giáo dục việt nam thời đại lý- trần và những bài học cho nền giáo dục việt nam hiện nay - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống văn hiến lâu đời được
kế thừa và phát triển qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử, và được phản
ánh vào trong các hình thái ý thức xã hội như văn hóa, pháp luật, đạo đức, tôn
giáo tín ngưỡng, tư tưởng, giáo dục. Những hình thái ý thức xã hội này chính
là sự biểu hiện cụ thể sinh động nhất về thực tiễn lịch sử dân tộc từ khi dựng
nước đến nay. Văn hóa phản ánh sự phát triển của đời sống vật chất cũng như
đời sống tinh thần do lao động của con người sáng tạo ra. Pháp luật phản ánh
sự quản lý xã hội của nhà nước trên phương diện lớn, đạo đức thể hiện mối
quan hệ, ứng xử giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội… và còn muôn mặt
của đời sống xã hội cũng đều được thể hiện thông qua các hình thái ý thức xã
hội nhất định. Cho nên, khi nghiên cứu lịch sử dân tộc chúng ta không thể
không nghiên cứu các yếu tố đó một cách khoa học, đúng đắn. Giáo dục là
một hình thái ý thức xã hội, cho nên cũng giống như các yếu tố khác, giáo dục
cũng cần phải được quan tâm nghiên cứu đúng mực, trên tất cả các phương
diện như lý luận, tư tưởng, lịch sử giáo dục… nhằm đem lại cho chúng ta một
cái nhìn tổng quát nhất, đầy đủ nhất về giáo dục dân tộc.
Trên phương diện lịch sử tư tưởng, giáo dục mở ra nhiều khía cạnh cho
chúng ta có thể nghiên cứu khái quát, từ đó chúng ta có thể kế thừa và phát
triển tư duy lý luận về giáo dục, định hướng cho thực tiễn đa dạng phong phú,
đó cũng là một việc làm cần thiết.
Đặc biệt, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, có rất
nhiều vấn đề lý luận được đặt ra cần phải giải quyết, vấn đề lý luận đó không
phải chỉ ở một lĩnh vực, một ngành khoa học nhất định mà cần phải khái quát
ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, giáo dục cũng không phải là ngoại lệ. Mặc
dù, ngày nay giáo dục Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn, nhưng
vẫn còn những hạn chế nhất định, vì thế việc nghiên cứu lý luận về giáo dục
đã trở nên quan trọng và không ngừng hoàn thiện trong quá trình xây dựng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta.
Hơn nữa, trong những ngày tháng của năm 2010 này, đất nước đang

Phương pháp chung nhất và quan trọng nhất của đề tài là phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử.
Ngoài ra còn có các phương pháp khác như: logic kết hợp với lịch sử,
phân tích với tổng hợp để rút ra những kết luận cơ bản nhất về nguồn gốc, đặc
điểm, thành tựu và hạn chế, những bài học của nền giáo dục Việt Nam thời đại
Lý- Trần, cũng giống như việc rút ra những thành tựu và hạn chế giáo dục
Việt Nam hiện đại.
Tất cả những phương pháp trên đây, đã tạo điều kiện thuận lợi cho
chúng tôi hoàn thành đề tài này.
5. Phạm vi nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đi sâu nghiên cứu trong phạm vi của
lĩnh vực giáo dục, ngoài ra khi đề cập đến hoàn cảnh ra đời của giáo dục
chúng tôi cũng phân tích những đặc điểm kinh tế- xã hội – chính trị - văn hoá
của thời đại Lý Trần để có cái nhìn toàn diện nhất về sự xuất hiện của nền giáo
dục thời Lý – Trần.
6. Đóng góp của đề tài
So với sự nghiên cứu trước đây, đề tài mong muốn mang lại nhiều điểm
mới hợp lý hơn, hệ thống hơn trên cả lĩnh vực lý luận lẫn thực tiễn.
Trước hết, bằng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chúng tôi
phân tích những cơ sở, điều kiện cho sự ra đời của nền giáo dục Việt Nam thời
Lý- Trần một cách toàn diện nhất. Đây là một hướng mới cho việc nghiên cứu
lịch sử giáo dục, chúng tôi vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin vào
đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành giáo dục thời Lý-
Trần. Đánh giá lịch sử trên quan điểm duy vật, được coi là một nhân tố quan
trọng hàng đầu mà chúng tôi thực hiện trong đề tài này. Trước đây, các đề tài
cũng đề cập đến các khía cạnh nhưng chưa thể hiện rõ lý luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin, trong đề tài này chúng tôi đã tiến hành theo đường lối đó.
