giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng tmcp đông nam á chi nhánh hà nội - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG
NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ
PHẦN ĐÔNG NAM Á CHI NHÁNH HÀ NỘI
SINH VIÊN THỰC HIỆN : PHẠM THANH TÂM

MÃ SINH VIÊN
: A16448

CHUYÊN NGÀNH
: NGÂN HÀNG

HÀ NỘI - 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG
NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ

Sinh viên Phạm Thanh Tâm

MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN
DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI
1
1.1. Tín dụng Ngân hàng và vai trò của tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế 1
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng Ngân hàng 1
1.1.2. Chức năng của tín dụng Ngân hàng 2
1.1.3. Phân loại tín dụng Ngân hàng 3
1.1.4. Vai trò của tín dụng Ngân hàng 4
1.2. Tín dụng ngắn hạn và các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng tín dụng ngắn hạn
trong nền kinh tế 5
1.2.1. Tín dụng ngắn hạn và vai trò của tín dụng ngắn hạn 5
1.2.2. Chất lượng tín dụng, các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng 8
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á CHI NHÁNH HÀ NỘI 21
2.1. Giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Hà Nội 21
2.1.1. Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh
Hà Nội 21
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Hà Nội 21
2.2. Tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Hà Nội
từ năm 2010-2012 22
2.2.1. Tình hình huy động vốn 22
2.2.2. Tình hình sử dụng vốn 25

3.3.3. Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Đông Nam Á SeABank 72
3.3.4. Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Hà Nội 73
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
Tên đầy đủ
HTX
Hợp tác xã
LN
Lợi nhuận
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
TMCP
Thương mại cổ phần
TSCĐ
Tài sản cố định
TSLĐ
Tài sản lưu động
USD
Đô la Mỹ
VNĐ
Việt Nam đồng


Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á
chi nhánh Hà Nội 22
Sơ đồ 2.2 Quy trình cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á 32
LỜI MỞ ĐẦU
Tín dụng là chức năng quan trọng nhất của các tổ chức trung gian tài chính, là
dịch vụ sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro nhất của
các Ngân hàng thương mại và các định chế tài chính khác. Trong bối cảnh sự phát
triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá ngày càng tăng, hoạt động tín dụng cần phải
được phát triển sao cho phù hợp nhằm đáp ứng được những nhu cầu ngày càng tăng
trong xã hội. Nhưng vấn đề là phải đảm bảo chất lượng tín dụng như thế nào để Ngân
hàng thương mại hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.
Tín dụng có chất lượng sẽ góp phần tăng chất lượng sản xuất kinh doanh và tạo
một thị trường tài chính lành mạnh. Chất lượng tín dụng được đảm bảo cũng có nghĩa
là Ngân hàng đang trên đà phát triển vốn, nhờ vậy mà có điều kiện đáp ứng yêu cầu về
vốn cho sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Nâng cao chất lượng tín dụng, tình hình tài chính của Ngân hàng thương mại
được cải thiện, tạo ra những thế mạnh trong quá trình cạnh tranh, giúp cho Ngân hàng
tránh và hạn chế những rủi ro, tổn thất to lớn có thể xảy ra, góp phần làm lành mạnh
hoá các quan hệ tín dụng và tạo điều kiện để mở rộng các quan hệ tín dụng. Chất
lượng tín dụng quyết định cho sự tồn tại và phát triển của từng Ngân hàng thương mại
nói riêng và toàn bộ hệ thống Ngân hàng nói chung.
Qua những vấn đề được phân tích ở trên ta thấy rõ được sự cần thiết của việc
củng cố tăng cường nâng cao chất lượng tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Từ
thực tế ở Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeA Bank) chi nhánh Hà Nội, sau thời gian
học tập và những kiến thức tích lũy được tại đại học, em đã chọn đề tài : “ Giải pháp
nâng cao chất lƣợng tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi
nhánh Hà Nội”.
1. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Đề tài đề cập đến những vấn đề cơ bản lý luận về hoạt động tín dụng nói chung
và hoạt động tín dụng ngắn hạn nói riêng, làm rõ vai trò của tín dụng Ngân hàng
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN
DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Tín dụng Ngân hàng và vai trò của tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng Ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tín dụng, tuy nhiên một cách chung nhất có
thể hiểu, tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển
giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên
nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền hoặc
tài sản với điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận. Tín dụng được cấu thành từ sự kết
hợp của ba yếu tố chính là: lòng tin, thời hạn của quan hệ tín dụng, sự hứa hẹn hoàn
trả.
Từ khái niệm về tín dụng ta có thể đưa ra một quan niệm chung về tín dụng ngân
hàng như sau: Theo giáo trình “Tín dụng ngân hàng” của NXB Thống Kê Thành Phố
Hồ Chí Minh năm 2005 thì tín dụng ngân hàng là một quan hệ kinh tế giữa Ngân hàng
và khách hàng, trong đó Ngân hàng chuyển giao tiền hay tài sản cho khách hàng trong
một thời gian nhất định với những thỏa thuận hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời
gian nhất định giữa khách hàng và ngân hàng.
1.1.1.2 Đặc trưng của tín dụng Ngân hàng
Từ định nghĩa trên về tín dụng ta rút ra một số đặc trưng của tín dụng ngân hàng
như sau :
Thứ nhất: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng mang tính tạm thời. Đối tượng
của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hoá dưới hình thức kéo dài thời
gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hoá. Tính chất tạm thời của sự chuyển
nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Nó là kết quả của sự thoả thuận
giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp thời gian
nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó. Sự thiếu phù hợp của thời gian

