Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
1.1.1. Đại cương về mãn kinh
1.1.1.1. Định nghĩa mãn kinh
Ở người phụ nữ và khoảng (40 - 50) tuổi các nang trứng của buồng trứng
giảm phát triển, trở lên không đáp ứng với kích thích của hormon tuyến yên, quá
trình này xẩy ra từ từ dẫn đến giảm chức năng hoạt động nội tiết buồng trứng. Sau
vài tháng đến vài năm các chu kỳ sinh dục ngừng, người phụ nữ hết kinh, không có
hiện tượng phóng noãn, nồng độ các hormon sinh dục giảm thấp. Hiện tượng này
được gọi là mãn kinh [4], [6], [23].
Như vậy mãn kinh được định nghĩa là tình trạng thôi hành kinh vĩnh viễn, một
vô kinh thứ phát do suy giảm tự nhiên hoạt động của buồng trứng và không hồi
phục [23], [ơ61].
1.1.1.2. Nguyên nhân của mãn kinh
Nguyên nhân của mãn kinh: là sự kiệt quệ của buồng trứng, vào thời kỳ tiền
mãn kinh ở buồng trứng, số nang trứng nguyên phát còn rất ít, việc đáp ứng của
buồng trứng với kích thích của Follicle Stimulating Hormon (FSH) và Luteinizing
Hormon (LH) giảm dẫn đến lượng estrogen giảm dần đến mức thấp nhất với hàm
lượng này estrogen không đủ chế tạo một cơ chế feedback âm gây ức chế bài tiết
FSH và LH, đồng thời cũng không đủ để tạo cơ chế feedback dương gây bài tiết đủ
lượng FSH và LH cần thiết làm rụng trứng. Do đó chỉ sản xuất được một lượng nhỏ
hơn estrogen, không còn đủ để làm thay
đổi niêm mạc tử cung tới mức gây được kinh nguyệt [4], [6], [12], [24], [54],
[57].
Trong thời gian dày trước đây, người ta cho rưàng chỉ có estradiol có tác dụng
chính trong điều hoà nồng độ FSH. Nhưng ngày nay người ta đã chứng minh được
hormon Inhibin một loại hormon do buồng trứng tiết ra cũng đóng vai trò quan
trọng. Nú có tác dụng điều hoà nồng độ FSH và có thể gây ra một số tác dụng trực
tiếp tại chỗ đối với buồng trứng khi khả năng của các nang noãn bị giảm, nồng độ
nhân văn cũng phòng trào giải phóng phụ nữ.
1.1.2. Trục vùng dưới đồi - Tuyến yên - buồng trứng
1.1.2.1. Vùng dưới đồi và hormon Gonadotropin Releasing Hormon
* Vùng dưới đồi [12], [42]
- Vùng dưới đồi (Hypothalamus) là một cấu trúc thuộc não trung gian nằm
quanh não thất ba và giữa hệ viền (limbic) vùng dưới đồi có đường liên hệ trực tiếp
theo 2 hướng:
+ Hướng đi lên qua nhiều vùng của não, đặc biệt là vùng đồi thị (thalamus)
trước và vùng vỏ của hệ viền.
+ Hướng đi xuống qua thân não, chủ yếu đến cấu trúc lưới của não giữa cầu
não và hành não.
Ở vùng dưới đồi các neuron tập trung thành nhiều nhóm nhân, tạo nên phần
trước, giữa và sau.
Các neuron ngoài chức năng dẫn truyền xung động thần kinh như các neuron
của các cấu trúc thần kinh khác. Ngoài tham gia vào sự kiểm soát thân nhiệt, chỉnh
hợp nhiều loại quá trình vật lý và hoá học để sinh nhiệt và mất nhiệt là một chức
năng của các trung tâm của não nằm ở vùng dưới đồi [33]. Còn có chức năng tổng
hợp và bài tiết hormon [12].
* Hormon Gonadotropin Releasing Hormon (GnRH) [12, [42]
GnRH được bài tiết từ các tận cùng thần kinh vùng lồi giữa thân của nhưũng
neuron này khu trú ở nhân cung (arcuate nuclei) của vùng dưới đồi:
Có tác dụng kích thích tế bào thuỳ trước tuyến yên bài tiết cả FSH và LH. Tuy
nhiên nhịp bài tiết LH liên quan chặt chẽ với nhịp bài tiết GnRH hơn là FSH.
