên chảy nước mũi liên tục.
+ Do Phế Tỳ Khí Hư: thủy thấp tràn lên mũi gây nên. Phế chủ khí, liên hệ với sự hô hấp. Tỳ chủ sự
vận hóa các tinh túy của thức ăn, thành thanh khí, đưa lên Phế. Vì vậy, sách ‘Y Học Nhập Môn’ viết: “Mũi
là đường xuất ra của thanh khí, thanh khí xuất phát từ Vị”. Tỳ thổ sinh Phế kim, nếu Tỳ khí suy sẽ làm
cho Phế khí bất túc, Phế mất chức năng tuyên giáng thì nước mũi sẽ sẽ tụ lại, hàn và thấp tụ lại lâu ngày
gây nên bệnh.
+ Do Thận khí hao tổn, Phế khí không được ôn dưỡng: Phế chủ sự hô hấp, đưa khí ra vào, Thận
chủ nạp khí, vì vậy giữa Phế và Thận có sự liên hệ điều hòa khí.
Nếu Thận hư yếu, bất túc, không nạp được khí, khí không trở về nguồn được, khí ở Phế sẽ bị hao
tán, phong tà nhân cơ hội đó xâm nhập vào làm cho nước mũi chảy liên tục. Nếu Thận dương hư yếu,
hàn thủy sẽ trào lên mũi gây ra chứng nước mũi chảy không cầm.

làm tăng tác dụng của bài Tứ Quân; Thêm Ngũ vị tử, Kha tử bổ Phế, liễm khí, thông tỵ khiếu, làm cho bớt
hắt hơi; Tân di hoa để phương hương thông khiếu (Trung Y Cương Mục).
Kỳ Truật Thang (13) (Hoàng kỳ, Bạch truật, Đảng sâm, Phục linh ôn bổ Phế khí, hợp với Phòng
phong để khứ phong, cố vệ biểu; Bạch chỉ, Cam thảo ôn trung, kiện Tỳ; Thương nhĩ tử, Tân di, Cúc hoa
tán phong, thông khiếu; Mộc thông lợi huyết mạch).
Sâm Linh Bạch Truật Tán ( 35) gia giảm.
- Châm cứu: Châm Nghinh hương, Ấn đường, Tỳ du, Túc tam lý (Nghinh hương chủ trị mũi nghẹt, không
ngửi thấy mùi thơm; Ấn đường nằm ở trên đường của mạch Đốc, mạch Đốc đi xuống đến đầu mũi, vì thế
Nghinh hương và Ấn đường là hai huyệt chủ yếu để thông mũi; Tỳ du là huyệt chuyển tinh khí vào Tỳ;
Túc tam lý thuộc kinh túc Dương minh. Kinh túc Dương minh và thủ Dương minh giao nhau ở mũi. Tỳ và
Vị có quan hệ biểu lý với nhau, là nguồn sinh hóa của hậu thiên. Lý Đông Viên nhận định: “Sách Nan
Kinh viết: Phế khí thông lên mũi, Phế hòa thì mũi ngửi thấy mùi thơm thối Nếu Tỳ Vị bị tổn thương, hư
yếu, không vận hóa khí đi lên trên được, tà khí ủng trệ ở mũi, làm cho mũi không thông, không ngửi thấy
mùi thơm thối, phải dưỡng Vị khí, làm cho dương khí, tông khí đưa lên thì mũi mới thông” vì vậy, dùng
huyệt Túc tam lý để bổ trung ích khí kiêm sơ phong, hòa doanh, thông mũi (Trung Y Cương Mục).
c. Do Thận Khí Hao Tổn, Phế Không Được Nuôi Dưỡng.
Chứng: Mũi ngứa không chịu được, hắt hơi liên tục, nước mũi chảy ra không dừng, sáng sớm và
chiều tối bệnh nặng hơn, bệnh thường kéo dài khó khỏi, bình thường hay sợ lạnh, sau gáy, vai, lưng đều
lạnh, tay chân không ấm, sắc mặt trắng nhạt, tinh thần uể oải, lưng đau, chân mỏi, tiểu nhiều, tiểu đêm,
cơ thể gầy yếu, chóng mặt, ù tai, hay quên, ít ngủ hoặc lòng bàn tay bàn chân nóng, lưỡi nhạt, mạch
Trầm Tế (Thận dương hư) hoặc lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế Sác (Thận âm hư).
Điều trị:
+ Thận dương hư: Ôn bổ Thận dương, nạp khí, trấn đế [hắt hơi].
+ Thận âm hư: Tư dưỡng Thận âm.
Dùng bài Ôn Phế Chỉ Lưu Đơn (32) Thêm Hồ đào nhục, Nhục thung dung, Phúc bồn tử, Kim anh
tử, Cáp giới (Ôn Phế Chỉ Lưu Đơn để sơ biểu, tán hàn, bổ Phế, liễm khí, làm cho hết hắt hơi; Thêm Hồ
đào nhục, Kim anh tử, Phúc bồn tử, Nhục thung dung, Cáp giới để ôn Thận, bổ Phế, sơ phong, tán hàn,
làm cho hết hắt hơi).
- Châm cứu:Châm Nghinh hương, Ấn đường, Mệnh môn, Thận du, Đại trường du (Nghinh hương
chủ trị mũi nghẹt, không ngửi thấy mùi thơm; Ấn đường nằm ở trên đường của mạch Đốc, mạch Đốc đi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status