Các vấn đề trong ngành công nghiệp điện và điện tử của các nước
ASEAN và các bài học rút ra cho Việt nam
Tháng 08 năm 2005
Hisami Mitarai
Vụ tư vấn kinh doanh châu Á
Viện Nghiên Cứu Nomura
Bài nghiên cứu này xem xét, phân tích chi tiết những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát
triển gần đây của ngành công nghiệp điện và điện tử của Thái Lan, Malaysia, Indonesia
và Philipines. Đối với mỗi quốc gia chúng tôi sẽ tiến hành phân tích chính sách công
nghiệp, quá trình phát triển công nghiệp và và các ưu tiên từ chính phủ từ quan điểm của
các doanh nghiệp Nhật bản .Bài nghiên cứu này cũng cung cấp các bài học kinh nghiệm
tham khảo cho Việt nam trong tình hình ngành công nghiệp điện và điện tử của Việt nam
còn trong giai đoạn đầu của sự phát triển. Những thông tin trong bài nghiên cứu này được
đưa ra dựa vào quá trình nghiên cứu lâu dài và quá trình làm việc tư vấn trong ngành
điện và điện tử của các nước khu vực Đông Á của tác giả. Những thông tin trong bài viết
cũng được cập nhật nhiều hơn từ những nghiên cứu chuyên sâu cho tổ chức hợp tác quốc
tế Nhật Bản (JICA) trong các năm 2003 và 2004.
I .Thái Lan
1.Chính sách công nghiệp.
Trong suốt thập kỷ 70 Thái Lan đã thực hiện chính sách khuyến khích xuất khẩu cho
ngành điện và điện tử thông qua những khuyến khích về thuế cho xuất khẩu. Theo sau
Thoả Thuận Plaza năm 1985, Thái Lan phát triển nguồn điện, các khu công nghiệp và các
cơ sở hạ tầng khác đồng thời thực hiện những cả
i cách luật pháp bao gồm luật liên quan
đến tỷ lệ góp vốn để đảm bảo môi trường sản xuất kinh doanh tự do cho các công ty nước
ngoài. Điều này đã đưa đến kết quả là một số lượng lớn các nhà đầu tư với định hướng
xuất khẩu đầu tư vào Thái Lan từ Nhật Bản và nhiều quốc gia khác. Kể từ đó, đầu tư
nước ngoài vào Thái lan tăng lên liên tục cho đến giữa thập kỷ 90 khi mà nền kinh tế
Sự ra đời và vai trò của Viện Điện và Điện Tử (EEI) đối với sự phát triển công nghiệp
điện và điện tử ở Thái Lan.
Viện Điện và Điện Tử ( VĐ&ĐT ) được thành lập vào năm 1998 bởi Bộ Công Nghiệp
như là một cơ quan độc lập với mục đích phục vụ lợi ích chung cho ngành điện và điện tử
như là một trong những kế hoạch hành động cụ thể nhằm thay đổi cơ cấu ngành công
nghiệp. Một số chức năng như vi
ệc thiết lập các chính sách cho các ngành khác, dự thảo
ngân sách và các dịch vụ dành cho các doanh nghiệp tư nhân đã được chuyển từ Bộ Công
Nghiệp sang VĐ&ĐT. Bảy Viện với chức năng vai trò tương tự như viện điện và điện tử
, bao gồm một viện phụ trách về ngành công nghiệp ô tô cũng, cũng được thành lập.
VĐ&ĐT bắt đầu hoạt động vào đầu nă
m 1999, đóng vai trò là cơ quan chính phủ thúc
đẩy ngành điện và điện tử của Thái Lan phát triển. Nó cũng đóng một vai trò vô cùng
quan trọng trong việc tạo ra cầu nối giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước cũng như
phối kết hợp lợi ích từ việc hợp tác giữa các công ty tư nhân với nhau.