sang đơn vị thiếu vốn với điều kiện hoàn trả cả vốn lẫn lãi vay sau một thời gian nhất
định.
Thứ hai: Với tư cách là trung gian chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu nên
tín dụng Ngân hàng đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế, góp phần giúp
cho việc sử dụng vốn trong nền kinh tế có hiệu quả hơn, góp phần tăng tốc độ tăng
trưởng.
Thứ ba: Tín dụng Ngân hàng thực hiện chức năng giám đốc. Đối với mỗi nền
kinh tế, Ngân hàng trung ương đảm nhiệm việc quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ,
tín dụng, Ngân hàng trong cả nước nhằm ổn định giá trị tiền tệ. Như vậy, đối với mỗi
hoạt động của Ngân hàng thương mại việc ban hành chính sách, quy định hướng dẫn
cụ thể là cần thiết và các Ngân hàng thương mại có trách nhiệm thi hành những chính
sách đó. Tín dụng Ngân hàng được sử dụng như một công cụ quản lý tích cực vì mỗi
hoạt động của Ngân hàng đều có ảnh hưởng to lớn đến lượng tiền trong nền kinh tế.
Như vậy, tín dụng Ngân hàng là công cụ để điều tiết lưu thông tiền tệ và là công cụ để
nhà nước kiểm soát hoạt động của các đơn vị kinh tế.
2
1.1.3. Phân loại tín dụng Ngân hàng
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo nhóm dựa trên một số
tiêu thức nhất định. Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập
quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Trong quá
trình phân loại có thể sử dụng nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng song thực tế các
nhà kinh tế học thường phân loại tín dụng theo các tiêu thức sau đây:
1.1.3.1 Thời hạn tín dụng
Căn cứ vào tiêu thức này có thể chia tín dụng ra làm ba loại :

Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản
cố định, nghĩa là đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kĩ thuật mở rộng
sản xuất, xây dựng xí nghiệp và công trình mới. Hình thức tín dụng này thường có
mức độ rủi ro cao hơn vì khả năng thu hồi vốn chậm hơn.
Cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho
nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một
nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong
cuộc sống như nhà ở, phương tiện, đồ dùng gia đình… Bên cạnh đó những nhu cầu chi
tiêu cho giáo dục, y tế, du lịch cũng được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng.
1.1.3.3 Tính chất của tín dụng
Dựa vào tiêu thức này tín dụng được chia làm 2 loại :
Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng được thực hiện thông qua việc mua
lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Đây là
loại tín dụng có mức độ rủi ro lớn vì Ngân hàng không có đầy đủ thông tin về bên đi
vay, hơn nữa các doanh nghiệp hầu như không có kinh nghiệm trong việc cấp tín dụng
cho khách hàng của mình.
Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó Ngân hàng cấp vốn trực
tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho Ngân
hàng. Mức độ rủi ro trong trường hợp này thấp hơn vì Ngân hàng có thể gặp trực tiếp
khách hàng và nó được thực hiện bởi những cán bộ có nghiệp vụ và kinh nghiệm trong
việc cung cấp tín dụng.
1.1.4. Vai trò của tín dụng Ngân hàng
Trong điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, có sự điều tiết vĩ
mô của nhà nước, tín dụng nói chung và tín dụng Ngân hàng nói riêng có vai trò hết
sức quan trọng.
Tín dụng Ngân hàng phục vụ sự phát triển của nền kinh tế nói chung và các đơn
vị kinh tế nói riêng. Thực hiện chức năng phân phối lại (cho vay ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn), tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế dự trữ vật tư,
hàng hoá, tăng thêm giá trị TSCĐ, TSLĐ mà đơn vị đã sử dụng, do vậy tín dụng góp
phần tăng nhanh tốc độ chu chuyển vật tư, hàng hoá trong nền kinh tế, rút ngắn thời

Theo quyết định 127/2005/QĐ – NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam: Tín dụng ngắn hạn là khoản cho vay có thời hạn và được sử dụng nhằm đáp
ứng cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đời sống. Thời hạn đối với tín dụng ngắn hạn
được tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận tối đa là 12 tháng, được xác định phù
hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.
1.2.1.2 Đặc trưng của tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn ngoài mang những đặc trưng của tín dụng Ngân hàng còn có
những đặc điểm riêng sau :
5 Tín dụng ngắn hạn là nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng thương mại vì thời
gian cho vay đến 12 tháng. Chính loại vay này giúp cho Ngân hàng giữ được khả năng
thanh toán vì nó tương thích với kết cấu nguồn vốn của Ngân hàng thường là tiền gửi
tiết kiệm dưới 12 tháng.
Lãi suất cho vay ngắn hạn thường nhỏ hơn lãi suất cho vay dài hạn vì mức độ
rủi ro của tín dụng ngắn hạn thường thấp hơn so với tín dụng trung và dài hạn.
1.2.1.3 Các hình thức tín dụng ngắn hạn của NHTM
Một là: Chiết khấu chứng từ có giá
Các chứng từ có giá ở đây có thể là hợp đồng mua bán, các giấy tờ có giá
(thương phiếu, trái phiếu, tín phiếu kho bạc, công trái) hoặc mua bán lại các khoản nợ.
Các doanh nghiệp cung cấp nguyên vật liệu hoặc hàng hoá theo hợp đồng thấy cần vốn
cho các hoạt động của họ trong khi chờ nhận tiền theo một hợp đồng họ có thể nhượng
lại bản hợp đồng cho Ngân hàng như một vật bảo đảm cho một khoản vay ngắn hạn tại
Ngân hàng. Ngân hàng sẽ mua các giấy tờ có giá trị trừ đi phần lợi tức chiết khấu và
hoa hồng phí. Đến thời hạn thanh toán của giấy tờ có giá Ngân hàng đòi người mắc nợ
theo giá trị của giấy tờ có giá mà Ngân hàng đã thực hiện chiết khấu.