Thứ hai, chưa có đề tài nào đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế
của nền giáo dục Việt Nam phong kiến nói chung và nền giáo dục thời đại Lý-
Trần nói riêng, vì vậy chúng tôi mạnh dạn đưa ra quan điểm của mình, bằng

độc lập dân tộc.
Khi Ngô Quyền qua đời, nền độc lập tiếp tục được củng cố qua các triều
đại Đinh- Tiền Lê. Thế nhưng, những triều đại này chỉ dừng lại ở việc củng cố
nền độc lập dân tộc đưa đất nước thoát khỏi ách áp bức bóc lột của các quốc
gia khác, chẳng hạn Ngô Quyền chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, hay chống
loạn lạc trong nước như Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn “12 sứ quân”, rồi Lê Hoàn
đánh bại quân Tống lập ra nhà Tiền Lê. Hầu hết các triều đại này vẫn chưa
giải quyết được vấn đề phát triển đất nước, nâng dân tộc lên một tầm cao mới,
do đó lịch sử đòi hỏi phải có một lực lượng khác thực hiện được nhiệm vụ ấy.
Hơn nữa, khi Lê Hoàn qua đời (1005), các con trai đã tranh chấp ngôi vua, Lê
Long Đĩnh nối ngôi cha nhưng không đủ năng lực và uy tín cai trị đất nước, đã
kìm hãm sự phát triển của đất nước, làm cho đất nước rơi vào tình trạng khủng
hoảng sâu sắc, vì thế càng đặt ra nhiệm vụ mau chóng ổn định đất nước, và
cuối cùng lịch sử đã tìm thấy Lý Công Uẩn trong các triều thần của nhà Lê,
lập ra triều đại nhà Lý.
Lý Công Uẩn là người châu Cổ Pháp (Tiên Sơn- Bắc Ninh), mẹ họ
Phạm, thủa nhỏ học ở chùa Lục Tổ, làm con nuôi cho nhà sư Lý Khánh Văn,
lớn lên chuyển qua nghề võ sau giữ đến chức Điện tiền chỉ huy sứ, chỉ huy
cấm quân của kinh đô Hoa Lư, có uy tín trong triều đình.
Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua lập ra nhà Lý. Năm 1010, ông
đặt niên hiệu là Thuận Thiên và quyết định rời đô ra Thăng Long, tạo điều
kiện để phát triển đất nước.
Triều Lý tồn tại với 8 đời vua, đã đem lại nhiều thành tựu to lớn trong
việc xây dựng đất nước. Tuy nhiên khoảng giữa thế kỷ XI, triều Lý bắt đầu
suy đồi. Các vua nhà Lý khi lên ngôi còn quá non trẻ, lớn lên lại ham chơi,
cho nên trong triều đình xảy ra nhiều hỗn chiến giữa các phe phái với nhau.
Năm 1225, Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng
lúc 7 tuổi. Trần Thủ Độ bố trí cho cháu của mình là Trần Cảnh khi đó 8 tuổi
vào cung chơi cùng Lý Chiêu Hoàng. Đến 1226, Trần Thủ Độ đạo diễn một
cuộc đảo chính cung đình, tuyên bố Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và

tương ứng với nó, do cơ sở hạ tầng phù hợp với nó sinh ra. Do đó, khi nghiên
cứu sự ra đời của giáo dục nói chung, chúng ta cần phải tìm hiểu những yếu tố
cơ bản như kinh tế- văn hóa- chính trị- xã hội trong một giai đoạn cụ thể. Vì
thế, từ sự định hướng này chúng ta có cơ sở để nghiên cứu khoa học hơn về
sự ra đời của nền giáo dục Việt Nam thời đại Lý- Trần.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.2.1. Cơ sở kinh tế
Cơ sở kinh tế là toàn bộ những yếu tố, những điều kiện, xuất phát từ
kinh tế trên cơ sở đó hình thành giáo dục. Cơ sở kinh tế của giáo dục thời Lý-
Trần là toàn bộ những quan hệ sản xuất của nền kinh tế, đồng thời là toàn bộ
các ngành kinh tế thời Lý- Trần.