Nguồn kinh phí cho hoạt động chính của Viện Điện&Điện Tử là từ các khoản phí từ việc
kiểm tra và cấp giấy xác nhận chất lượng cho sản phẩm điện , điện tử của các doanh
nghiệp; các khóa đào tạo và tập huấn kỹ thuật; các dịch vụ tư vấn. Từ năm 2004 khi Viện
này trở thành một cơ quan độc lập thì nó bắt đầu gặp phải hàng loạt các vấn đề khó khăn
như việc việc đảm bảo kinh phí cho hoạt động của Viện cũng như cho việc duy trì trình
độ, thiết bị công nghệ cao cho việc kiểm tra các tiêu chuẩn về an toàn. Tổng công ty phát
triển Hải Ngoại của Nhật Bản (JODC) đã tiến hành một nghiên cứu liên tục về vai trò
chức năng của Viện Điện&Điện Tử và đã đưa ra một số nhận xét trong các lĩnh vực
được chỉ ra dưới đây, tuy nhiên những vai trò đó vẫn chưa được thực hiện:
Chất lượng sản phẩm, những kiểm tra về môi trường và độ an toàn liên quan đến ngành
điện và điện tử ( ví dụ : như việc chuyển giao các cơ sở, thí nghiệm từ TISI )
Cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất, công nghệ và hỗ trợ bán hàng.
Tạo một khung hợp tác giữa các ngành do nhà nước quản lí và các ngành do tư nhân quản
lí với các ban ngành liên quan ở Thái Lan và các nước khác.
Honda
Hình 1. Cơ cấu tổ chức của công viên khoa học công nghệ của Thái Lan. Nguồn: Trang chủ của CQCLKH&CNQG.
2. Khái quát về ngành công nghiệp điện và điện tử của Thái Lan
Ở Malaisia ngành công nghiệp điện tử phát triể
n mạnh mẽ và gặt hái nhiều thành công
nhờ vào vào mối liên hệ, liên kết hợp tác giữa các nhà sản xuất linh kiện và các nhà lắp
ráp các sản phẩm điện tử của Nhật Bản. Ngược lại, hầu như các công ty đang hoạt động ở
Thái Lan không phụ thuộc nhiều vào nhau. Trong nước, có nhiều công ty nước ngoài sản
xuất đồ điện gia dụng như tủ lạnh, điều hòa, tivi, máy quay phim và các thiết bị thông tin
và cũng có nhiều nhà sản xuất linh kiện cho các sản phẩm điện tử nghe nhìn và, các sản
phẩm cho ngành công nghệ thông tin và viễn thông. Tuy nhiên, đặc điểm của ngành điện
và điện tử ở Thái Lan là các doanh nghiệp này hoạt động một cách độc lập với nhau.
Đồng thời số lượng các công ty tập trung vào sản xuất các sản phẩm điện và cơ khí như
máy in và các phụ kiện của nó có số
lượng nhiều hơn các công ty sản xuất các sản phẩm
Với sự nổi lên của Trung Quốc và việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do Đông Nam
Á ( AFTA), Thái Lan đang điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất của ngành điện và điện tử mặc
dù Thái Lan bị ảnh hưởng bởi chính sách khuyến khích đầu tư phát triển có lựa chọn theo
quốc gia của các công ty Nhật Bản trong khu vực ASEAN, điều này không có nghĩa là
Thái Lan kém năng lực cạn tranh so với Trung Quốc trong lĩnh vực nhân công và chi phí
hậu cần cho sản xuất kinh doanh. Trên thực tế quá trình tái cơ cấu đang cho thấy rõ Thái
Lan là trung tâm xuất khẩu hàng gia dụng như tủ lạnh , điều hòa nhiệt độ, máy giặt và
thiết bị thông tin. Đáng chú ý ý là công ty Seagate có trụ sở ở Mỹ gần đây đã tuyên bố
những kế hoạch xây dựng một nhà máy sản xuất đĩa cứng máy tính ở Thái Lan. Ngoài ra
còn có sự dịch chuyển đầu tư tương tự ví dụ như trường hợp của các công ty trách nhiệm
hữu hạn Fujitsu và Hitachi. Thái Lan đang dần thay thế Sinhgapo để trở thành một trung
tâm chính sản xuất đĩa cứng máy tính.