tiền thay cho bên được chấp nhận bảo lãnh, thực hiện đúng các nghĩa vụ đã thoả thuận
với bên yêu cầu bảo lãnh, được quy định cụ thể tại thư bảo lãnh của Ngân hàng. Mặt
khác bên được bảo lãnh có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ những cam kết của mình với bên
yêu cầu bảo lãnh cũng như Ngân hàng bảo lãnh.
1.2.1.4 Vai trò của tín dụng ngắn hạn đối với nền kinh tế
Tín dụng ngắn hạn có vai trò to lớn trong nền kinh tế. Trong hoạt động kinh
doanh tiền tệ của Ngân hàng nghiệp vụ tín dụng giữ vai trò trọng yếu, tác động đến sản
xuất kinh doanh và một phần tham gia đầu tư phát triển. Với chức năng chủ yếu là huy
động vốn để cho vay, Ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi trong dân để cho vay các đối
tượng đang thiếu vốn.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội:
Tín dụng ngắn hạn góp phần tác động tích cực đến nhịp độ phát triển kinh tế, nền
kinh tế thị trường là nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt. Khoản vay của Ngân hàng có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc thoả mãn nhu cầu về vốn. Vay vốn cũng đồng
nghĩa với việc doanh nghiệp phải gánh trách nhiệm trả nợ, buộc doanh nghiệp phải
tích cực hoạt động đảm bảo cạnh tranh để đồng vốn vay được sử dụng có hiệu quả
nhất. Lúc này hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ trở nên sôi động và nhộn nhịp. Các
doanh nghiệp hoạt động tốt góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Đối với Ngân hàng:
Hiện nay các Ngân hàng thường có cơ cấu nguồn vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng
lớn trong nguồn vốn, việc mở rộng tín dụng ngắn hạn giúp Ngân hàng cân đối kết cấu
nguồn vốn và sử dụng một cách tối ưu. Ngoài ra vòng quay vốn lưu động cao, các
7 khoản tiền sẽ được đưa vào lưu thông nhiều lần do công tác thanh toán của Ngân hàng
làm tăng khả năng tạo tiền của Ngân hàng, làm cho nguồn lực nền kinh tế được sử
dụng hiệu quả và đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Thông qua hoạt động tín dụng các
Ngân hàng thương mại cũng là biện pháp thu hút khách hàng, mở rộng quy mô và
củng cố chất lượng tín dụng của mình, tăng khả năng cạnh tranh của mỗi Ngân hàng. Đối với doanh nghiệp, chất lượng tín dụng ngắn hạn thể hiện các khoản vay được
đáp ứng nhu cầu để đảm bảo quá trình luân chuyển vốn trong quá trình kinh doanh,
nâng cao chất lượng, hiện đại hoá và đa dạng hoá sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên
thị trường. Những khoản tín dụng này làm tăng quy mô sản xuất của doanh nghiệp. Từ
đó tăng doanh thu và lợi nhuận, thu nhập của công nhân, thu hút nhiều lao động kĩ
thuật, đảm bảo việc làm thường xuyên và ổn định, tăng trưởng tốc độ nhanh. Hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là căn cứ để đánh giá chất lượng tín dụng. Có
thể nói đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn của doanh nghiệp là cách đánh giá có
hiệu quả nhất vì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động của Ngân hàng và nền kinh tế.
Đối với các Ngân hàng thương mại
Các khoản tín dụng đó phải phù hợp với mục tiêu của Ngân hàng trong từng thời
kì. Mỗi thời kì, trong giai đoạn khác nhau, mục tiêu của Ngân hàng cũng khác nhau.
Nếu khoản tín dụng không đáp ứng được mục tiêu của Ngân hàng thì chất lượng tín
dụng đó không được đảm bảo dù nó đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng.
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp
với khả năng thực lực theo hướng tích cực của bản thân Ngân hàng và phải đảm bảo
được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Các khoản tín dụng phải đảm bảo thực hiện đúng quy trình tín dụng. Khi ngân
hàng cho vay phải thực hiện theo pháp lệnh Ngân hàng và các văn bản chế độ hiện
hành của ngành.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Một khoản tín dụng có chất lượng cao phải kết hợp được hài hoà lợi ích của
khách hàng, Ngân hàng và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy,
ngoài việc đánh giá dưới góc độ Ngân hàng và khách hàng, chất lượng tín dụng ngắn
hạn còn được đánh giá dưới góc độ kinh tế xã hội thông qua các chỉ tiêu sau:

vay, phương pháp cho vay, trình tự giải quyết các công việc, thủ tục hành chính và
thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng.
Sơ đồ 1.1 Quy trình cho vay chung tại các Ngân hàng
Thiết lập hồ
Giám sát và
Phân tích cho
Quyết định
sơ cho vay
quản lý cho