Chúng ta cần phải tìm hiểu rõ cơ sở kinh tế của giáo dục thời đại Lý-
Trần, bởi vì đây là một yếu tố quan trọng hàng đầu cho một hệ thống kiến trúc
thượng tầng trong đó có giáo dục. Thông qua đó, ta hiểu được với một trình độ
của kinh tế nhất định sẽ quy định sự phát triển và thay đổi giáo dục tại những
thời điểm nhất định.
Khi nghiên cứu nền kinh tế thời Lý- Trần chúng ta có thể rút ra những
đặc điểm cơ bản sau đây:
Về lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất, nó bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất, trong tư liệu sản
xuất có công cụ lao động và đối tượng lao động. Do đó, khi nghiên cứu về lực
lượng sản xuất thời Lý- Trần chúng ta cần phải đề cập đến những yếu tố đó:
Người lao động triều đại Lý- Trần chủ yếu bao gồm người dân tự do và
nô tỳ. Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua, đất nước dần dần được ổn định và
triều đình cũng quan tâm nhiều đến sự phát triển của kinh tế, đã tạo ra khí thế
lao động hăng say trong quần chúng, tạo ra năng suất lao động cao hơn so với
các triều đại trước, vì thế nhân dân sớm bắt tay vào công cuộc phát triển đất
nước lớn mạnh.
Công cụ lao động dưới thời Lý- Trần cũng có bước phát triển khá

Trong khi lực lượng sản xuất đang phát triển như vậy, nhưng lại bị gò
bó bởi quan hệ sản xuất phong kiến mới hình thành, dẫn đến xuất hiện mâu
thuẫn, biểu hiện mâu thuẫn đó ra bên ngoài xã hội là mâu thuẫn giai cấp giữa
giai cấp địa chủ quý tộc với nhân dân lao động, trực tiếp nhất là các cuộc khởi
nghĩa liên tục xảy ra dưới hai triều đại này.
Trước hết chúng ta cần làm rõ cấu trúc xã hội thời Lý Trần, làm rõ các
giai cấp tầng lớp trong xã hội để từ đó thấy được mâu thuẫn tồn tại trong xã
hội ấy. Khi nghiên cứu lịch sử thời Lý Trần, người ta có thể phân chia xã hội
thành những tầng lớp sau: trước hết là một nhà vua uy quyền tuyệt đối và tập
trung trong tay mình một bộ máy quan liêu, tạo nên một hệ thống chính quyền
nhà nước. Ở tầng dưới là đông đảo quần chúng bình dân (nông dân, thợ thủ
công), quần tụ trong một hệ thống cộng đồng làng xã cũng lấy nhà vua làm
trung tâm điểm. Tầng lớp nô tỳ là tầng lớp cuối cùng của xã hội, tuy khá đông
nhưng tập trung trong các gia đình quý tộc quan liêu, và ít có khả năng trở
thành một đẳng cấp. Vì vậy, trên thực tế chỉ còn hai khối chính: vua quan và
bình dân. Vua quan là đẳng cấp trên, đẳng cấp thống trị, trong khi bình dân là
đẳng cấp bên dưới, đẳng cấp bị thống trị. Nhà vua ở đỉnh tối cao, quan liêu là
tầng lớp thượng lưu tiếp đó, đông đảo quần chúng bình dân tạo nên một mặt
đáy vững chắc, đó là hình ảnh của một cấu trúc kim tự tháp về mặt xã hội học.
Các đẳng cấp này trong thời đại Lý Trần tuy mâu thuẫn chưa thực sự
gay gắt, vì trong giai đoạn đầu tinh thần dân tộc lên khá cao, do đó quân dân
đồng lòng cùng chung sức dựng xây đất nước và chống giặc ngoại xâm, vì vậy
mâu thuẫn được bộc lộ một cách chưa rõ nét, nhưng đã có những dấu hiệu của
mâu thuẫn. Biểu hiện rõ nét nhất đó là sự xuất hiện của các cuộc đấu tranh giai
cấp của nhân dân lao động chống lại tầng lớp quý tộc quan lại, đây là biểu
hiện chính trị từ chính mâu thuẫn trong sản xuất kinh tế thời đại này.
Tiêu biểu cho các cuộc đấu tranh là cuộc khởỉ nghĩa của nhân dân Đại
Hoàng – Ninh Bình vằo năm 1152 do nhân dân Đại Hoàng bị bắt làm phu dịch
xây cửa Đại Thành ( Kinh thành Thăng Long).