Hình 2. Xu hướng sản xuất của ngành điện-điện tử Thái Lan
0.0
2.0
4.0
6.0
8.0
10.0
12.0
14.0
16.0
18.0
20.0
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Billion Dollar
Nguồn : Niên giám thống kê ngành điện tử thế giới ( Year Book of World Electronics
Data trên thế giới hàng năm ( Viện nghiên cứu điện tử READ) và từ các số của tạp chí
thống kê tài chính 0.0
2.0
4.0
6.0
8.0
10.0
12.0
14.0
16.0
18.0
20.0
199 199 199 199 199 200 200 200 200
0
Nguồn : Xem bảng 2
3. Những ưu đãi dành cho các công ty Nhật Bản.
Trong khi các công ty Nhật Bản đang góp phần to lớn vào sự phát triển công nghiệp điện
và điện tử của Thái Lan thì họ cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề khác nhau từ khung
luật pháp, chính sách đến sự thiếu phát triển của của công nghiệp phụ trợ cũng như sự
thiếu hụt nguồn nhân lực. Những giải pháp cơ bản cho vấn đề này vẫn chưa được đưa ra
mặc dù đã đã có những cố gắng từ phía chính phủ Thái Lan và nguồn vốn ODA của Nhật
Bản.
Khung chính sách và thể chế pháp lí
Đề cập đến khung chính sách luật thì Thái lan đã có nhiều luật điều chỉnh hoạt động đầu
tư cũng như các cơ quan chính phủ tham gia việc việc thực thi các luật trên. Tuy nhiên
mức độ phạm vi tham gia của cơ quan chính phủ và các quan chức tham gia vào việc
thực thi những luật này có những sai khác đáng kể. Điều này đã gây ra những phiền toái
nghiêm trọng trong hoạt động kinh doanh của nhiều công ty Nhật Bản. Ví dụ như các
công ty nước ngoài được Ủy Ban Đầu Tư (BĐT ) thừa nhận thì trên lí thuyết được phép
nhập khẩu vật liệu mà không phải nộp thuế. Tuy nhiên trên thực tế chính sách này chỉ
hoàn lại thuế nhập khẩu cho doanh nghiệp tại thời điểm các doanh nghiệp đưa ra chứng
Thái Lan Các nước ASEAN khác Tỷ trọng
ty đã chỉ ra rằng việc hoàn lại thuế nhập như vậy đôi khi bị trì hoãn một cách tuỳ tiện.
Ngoài ra chính phủ thay đổi mức thuế suất nhập khẩu, các công ty bị yêu cầu phải trả
khoản chênh lệch giữa mức thuế cũ và mới trước đây và điều này xảy ra rất thường
xuyên. Vì thế tính bền vững của chính sách luôn được quan tâm. Phần lớn các công ty
đang hoạt động ở Thái Lan gồm cả những công ty hoạt động trong ngành điện và điện tử
đang phải đối mặt với những phiền toái này và đang kêu gọi sự điều chỉnh phù hợp. Mặc
dù nhiệm vụ chính của Ủy Ban Đầu Tư (BĐT) là thu hút các công ty nước ngoài đến
Thái Lan nhưng giờ đây chính là lúc mà Ủy Ban Đầu Tư nên dành nhiều quan tâm hơn
tới việc cung cấp các dịch vụ theo dõi hỗ trợ thường xuyên cho các công ty nước ngoài
mà đã có mặt tại Thái Lan.
Sự kém phát triển của công nghiệp phụ trợ
Đối với các công ty Nhật Bản đang hoạt động ở Thái Lan và mong muốn khuyến khích
sự phát triển các doanh nghiệp Thái Lan thì việc cung cấp những nguyên tắc kinh doanh
cho các doanh nhân Thái Lan là cần thiết để nhận ra nguyên tắc QCĐS ( chất lượng, giá
cả, phân phối, dịch vụ ). Điều này có lẽ còn quan trọng hơn cả công nghệ sản xuất, nâng
cấp thiết bị và máy móc sản xuất. Việc nâng cấp có thể đạt được bằng việc tăng nguồn
nhân lực và tăng thêm vốn đầu tư. Ngược lại đầu óc kinh doanh thì ăn sâu vào và trở
thành đặc điểm của người dân Thái Lan. Để thay đổi được điều này thì cần phải có một
số biện pháp cơ bản nhất định như là cải cách toàn diện hệ thống giáo dục là điều hết sức
cần thiết.