Điều hoà bài tiết GnRH theo cơ chế feedback: vòng dài do hormone sinh dục
nữ điều khiển, vòng ngắn do FSH và LH điều khiển và vòng cục ngắn do chính
GnRH điều khiển.
1.1.2.2. Tuyến yên và các hrrmon kích thích tuyến sinh dục FSH, LH.
a) Tuyến yên: gồm 2 phần:
Thuỳ trước liên quan với vùng dưới đồi qua đường mạch máu là hệ thống cửa
dưới đồi - yên (hệ cửa popa - Fielding) nú có khả năng tổng hợp và bài tiết
yếu là ừ ẻtadiol và cũng là loại tác dụng mạnh nhất. Cả ba loại đều là các hợp chất
Steroid và được tổng hợp ở buồng trứng từ cholesterol và cũng có thể từ acetyl -
coenzyme A.
Tác dụng làm xuất hiện bảo tồn các đặc tính sinh dục nữ thứ phát từ tuổi dậy
thì. Bao gồm làm: phát triển các cơ quan sinh dục, phát triển lớp mỡ dưới da, giọng
nói trong, dáng mềm mại, cách mọc lông, tóc [6][12][23][42].
Tác dụng lên tử cung: làm các tế bào biểu mô của niêm mạc tử cung bài tiết
một lớp dịch nhầy loóng và mỏng.
Tác dụng lên vòi trứng: làm tăng sinh mô tuyến của niêm mạc ống dẫn trứng,
các tế bào biểu mô lông rung.
Tác dụng lên âm đạo: làm thay đổi biểu mô âm đạo dạng khối thành dạng
tầng, giúp tăng khả năng chống đỡ với các chấn thương và nhiễm khuẩn, kích thích
các tuyến âm đạo bài tiết dịch a xớt.
Tác dụng lên tuyến vú: làm phát triển hệ thống ống tuyến mô đệm, tăng lắng
đọng mỡ ở vú.
Tác đông lên chuyển hoá: tăng tổng hợp protein, tăng lắng đọng mỡ dưới da,
giảm nồng độ cholesterol toàn phần.
Tác dụng lên xương: làm tăng hoạt động của tế bào tạo xương.
Điều hoà bài tiết estrogen: estrogen bà tiết nhiều hay ít tuỳ thuộc vào nồng độ
LH, LH tăng sẽ kích thích lớp áp trong nang trứng bài tiết estrogen.
Hormon Progesteron [12],[42].
Chính sự tụt giảm nồng độ estrogen thời kỳ mãn kinh đã đưa tới những thay
đổi về cấu trúc cũng như về chức năng để lại nhiều khó khăn ảnh hưởng tới chất
lượng cuộc sống của người phụ nữ ở giai đoạn này. Những biểu hiện lâm sàng của
tuổi mãn kinh thay đổi rát nhiều về mức độ nghiêm trọng và thoài gian xuất hiện.
Một số phụ nữ hoàn toàn không có một triệu chứng gì đáng kể từ sự không tránh
được về chức phận kinh nguyệt. Ở nhưng phụ nữ này những thay đổi về hình thái
và nội tiết chắc chắn tiến triển một cách từ từ, nên các hậu quả hầu như không they
rõ. Ngược hẳn lại có những phụ nữ mà sự thiếu hụt estrogen đột ngột hơn và rõ
ràng hơn, phối hợp với những thay đổi ở đường sunh dục, vú và đôi khi các triệu
noradrenergic. Sự chuyển Ltyroin thành L dopa bởi men đopaminhdrpxylase đã bị
giảm xuống, trong khi MAO (monoaminoxydase) và COMT (catecho - mythyl
transferase) đã tăng hoạtđộng, sự hấp thu catecholamine giảm xuống do tuổi già.
Nhiều nhà nghiên cứu đã gợi ý rằng có một mối liên quan giữa các catechole
estrogen và sự phóng thích ra LH. Sự giảm sút cùng một lúc cả các estrogen và các
catechol estrogen vào lúc mãn kinh có thể làm suy giảm sự chế tiết và chuyển hoá
các catecholamines, lần lượt tiếp theo đến sự giảm chế tiết ra Gonadotropin [1],
[23], [48].