Ở thời Trần, đặc biệt ở thế kỷ XIV, nông dân bị mất mùa bán mình làm

tầng(KTTT) bao gồm nhiều yếu tố như tư tưởng, văn hóa, đạo đức, tôn giáo,
giáo dục và nhiều thiết chế xã hội tương ứng. Và giữa các yếu tố này cũng có
sự tác động lẫn nhau
Dưới thời đại Lý- Trần, giáo dục cũng là một trong các yếu tố thuộc
KTTT và chịu sự tác động qua lại của các yếu tố khác, nhưng quan trọng hơn
cả là chịu sự tác động qua lại của tư tưởng truyền thống và tam giáo.
Ngay sau khi triều Lý được xác lập, nền văn hóa của nước Đại Việt
cũng có những bước phát triển mạnh, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Mấy
thế kỷ sau, sự phát triển ấy vẫn còn tiếp tục, đặc biệt bước vào triều đại nhà
Trần sau khi nhân dân ta đã chiến thắng được quân Nguyên Mông.
Trong lĩnh vực văn hóa: Ở thời Lý, nhiều áng văn thơ xuất hiện đặc biệt
là những áng văn thơ chính luận nổi tiếng, trong đó tiêu biểu nhất là bài Chiếu
Dời Đô của Lý Công Uẩn. Bước sang thời Trần, hoạt động này còn sôi nổi
hơn nữa, nổi bật hơn cả là những áng thơ văn thể hiện chủ nghĩa yêu nước và
chủ nghĩa anh hùng dân tộc đã xuất hiện khá nhiều trong nền văn học đương
đại. Điều đáng chú ý là đến nhà Trần chữ Nôm xuất hiện, chứng tỏ rằng nền
văn hóa tư tưởng phát triển đến mức cần phải có tiếng nói và ngôn ngữ dân
tộc mới có thể vươn lên một cách mạnh mẽ, mở rộng việc học tập và nghiên
cứu những tinh hoa văn hóa của dân tộc.
Các ngành nghệ thuật sân khấu ca vũ nhạc cũng có những tiến bộ đáng
kể, đặc biệt để phục vụ cho triều đình cũng phát triển kiến trúc và điêu khắc,
tiêu biểu như nhà Lý cho xây Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Ngành sử học dân tộc cũng xuất hiện đặc biệt với tác phẩm Đại Việt sử
ký toàn thư của Lê Văn Hưu. Một số ngành khoa học tự nhiên cũng có bước
phát triển đáng kể.
Có được những thành tựu đáng kể này không thể phủ nhận công lao của
giáo dục, sự xuất hiện ở thời đại Lý Trần một nền giáo dục có tính chất thế tục
khác hẳn với nền giáo dục của nhà chùa thì điều đó có một ý nghĩa to lớn đối
với sinh hoạt văn hóa và tư tưởng nước Đại Việt, vì nó không những tác động
một cách trực tiếp vào sự hình thành đội ngũ trí thức dân tộc và sự tuyển lựa

Nho sĩ còn thưa thớt, cho nên nhà chùa cũng là nơi tạo ra những tăng sư giữ
vai trò là những trí thức của thời đại. Ở nông thôn, nhà chùa vừa là nơi sinh
hoạt văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng vừa là nơi sinh hoạt văn hóa văn nghệ, đồng
thời cũng là nơi chữa bệnh cho nhân dân. Ở triều đình, nhà sư còn tham gia
vào việc triều chính. Bản thân các nhà vua cũng là các nhà sư, nhà vua Lý
Thánh Tông- Ông vua thứ 3 của vương triều Lý đã trở thành người đứng đầu
của phái Thảo Đường, đến đời vua thứ 3 nhà Trần, Trần Nhân Tông đã lập ra
trường phái thiền Trúc Lâm, trở thành một trong 3 cụ tổ của thiền Trúc Lâm ở
Việt Nam.
Những đặc điểm này đã tạo ra cơ sở quy định Phật giáo chi phối đến đời
sống con người nói chung và giáo dục nói riêng.
Khi thời kỳ Bắc thuộc chấm dứt, bước sang thời kỳ độc lập tự chủ Nho
giáo vẫn chưa mạnh, nhưng nó đã cùng với chữ Hán tồn tại trong xã hội Việt
Nam như một hiển nhiên.
Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu của công
nguyên trước hết nhằm đáp ứng những yêu cầu thống trị của giai cấp phong
kiến phương Bắc đối với nhân dân ta. Nó được sử dụng gắn liền với hoạt động
quản lý xã hội của bộ máy cai trị của kẻ xâm lược. Ảnh hưởng của nó còn hạn
chế, chưa trở thành một lực lượng xã hội đáng kể.
Đến thế kỷ XI, khi vương triều Lý được thành lập, việc củng cố chế độ
phong kiến và phát triển văn hóa phục vụ cho chế độ phong kiến trở thành một
yêu cầu cấp bách thì giai cấp phong kiến cần phải đề cao Nho giáo và sử dụng
Nho giáo và sử dụng Nho giáo như một vũ khí sắc bén trên lĩnh vực chính trị
văn hóa, tư tưởng. Để truyền bá Nho giáo vào Việt Nam, tất yếu phải thông
qua bằng con đường tuyên truyền, giáo dục. Như vậy, giáo dục đã trở thành
một công cụ để ý thức hệ phong kiến thâm nhập vào Việt Nam. Tuy nhiên,
ban đầu Nho giáo chỉ truyền cho con em gia đình địa chủ phong kiến phương
Bắc chứ không ảnh hưởng nhiều đến người Việt bản địa.
Còn Đạo giáo cũng tồn tại một cách thực tế trong xã hội Việt Nam thời
Lý- Trần. Nhưng Đạo giáo phần nhiều ảnh hưởng đến sự mê tín dị đoan trong

giáo dục cũng là một hình thái ý thức xã hội cho nên tất yếu phải phụ thuộc
vào tồn tại xã hội, triều đình có yên thì giáo dục mới được quan tâm đúng
mực. Vì thế, sự thắng lợi của quân dân Đại Việt thời Lý- Trần sẽ là điều kiện,
cơ sở nền tảng cho sự phát triển xã hội.
Mặc dù, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, sự chiến thắng của dân
tộc ta là cơ sở quyết định đến giáo dục, nhưng không có nghĩa giáo dục thụ
động, phụ thuộc hoàn toàn vào tồn tại xã hội, trong chiến tranh giáo dục sẽ là
một nhân tố quan trọng thúc đẩy tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm,
giành giữ độc lập, tự chủ trong dân tộc, và chính trong quá trình tiến hành
chiến tranh đó, những truyền thống lại được phát huy cao hơn nữa, đồng thời
mỗi một con người sẽ củng cố niềm tin hơn về tính chính nghĩa của dân tộc,
tạo điều kiện để đồng lòng quét sạch bè lũ cướp nước và bán nước. Ngoài ra,
chính giáo dục đã tạo ra những nhân vật lịch sử, những nhà lãnh đạo quân sự
thiên tài vạch chiến lược lãnh đạo tạo điều kiện để chiến thắng trước kẻ thù
lớn mạnh. Đặc biệt, những tư tưởng kháng chiến, những đường lối chiến lược
quân sự đã được đúc kết sau mỗi trận đánh. Dĩ nhiên, ông cha ta phải tìm cách
truyền lại những kinh nghiệm kháng chiến đó cho thế hệ đời sau làm theo, để
tiếp nối truyền thống dân tộc đánh giặc ngoại xâm. Để làm được điều đó
không có con đường nào khác là phải cần đến giáo dục, như vậy giáo dục
chính là cầu nối của các thế hệ, làm cho truyền thống dân tộc được nối tiếp
truyền từ đời này qua đời khác, tạo thành một dòng chảy không ngừng nghỉ.
Tóm lại, khi phân tích những điều kiện, cơ sở cho sự ra đời của nền giáo
dục Lý Trần, chúng ta có thể thấy đó là một sự tổng hợp nhiều yếu tố từ kinh
tế- chính trị- văn hóa- xã hội- quân sự. Tất cả những điều kiện này, buộc nền
giáo dục phải xuất hiện đúng thời điểm. Giáo dục không phải là một hiện
tượng tự nhiên mà có, mà nó phải bắt nguồn từ thực tiễn phục vụ cho nhu cầu
của thực tiễn, do thực tiễn quy định. Như vậy, từ sự phân tích này chúng ta có
thể rút ra những kết luận cơ bản sau đây:
Một là: giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội phong
kiến, xây dựng và phát triển quốc gia phong kiến

quát nhất những nhân tố cho sự ra đời của một hiện tượng xã hội trong một
thời kỳ lịch sử nhất định.