Ở Thái Lan từ lâu người ta đã nhận cần phải khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ
tuy nhiên nhu cầu cấp bách này đang trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết khi đất nước này
theo đuổi chiến lược đang hướng ra xuất khẩu. Một số việc chuyển giao công nghệ và
đào tạo tay nghề đã được thực hiện trong các lĩnh vực nhựa và thiết bị kim loại , những
ngành đó cần sự chính xác tương đối thấp. Tuy nhiên các trình độ về sản xuất linh kiện và
nguyên vật liệu, công nghệ xử lí bề mặt như phun sơn và mạ cho các linh kiên dùng trong
các sản phẩm điện tử xuất khẩu vẫn còn rất. Lĩnh vực này cần phải được hỗ trợ nhiều hơn
Đảm bảo nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực mà các công ty Nhật Bản trong ngành điện và điện tử cần nhất là kỹ sư
thiết kế, sản xuất và hệ thống thông tin cũng như cán bộ quản lí gồm có các kế toán.
Chẳng hạn như trong khi họ muốn tuyển các kỹ sư thiết kế và kế toán có tài, thì rất ít
trường đại học ở Thái Lan có khoa khoa học cơ bản, kỹ sư hoặc kế toán. Khi có nhu cầu
lớn về một loại lao động nào đó thì số lượng lại rất hạn chế vì thế rất khó cho các công ty
có thể đảm bảo tuyển được các cán bộ có tài. Để giải quyết vấn đề này các công ty phải
đưa ra một cơ chế khuyến khích như trả thêm lương cho những người làm việc tốt hơn,
tuy nhiên do lề lối quản lí lao động cũ nên hầu như không thể làm cho liên đoàn lao
động
chấp thuận sự chênh lệch lớn về lương ( trả cho lao động ) trong một công ty. Ở Thái Lan
có khoảng 70 trường đại học gồm Chulalongkorn, Thamasat và Viện Công Nghệ Hoàng
Gia Mongkut đào tạo các sinh viên ngành khoa học cơ bản và xây dựng. Mặc dù nếu chỉ
tính các trường đại học quốc gia và đại học công khác thì số lượng các sinh viên tốt
nghiệp ngành khoa học và xây dựng ước tính hàng năm chỉ vào khoảng hơn 20000 sinh
viên, trong đó có khoảng 10000 họ
c chuyên ngành hoá hoặc khoa học và chỉ khoảng 10
000 theo lĩnh vực xây dựng như kỹ sư điện, kỹ sư cơ khí. Ngược lại, ở Trung Quốc có
1225 trường đại học với số lượng sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành khoa học và xây
dựng hành năm là trên 450 000 sinh viên ( số liệu năm 2001 ) . Trong khi việc tuyển
dụng các kỹ sư có tài với lương thấp tương đối dễ dàng ở Trung Quốc , thì các công ty
hoạt động ở Thái Lan hầu như không biết liệu họ có thể thuê được các kỹ sư có năng lực
cao hay không thậm chí nếu có tìm thấy các ứng viên đó thì các công ty cũng phải trả
lương rất cao.
Hiện nay có một kế hoạch đang được tiến hành với sự giúp đỡ của Bộ Kinh Tế Thương
Mại và Công Nghiệp Nhật Bản (METI) để thiết lập một tổ chức trong tương lai gần nhằm
đào tạo công nhân cho các công ty Nhật Bản đang hoạt động ở Thái Lan. Chương trình
giảng dạy theo như đã thảo luận sẽ kéo dài từ 3 đến 6 tháng vừa lí thuyết và thực hành
trong các lĩnh vực quản lý ( kế toán, quản lý lao động, các công việc liên quan đến luật
Xấp xỉ 50 trung tâm đào tạo nghề trên khắp cả nước ( trung
tâm RISD được thành lập năm 1994, PCSD năm 1999 )
Trong ngành điện và điện tử, đào tạo để vận hành máy tính,
các công việc liên quan đến điện, sửa chữa tivi và máy điều
hoà..