Qua những nhận xét trên người ta thấy tuổi già và những tác động của
estrogen có ảnh hưởng đến chuyển hoá của catecholamine tại não.
Prostaglandin có ở vùng dưới đồi của não cũng có thể đóng vai trò quan trọng
trong bệnh sinh hội chứng mãn kinh qua tác dụng lên cơ trơn của thành mạch. Các
chất ức chế prostaglandin như aspirin và indomethacin ức chế ở sản sinh Gn - RH
vì có nhiều mạch máu ở não, đặc biệt những mạch máu ở vùng dưới đồi đã được
điều khiển bởi các neuron noradrenergic nên không pảhi là không có lý khi nghĩ
rằng sự kích thích các neuron này bởi norepinephin hay prostaglandin có thể gây
co thắt mạch trung tâm dẫn đến tình trạng kích động thần kinh, lo âu, suy sụp, mất
trí nhớ. Tuy nhiên những quan sát trên cần được chứng minh thêm [7], [23].
Tần xuất của triệu chứng bốc hoả rất khác nhau. Theo các báo cáo ở các quốc
gia khác nhau, ví dụ: bốchoả nữ mãn kinh ở Thái Lan, 70% phụ nữ mãn kinh da
trắng [1], [47], [56], [60]. Theo M. Yusoff. Dawood 85% phụ nữ mãn kinh có cơn
bốc hoả với 65% cơn bốc hoả xuất hiện từ 1 - 5 năm, 26% kéo dài từ 6 - 10 năm,
10% kéo dài > 10 năm, phụ nữ 60 - 62 tuổi có 15% nói lại có cơn bốc hoả. THeo
Kronnenberg (1990) có 60% phụ nữ có cơn bốc hoả trong thời gian 7 năm và 15%
trên 15 năm. Mỗi cơn bốc hoả kéo dài trung bình 2, 7 phút, nhưng thường xảy ra ở
1 - 5 phút. Với 17,4% phụ nữ mãn kinh có cơn bốc hoả kéo dài hơn 1 phút, 5,7%
cơn bốc hoả kéo dài hơn 6 phút [1], [41], [48]. Mỗi cơn bốc hoả có liên quan với
sự tăng nhiệt độ, tăng nhịp đập của tim (trung bình 9 nhịp đập/ phút và có thể tới
20 nhịp đập/ phút), tăng hoạt động máu ở tay chân và tăng máu ở ngoài da.
* Đánh trống ngực
trạng này, trong đó có 5 - 10% số người có chứng trạng này cần phải được điều trị
[69].
1.2.2. Bệnh nguyên bệnh sinh [20], [21], [22], [68], [69]
Y học cổ truyền cho rằng, gốc bệnh là từ thận suy, âm dương của thận không
điều hoà, chức năng hai mạch xung nhâm rối loạn, ảnh hưởng đến tạng tâm can tỳ
từ đó phát sinh hàng loạt sự biến hoá bệnh lý. Xuất hiện nhiều chứng hậu, nhưng vì
phụ nữ phải có kinh nguyệt, mang thai, chửa đẻ, sinh nở, đều có liên quan tới
huyết, tương ứng với trạng thái " Âm thường bất túc Dương thường hữu dư" cho
nên lâm sàng phần nhiều là thận âm hư, can uất hoá hoả, bao gồm:
1.2.2.1. Chứng âm hư nội nhiệt [2], [69]
Kinh nguyệt đến sớm, lượng kinh ít hoặc trễ ra nhiều hoặc tắt kinh đột ngột,
đau đầu chóng mặt, bốc hoả ra mồ hôi, mồm khô, tiểu, vàng, táo bón, lưng gối
nhức mỏi, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác
1.2.2.2. Chứng âm hư can vượng [22], [69]
Kinh nguyệt rối loạn, tính tình bứt rứt nóng nẩy, dễ cáu gắt, mắt khô mờ,
chóng mặt đau đầu, ngực sườn đau tức, chân tay run tê rần hoặc cảm giác kiến bò,
lưỡi tía đỏ (rỡa đỏ) mạch huyền sác.