2. Đặc điểm giáo dục Việt Nam thời đại Lý- Trần
2.1 Giáo dục và tính chất của giáo dục Việt Nam thời Lý- Trần
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt biểu hiện cho quá trình tác
động có mục đích, có tổ chức có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp
của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong cơ quan giáo dục, nhằm hình
thành nhân cách của họ.
Giáo dục thời đại Lí- Trần cũng là một hệ thống toàn diện liên quan đến
việc tổ chức quá trình tác động của người giáo dục đến người được giáo dục
trong hệ thống giáo dục thời Lí- Trần nhằm hình thành nhân cách cho con
người phù hợp với triều đại phong kiến và bảo vệ tư tưởng của giai cấp phong
kiến mới hình thành và phát triển.
Dựa trên quan điểm này ta có thể rút ra một số tính chất của giáo dục
Việt Nam thời Lí- Trần:
Tính phổ biến: ngay từ khi vương triều Lí xuất hiện, giáo dục đã ra đời,
nó trở thành một bộ phận không thể tách rời của triều đại Lí- Trần, giáo dục có
ở mọi triều đại, tính chất của giáo dục tồn tại theo sự tồn tại của triều đình.
Khi triều đại này thay thế triều đại khác, lực lượng xã hội này thay thế cho lực
lượng xã hội khác thì giáo dục cũng thay đổi theo. Ở mọi nơi mọi lúc đều có
thể diễn ra quá trình giáo dục.
Giáo dục mang tính xã hội, phụ thuộc vào xã hội. Ở mỗi một triều đại
có một đặc điểm kinh tế- xã hội khác nhau cho nên giáo dục cũng khác nhau.
Khi triều đại thay đổi thì nền giáo dục thay đổi theo sự thay đổi đó thể hiện ở
sự thay đổi về mục đích- nội dung- phương pháp hình thức tổ chức dạy học.
Các chính sách phát triển giáo cũng khác nhau.
Giáo dục mang tính giai cấp: giáo dục Việt Nam thời Lí- Trần rõ ràng
là nền giáo dục của giai cấp phong kiến quý tộc. Giáo dục được sử dụng như
một công cụ của giai cấp phong kiến nhằm duy trì lợi ích của giai cấp mình,
những lợi ích này có thể phù hợp hay không phù hợp với các tầng lớp khác, ở

Tuy nhiên ở đây cần phân biệt kỹ lưỡng khái niệm “con người” được
giáo dục. Dưới thời phong kiến khi xác định phạm trù “con người” không phải
là con người nói chung cũng không phải là toàn bộ quần chúng nhân dân lao
động, mà chủ yếu là bộ phận quý tộc, địa chủ. Mặc dù tư tưởng thân dân thời
kì này rất phát triển, in đậm trong thời kì chính trị- xã hội. Nhưng đối tượng
được hưởng nền giáo dục nền giáo dục này vẫn là tầng lớp trên của xã hội,
điều này ta thấy rõ khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam không được nhận, chỉ
lưu hành trong giới quý tộc phong kiến phương Bắc và một bộ phận là người
giàu có bản địa, sau này thông qua quá trình giao lưu trao đổi Nho Giáo dần
dần mới đi sâu vào đời sống Việt Nam và trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong
đời sống của dân Đại việt.
Như vậy, mục tiêu giáo dục của thời đại Lý- Trần không phải mục tiêu
của nên giáo dục quảng đại quần chúng mà chỉ mục tiêu giáo dục cho tầng lớp
trí thức, những tầng lớp trên của xã hội.
Đi sâu hơn nữa ta thấy hai Triều đại Lý- Trần bên cạnh những mục tiêu
giống nhau thì có những mục tiêu khác nhau. Mục tiêu này là điều kiện kinh
tế- chính trị, hoàn cảnh lịch sử khác nhau quy định.
Nếu như ở triều Lý, dân tộc được thống nhất, bắt đầu bắt tay vào công
việc xây dựng quốc gia, phong kiến độc lập, cả dân tộc háo hức, sẵn sàng
tham gia xây dựng và củng cố và phát triển đất nước, do đó mục tiêu giáo dục
trong thời kì này cũng khác, đòi hỏi phải đào ra tạo con người có tri thức vừa
có tinh thần xây dựng quốc gia độc lập, lấy việc xây dựng đất nước và bảo vệ
đất nước là mục tiêu hàng đầu, khi đó một con người tài giỏi là một con người
biết văn, vừa biết lòng trung thành với việc xây dựng triều đình mới.