2.Cục phát triển công nghiệp phụ trợ
-Tiền thân là trung tâm đào tạo vận hành cơ khí máy móc
thành lập năm 1998
-Với sự giúp đỡ của JICA (1999-2004), tập trung vào thúc
đẩy ngành chế biến nhựa và khuôn đúc
3.Viện hợp tác công nghệ Đứ
c-Thái Lan(TGI)
-Được thành lập dưới một dự án chung giữa chính phủ Thái
Lan và Đức vào năm 1995
-Đào tạo kỹ năng trong 3 lĩnh vực: tự động hóa, CAD/CAM,
và thiết kế khuôn kim loại cho dập và gia công nhựa
4. Trung tâm đào tạo kỹ thuật Ayutya
-Một liên doanh giữa công ty Canon và Viện Công nghệ
King MongKuk, thành lập năm 1992 tại Công viên công
nghệ Ayuatta, bắc Bangkok
-Đào tạo tự động hóa,điện, điện tử, và gia công nhựa, CNC
5. Hi
ệp hội xúc tiến công nghệ ( Thái Lan – Nhật Bản)
(TPA)
-Một tổ chức thành lập với sự giúp đỡ của Bộ Công Nghiệp
Thương Mại Nhật (METI) và hội phát triển kinh tế Thái
Nhật
-Tổ chức các hội nghị chuyên đề về quản lý sản xuất, công
nghệ thông tin, tiêu chuẩn chất lượng và các lĩnh vực
quản
chịu ảnh hưởng với các thúc ép tử quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF) và bây giờ đang phát huy tác
dụng, tạo tiền đề cho con đường phát triển khi Malaysia tiến vào thế kỷ 21.
Chính sách kinh tế dựa vào sự hấp thụ của vốn nước ngoài và đã chứng minh đã thành
công, và Malaysia đang trở thành người dẫn đầu về phát triển kinh tế trong khu vực
ASEAN.Tuy nhiên , với đặc thù là một quốc gia đa chủng tộc với người Mã Lai chiếm
tới 60% dân số, người Trung Quốc chiếm 20% còn lại là người Ấn và các dân tộc khác
20% . Chính sách kinh tế hướng về cộng đồng thiểu số Bumiputra với mục đích tăng vai
trò và địa vị của người Mã lai, đã có những tác động cả thuận lợi và không thuận đối với
đất nước. Đối lập với những dự định hồi đó của thủ tướng Mahathir, xã hội Malaysia đã
đối xử ưu đãi thiên vị người Mã Lai trong kinh tế , chính trị . Trong bối cảnh đó, vô hình
chung nền kinh tế và các doanh nghiệp đã không phổ biến triết lý sản xuất ( monodukuri)
mà các công ty Nhật bản tìm kiếm. Kết quả là không có nhiều các kỹ thuật công nghệ cao
đuợc chuyển giao cho những doanh nghiệp của người bản địa.
Với nguồn lực lao động có hạn và sự yếu kém dần năng lực cạnh tranh, chính phủ đã
công bố một chính sách chuyển dịch nền kinh tế dựa vào sản xuất ( P-Economy) sang nền
kinh tế dựa trên tri thức(K-economy) trong khoảng thời gian giữa thập niên 90 với mục
tiêu thoát khỏi nền kinh tế phụ thuộc vào các ngành công nghiệp lắp ráp phụ thuộc vào
vốn đầu tư từ nước ngoài. Mặc dù các doanh nghiêp của Malaysia dường như có vị trí
tương đối tốt khi cạnh tranh với các doanh nghiệp Trung Quốc do nhờ vào một hệ thống
rộng lớn của các công ty Nhật bản và các công ty nước ngoài, nó vẫn thay đổi mạnh mẽ
chính sách đầu tư nước ngoài sau cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Những dự định của
Malaysia giờ đây là chuyển dịch sang phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng
cao thông qua đầu tư vào nghiên cứu và phát triển và đầu tư vào công nghệ thông tin.
Malaysia đang nỗ lực rất lớn để tạo ra Hành lang siêu xa lộ thông tin được đưa ra từ giữa
năm 1990.
Chính sách “ Hướng Đông Á”
Trong quá trình thiết kế phát triển chiến luợc xây dựng quốc gia, thủ tướng Mahathir đã
chọn lựa chính sách “ Hướng Đông Á” vào năm 1981 với mục đích học tập kinh nghiệp
Nguồn : Ngân hàng phát triển hải ngoại Nhật Bản (JBIC).