1.2.2.3. Chứng tâm thận bất giao [22], [69]
Rối loạn kinh nguyệt người nóng ra mồ hôi, hồi hộp hay quên, mất ngủ hay
mộng, tư tưởng không tập trung hay buồn vô cớ, lưỡi thon đỏ, ít reu mạch tế sác.
1.2.2.4. Chứng tinh can huyết khô [22], [69]
Trước sau mãn kinh lưng gối dau mỏi, cốt tuỷ đau nhức, nóng trong xương,
đầu choáng váng (mắt hoa) nảy đom đóm mắt, tai ù như ve kêu thậm chí răng lung
lay rồi rung, mất ngủ, kinh nguyệt sau kỳ lượng ít rồi kinh nguyệt chấm dứt, chất
lưỡi đỏ, mạch tế nhược.
1.2.2.5. Thận dương hư [22], [69]
Kinh nguyệt ra nhiều hoặc đến sớm, người mập, chân tay lạnh mát, sợ lạnh,
mệt mỏi hoặc phù, tiểu trong hoặc sún tiểu, lưỡi sắc nhợt, rêu trắng, mạch trầm
nhược, tế nhược.
1.2.2.6. Thận dương thận âm đều hư [22], [69]
chức năng của các tạng phủ cũng suy giảm dần mà chủ yếu là thần khí suy; thần
suy chủ yếu là tinh, huyệt suy dần nên âm dương mất cân bằng, ảnh hưởng tới sự
hoạt động của các tàng phù khác. Do ' ' thận là góc của tiên thiên'' nên khi ngũ tạng
bị tổn thương, bao dờ cũng ảnh hưởng tới thận, dấn đến chức năng của tang thận bị
suy giảm. Thận dương thận âm mất cân bằng, ảnh hưởng đến sự hoạt động của các
tạng phủ khác như: tâm, can, ty…làm cho biểu hiện lâm sàng của hội chững mãn
kinh rất phức tạp.
Trên thực tế lâm sàng người ta chia hội chững mỏn kinh làm hai thể: thể thận
âm hư và thể thận dương hư.
- Thể thận âm hư: Bẩm tố thận hư huyệt thiếu hoạc ở dai đoạn mãn kinh…
thiên quy dần càn kiệt, tinh huyệt suy giảm. Tròng thời ỳ này thường hay suy tư,
mất ngủ do phần dương âm bị thương tổn hoạc phòng sự không điều độ, tinh huyết
hao tổn; hoạc bệnh huyệt mất huyết làm âm huyệt bị tổn thương.
- Thận dương hư: Bẩm tổ cơ thể suy nhược, thận dương hư suy, khi vào tuổi
tiền mỏn kinh thì thần khí càng hư, lại thêm hay bị kịnh sợ hoạc phòng sự không
điệu độ mà tổn thương thần khí, mệnh môn hoả suy, các tang phụ không được nuôi
dưỡng đầy đủ dẫn đến hội chứng mãn kinh.
2. CÁC THỂ LÂM SÀNG
2.1. Thể thận âm hư tổn
Triệu chững lâm sàng: Bệnh nhân thường chóng mặt, ù tai đau mỏi lưng
gối, triệu nhiệt, thường ra mồ hôi trộm, ngũ tâm phiền nhiệt, ngủ ít hay mê, miệng
khô, họng khô, hay có cơn bốc hoả, rối loạn chu kỳ kinh, lượng kinh ít hoạc nhiều,
sắc kinh thường đỏ tươi, lưới đỏ ít rêu, mạch tể sác.
- Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: Giai đoạn này ở vào lứa tuổi mà thiên
quy đã cạn dần, thận âm không đủ, tinh huyệt đã suy giảm, bề tuỷ không được nuôi
dưỡng nên thường xuất hiện chóng mặt,. ù tai. Lưng là phù của thận, thận chủ cột
sinh tuỷ khi thận hư thì xuất hiện đau mỏi lưng gối. thận thuỷ hư thì không đủ
nhiệt và có cơn bốc hoả; đồng thời thận thuỷ suy cũng không thể đưa thận lên trên
mà dao hoả với tâm, không khác chế tâm hoả sẽ dấn đến tâm thận bõt giao mà dấn
đến ngủ ít hay mê. Thận âm háy gây ra mồ hôi nhịờt làm hao tổn tân dịch hay xuất