Bước sang thời kì nhà Trần khi triều đại phong kiến dần dần dược củng
cỗ vững mạnh, giai cấp phong kiến cũng vững mạnh, đặc biệt là việc trải qua
ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, càng làm cho chính quyền phong
kiến vững trắc hơn, lúc này Nho giáo cũng trở thành hệ tư tưởng của triều
đình, cho nên mục tiêu Đào tạo con người cũng khác. Nhìn chung họ lấy ba
mục tiêu cơ bản sau:

Trong giáo dục nhà Lý, tư tưởng Phật giáo được đề cao đặc biệt là hệ tư
tưởng của các thuyết tư đế, duyên khởi, ngũ uẩn, thuyết vô thường, vô ngã.
Những tư tưởng phật giáo này đã được truyền tải nội dung giáo dục và
trở thành nội dung giáo dục quan trọng, đặc trưng cho nền giáo dục Phật giáo
ở thời Lí đầu nhà Trần. Mục đích của nội dung tư tưởng Phật giáo trong giáo
dục là nhằm đào tạo ra những con người mang đầy đủ những nét cơ bản của
Phật giáo.
Phật giáo vẽ ra quá trình tu luyện hoàn thiện bản thân để đại tới trạng
thái Niết bàn, nên một con người sống phải luôn luôn biết hoàn thiện bản thân
mình. Và hoàn thiện bằng cách tu thân tích đức, làm nhiều việc thiện, xóa bỏ
dục vọng, hướng tới điều tốt lành, tránh làm việc ác, gây tổn thương người
khác, có như vậy con người sẽ hạnh phúc, viên mãn. Đây là nội dụng cốt lõi
của Phật giáo, nhà Lý đã lấy nội dung này để giáo dục con người, khiến cho
người được giáo dục hướng thiện đẹp đạo. Tuy nhiên cũng nội dung này khiến
cho con người ảo tưởng thụ động, mất hết tinh thần đấu tranh, và con người
chịu an phận sống yên lành trong cuộc đời này. Khi người được giáo dục hiểu
được nội dung này sẽ tạo ra hành động tương ứng. Họ sẽ làm việc thiện, tốt
đời đẹp đạo và đồng thời họ cũng ủng hộ và đi theo triều đình, sống an phận
chấp nhận địa vị của mình trong xã hội. Mặc dù có nét tiêu cực như vậy nhưng
nôi dung tư tưởng này có giá trị to lớn, nó tạo nên xã hội an bình, tràn đầy tình
thương giữa người với người, mỗi người làm một việc tốt thì cuộc đời này sẽ
là một vườn hoa đẹp đầy hương thơm, chúng sinh nhân loại sẽ dược hạnh
phúc ngay cả trên trần thế này, chứ không chỉ ở thiên đàng nữa. Đây là một
nét đẹp trong giáo dục Phật giáo.
Nét đẹp trong giáo dục thời Lý còn được kế thừa và phát huy sang đầu nhà
Trần, các vua Trần cũng rất coi trọng vấn đề này. Tuy nhiên đến những năm cuối
nhà Trần thì Nho giáo ngày càng lớn mạnh và dần dần thay thế Phật giáo, chiếm vị
thế độc tôn của hệ tư tưởng dân tộc và trong nên giáo dục đất nước.
Ở đây, chúng ta nên phân tích quá trình chuyển biến, nguyên nhân của
chuyển đổi giữa hai hệ tư tưởng này trong giáo dục.

giải quyết?
Trước hết ta cần thấy được một số nét cơ bản, tiền đề của Nho giáo, từ
đó có sự khác biệt so sánh với Phật giáo.
Nho giáo được hình thành từ một xã hội đối kháng giai cấp gay gắt,
truyền vào Việt Nam trong thời đại phong kiến đang lớn mạnh, nó chính là
công cụ cai trị đất nước của giai cấp phong kiến. Nếu Phật giáo hướng đến vấn
đề chính trị-xã hội hướng đến lợi ích sâu xa của các giai cấp, tập đoàn người
và xã hội, do đó không như Phật giáo hài hòa, ổn định Nho giáo cạnh tranh
hơn, khắc nhiệt hơn rất nhiều.
Phật giáo đi vào lòng người bằng tình thương, bằng nội tâm con người.
Còn Nho giáo đến Việt Nam bằng kỉ cương luật lệ, là sự áp đặt từ trên xuống
dưới, sự nhận thức đến hoạt động của con người không xuất phát tự sự tự giác
mà là sự ép buộc, quy định không thể thực hiện, trong Phật giáo khiến con
người ta có cảm giác nhẹ nhàng, thảnh thơi và tự giác thực hiện.