Ghi chú: Chính sách Hướng Đông của Malaysia bao gồm các chương trình (i) Chương
trình đào tạo học thuật (AEP); (ii) Chương trình đào tạo kỹ thuật (TEP); (iii) Chương
trình học tiếng Nhật cho các giáo viên Malaysia (JLPMT); (iv) Chương trình đào tạo kỹ
thuật-công nghiệp trong nhà máy (công nghệ thông tinTP); (v) Chương trinh đào tạo
ngắn ngày cho các doanh nhân quản lý (STME); (vi) Chương trình đào tạo quản trị kinh
doanh và chương trình kèm với các công ty Nhật Bản; (vii) Học bổng do tổ chức, chính
phủ Nhật tài trợ.
Sáng kiến hành lang siêu xa lộ thông tin
Mặc dù Malaisia tiếp tục là một trung tâm sản xuất chính của công nghiệp điện và điện tử
trong khu vực ASEAN, nhưng nó đang bị cản trở bởi hai vấn đề chính (i) mạng lưới các
ngành công nghiệp phụ trợ gây ra sự phụ thuộc vào các sản phẩm nhập khẩu nguyên vật
liệu và phụ tùng; (ii) tình trạng khan hiếm lực lượng lao động gây nên chi phí lao động
cao. Như là một phần trong chương trình Siêu xa lộ
thông tin, chính phủ đã công bố
chính sách thúc đẩy lĩnh vực điện và thiêt bị viễn thông-phần mềm. Điều này có nghĩa là
sự chuyển dịch sản xuất thiết bị điện và thiết bị hàng điện dân dụng tiêu dùng sang các
linh vực khác . Trong bất cứ trường hợp nào, bởi vì khu vực tự do mậu dich ASEAN(
AFTA) sẽ buộc các quốc gia tập trung vào những lĩnh vực mà có lợi thế cạnh tranh do
vậy không sớm thì muộn, tốc độ sản xuất các hàng hóa thiết bị điện tiêu dùng thông dụng
sẽ có xu hướng giảm xuống.
Others
(
Kuala Lumpur ở Sepang ở phía nam. Trung tâm này tổng cộng có 8 dự án đặc biệt bao
gồm một trung tâm y tế từ xa, một trường học chất lượng cao, các cơ sở nghiên cứu
R&D, trung tâm đa chức năng và chính phủ điện tử. Các công ty liên quan đến bất kỳ một
trong những dự án trên được những ưu đãi như được lựa chọn miễn 100% thuế đầu tư
hoặc là ưu đãi cho các nhà đầu tư tiên phong trong vòng 10 năm. Các công ty này cũng
được phép tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài khi cần thiết.
Bảng 02. Hành lang siêu xa lộ thông tin: Các doanh nghiệp tham gia Nguồn: MSC
Hình 5. Hành lang siêu xa lộ thông tin: Tham gia phân theo ngành (tháng 11. 2002)
1997
1998 1999 2000 2001
2002/11
Mala
ysian capita i50%< j
47 84 181 276 410
522
Forei
80
100
120
140
160
Phần cứng – Điện tử
Linh phụ kiện, thiết bịKinh doanh bằng Internet, Dịch vụ/
Cung ứng thương mại điện tử
Phát triển
phầm mềm kinh doanh
Phát triển phần mềm
Ứng dụng kỹ thuậtHệ điều hành
Viễn thông
Các ngành khác
Số lượng
i gọi các dự án mới theo sau. Hiện tại, Malaysia có
14 khu chế xuất và 200 khu công nghiệp mà hầu hết được xây dựng do sự quản lý và
khuyến khích của chính phủ địa phương. Hình 6. Xu hướng sản xuất của ngành công nghiệp điện và điện tử Malaysia
Nguồn: Niên giám số liệu thống kê ngành điện tử thế giới; các số của Tạp chí thống kê
tài chính Hình 7. Thị phần của ngành điện và điện tử của Malaysia’ trong khu vực ASEAN
30.0
35.0
40.0
%
Malaysia O ther A sean C ountries Ratio
0.0
5.0
10.0
15.0
20.0
25.0
30.0
35.0
40.0
45.0
50.0
199 199 199 199 199 200 200 200 200
Tỷ
đô-la