Cả hai cũng chỉ là những giải pháp để xoa dịu đi môi trường sống xã hội
nhưng rõ ràng hai hình thức là hoàn toàn khác nhau. Mặc dù Phật giáo đại đa
số quần chúng tiếp thu, nhưng xét lĩnh vực giai cấp thì Nho giáo là cái mới, là
cái tiến bộ hơn Phật giáo. Từ những cơ sở, điều kiện Nho giáo đã hình thành
cho mình những nét tư tưởng giáo dục cơ bản. Nhìn chung tư tưởng của Nho
giáo là tư tưởng của người thống trị đối với người khác, mang bản chất giai
cấp rõ ràng, có tính trên dưới, xét trên nhiều khía cạnh sau đây:
Tư tưởng chính trị: Nho giáo cho con người ta phải biết “trung quân”
đặt vua lên hàng đầu, phục tùng vua như một vị thần cao nhất. Vua cho sống
thì được sống, vua bảo chết thì phải chết. Đã là thần dân của vua thì phải biết
hi sinh vì triều đình, trung quân ái quốc, nhất nhất phải phục vụ triều đình, con
hoạt động chính trị như là mục đích cao nhất của con người. Học tập và giáo
dục cuối cùng phải đem ra phục vụ triều đình, cho đất nước. Do những nội
dung tư tưởng chính trị là nội dung xuyên suốt, cơ bản, cõi lõi trong giáo duc
Nho giáo.
Tư tưởng về xã hội: Nho giáo cho con người biết phân biệt người trên

Do đó trong giáo dục của Phật giáo con người luôn luôn phải đặt chữ “thiện”
lên hàng đầu. Chỉ có “thiện” mà theo quy luật nhân quả mới đem lại con người
vượt qua biển khổ để đạt tới hạnh phúc. Khi con người làm việc nhân thiện, tu
thân tích đức thì con người sẽ thu được kết quả là cái thiện. Ngược lại nếu con
người làm điều trái, thì người đó sẽ gặp điều ác. Nên dù ai làm nghề gì, ở đâu,
trai hay gái, già hay trẻ đều phải lấy chữ “thiện” làm lẽ sống cho hoạt động
của mình, nội dung này trong Phật giáo được thể hiện rất rõ nét. Tuy nhiên,
kết quả của sự hướng thiện mà Phật giáo vẽ lại ở kiếp sau. Đây là tính chất
duy tâm của Phật giáo. Tuy nhiên, nếu gạt đi tính chất đó giáo dục tính hướng
thiện của Phật giáo lại có ý nghĩa to lớn, là nền tảng, là cội nguồn trong nội
tâm nhân cách của mỗi người sẽ không thể hoàn thiện nếu con người không có
chữ thiện trong mình.
Cũng như Phật giáo, trong giáo dục cuối đời Trần, Nho giáo đề cao con
người, chú ý đến con người.
Nếu trong Phật giáo có tính hướng thiện thì giáo dục Nho giáo đề cao
chữ Nhân. Nhân là lương thiện, cao đẹp, yêu thương con người. Người có chữ
Nhân là người hiểu được đạo trời, thấu được lòng người, được người đời trọng
dụng. như vậy dù chữ “thiện” hay chữ “nhân” thì cả hai đều có ý nghĩa cao
đẹp, nhân văn, đề cao lương chi của con người, thực chất cả hai đều là phương
pháp hành động cho con người. Người có nhân là người thiện, người thiện tức
phải thực hiện điều nhân, giữa hai diều này có mối quan hệ tác động qua lại
với nhau. Chính điều này đã mang cho giáo dục dưới hai triều đại Lý- Trần
một nét đẹp truyền thống dân tộc đó là lòng yêu thương con người, vì con
người. Và cũng giống như Phật giáo, ngoài tính chất tốt đẹp đó trong giáo dục
Nho giáo còn gặp một hạn chế lớn. Đó là việc xem “nhân” không phải là nhân

Trích đoạn Hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong giáo dục Việt Nam hiện đạ Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém: Bài học về việc xác định rõ tính chất của nền giáo dục Việt Nam Bài học về việc xác định rõ mục đích, nhiệm vụ của nền giáo dục Bài học về nội dung của nền giáo dục Việt Nam hiện nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status