vay
cho vay
vay

(Nguồn: Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại)
Bƣớc 1: Thiết lập hồ sơ cho vay:
Hồ sơ cho vay của một ngân hàng là tài liệu bằng văn bản biểu hiện mối quan hệ
tổng thể của ngân hàng với khách hàng vay vốn. Chất lượng cho vay phụ thuộc rất
nhiều lớn vào sự hoàn chỉnh và chính xác của hồ sơ cho vay. Vì vậy khi thiết lập một
hồ sơ cho vay phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố:
Các thông tin cơ bản về khách hàng xin vay;
Thông tin về tài chính hiện tại của khách hàng xin vay;
10


lý, năng lực tài chính của người bảo lãnh…)
Hai là hồ sơ do ngân hàng lập gồm:
Các báo cáo về thẩm định, tái thẩm định.
Các loại thông báo như: thông báo từ chối cho vay, thông báo cho vay,
thông báo gia hạn nợ, thông báo đến hạn nợ, thông báo quá hạn nợ, thông báo tạm
ngừng cho vay, thông báo chấm dứt cho vay…
Báo cáo kiểm tra sử dụng vốn vay, báo cáo phân tích tình hình tài chính.
Sổ theo dõi cho vay và thu nợ.
11
Ba là hồ sơ do ngân hàng và khách hàng cùng lập:
Hợp đồng tín dụng hoặc sổ vay vốn.
Hợp đồng đảm bảo tiền vay như hợp đồng cầm cố thế chấp tài sản, hợp
đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng…
Bƣớc 2: Phân tích cho vay:
Để phòng ngừa, hạn chế rủi ro các Ngân hàng thương mại đã áp dụng nhiều biện
pháp, đó là biện pháp cơ bản, có vị trí quan trọng nhất là phân tích đánh giá một cách
toàn diện khách hàng trước khi cho vay. Các ngân hàng cần phân tích đánh giá khách
hàng:
Năng lực pháp lý của khách hàng;
Uy tín của khách hàng;
Phân tích tình hình tài chính của khách hàng;

Kiểm tra sau khi cho vay.
Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn
Nền kinh tế thị trường đặt ra vấn đề cho các nhà sản xuất kinh doanh là phải đảm
bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, có như vậy mới tồn tại và phát triển ổn định. Vì
vậy, đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm là một yêu cầu khách quan đối với các
doanh nghiệp. Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, vì vậy việc
nâng cao chất lượng trong hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói
riêng là việc làm cần thiết. Để nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trước hết cần
tiến hành đánh giá các nhóm chỉ tiêu. Để hiểu được các nhóm chỉ tiêu này cần hiểu
được một số khái niệm sau:
Doanh số cho vay: Phản ánh lượng vốn ngân hàng cho doanh nghiệp vay
theo hợp đồng tín dụng, nó được tính bằng cách cộng tất cả các khoản cho vay trong
một thời gian nhất định. Đây là chỉ tiêu phản ánh quy mô tuyệt đối của hoạt động tín
dụng, nếu quy mô lớn và ngày càng mở rộng chứng tỏ hoạt động tín dụng càng tốt.
Doanh số thu nợ: Phản ánh vốn thực tế người đi vay hoàn trả cho Ngân
hàng, nó được tính bằng cách cộng tất cả các khoản thu nợ trong một thời kì nhất định.
Doanh số thu nợ càng lớn và tăng so với tổng số cho vay chứng tỏ tín dụng của Ngân
hàng ngày càng tốt.
Dư nợ: Phản ánh lượng vốn mà cá nhân, tổ chức vay còn nợ Ngân hàng tại
một thời điểm cụ thể, được tính bằng số dư cuối kì trên bảng cân đối kế toán. Dư nợ
càng lớn phản ánh khả năng mở rộng tín dụng của Ngân hàng càng lớn, dư nợ thấp
chứng tỏ khả năng tín dụng của Ngân hàng không được mở rộng, kém chất lượng.
Sau đây là một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:
Một là: Chỉ tiêu về huy động vốn ngắn hạn Vốn huy động ngắn hạn
Tỷ trọng vốn huy động ngắn hạn
=
Tổng nguồn vốn

Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ dư nợ ngắn hạn trong tổng dư nợ tín dụng của Ngân
hàng. Nếu tỷ lệ dư nợ tăng liên tục qua nhiều thời kỳ có thể nói chất lượng tín dụng
tăng. Tuy nhiên khi đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn qua chỉ tiêu này cần phải
xem xét cả số tương đối và số tuyệt đối. Bởi không phải tỷ lệ này tăng có nghĩa là cho
vay ngắn hạn tăng, nó còn phụ thuộc vào việc tổng dư nợ tín dụng có tăng hay không.
Chỉ tiêu nợ quá hạn
Theo quyết định 493/NHNN thì nợ quá hạn là những khoản cho vay đến hạn mà
khách hàng không trả được số tiền trong hợp đồng tín dụng và tiền lãi của số tiền đó
và không được ngân hàng gia hạn. Số tiền này ngân hàng chuyển thành nợ quá hạn và
áp dụng lãi suất quá hạn đối với những khoản nợ này (cao hơn lãi suất thông thường).
Đây là những khoản những khoản nợ có độ rủi ro cao và ngân hàng có khả mất vốn.
Các ngân hàng luôn mong muốn giảm thấp tỷ lệ nợ quá hạn bởi nó làm giảm lợi nhuận
của ngân hàng do phải trích dự phòng rủi ro tương ứng với thời gian quá hạn. Để đánh
14

giá chất lượng tín dụng trên cơ sở nợ quá hạn, người ta người ta thường thông qua tỷ lệ
nợ quá hạn cho vay ngắn hạn gồm:
Tỷ lệ nợ quá hạn
=
Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn
x 100%
cho vay ngắn hạn
= Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn

Tỷ lệ nợ xấu cho vay
=
Tổng dư nợ xấu ngắn hạn
x 100%
ngắn hạn
= Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn

Tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi
=
Dư nợ tín dụng ngắn hạn
Nếu tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi cao thì chất lượng tín dụng ngắn hạn
được đánh giá là thấp, hoạt động của Ngân hàng không có hiệu quả và các chỉ tiêu
khác đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn không có giá trị. Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu
=
Dư nợ tín dụng ngắn hạn
Theo quy định của NHNN Việt Nam thì nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4,
5 như đã kể ở trên. Tỷ lệ nợ xấu càng cao chứng tỏ Ngân hàng đang hoạt động không
tốt vì để cho có nhiều khoản tiền không thu hồi đc. Ngược lại nếu tỷ lệ này thấp thì
chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng được đánh giá là tốt.
Bốn là: Thu nhập từ hoạt động cho vay Lợi nhuận từ tín dụng ngắn hạn
Thu nhập từ hoạt động cho vay
=
Tổng dư nợ tín dụng ngắn hạn
Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động cho vay cho biết khả năng sinh lời của tín dụng
ngắn hạn. Bất kỳ một khoản tín dụng nào, dù ngắn hay dài hạn, không thể coi đó là có
chất lượng cao nếu không đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Ngoài ra còn có thể thấy
được vị trí của tín dụng ngắn hạn trong hoạt động của Ngân hàng thông qua chỉ tiêu: Lãi từ hoạt động cho vay

sẽ có nhiều gian lận, thiếu công bằng và khó thực hiện trôi chảy. Nhân tố pháp lý có vị
trí hết sức quan trọng đối với chất lượng hoạt động Ngân hàng nói chung và chất
lượng tín dụng ngắn hạn nói riêng.
Môi trường xã hội:
Quan hệ tín dụng thực hiện trên cơ sở lòng tin. Nó là cầu nối giữa Ngân hàng và
khách hàng. Khi Ngân hàng có nhiều uy tín với khách hàng thì càng thu hút được
nhiều khách hàng đến với mình. Khách hàng càng có sự tín nhiệm với Ngân hàng thì
càng được Ngân hàng ưu đãi trong quan hệ tín dụng. Đây là điều kiện để cải thiện chất
lượng tín dụng. Ngoài ra đạo đức xã hội cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Trong trường hợp đạo đức xã hội không tốt, lợi dụng lòng tin để lừa đảo sẽ làm giảm
chất lượng tín dụng.
Nhân tố môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên là nhân tố khách quan gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín
dụng của Ngân hàng. Thực tế nhân tố này không tác động trực tiếp mà là tác động gián
tiếp đến hoạt động của Ngân hàng. Đối với những nước có khí hậu không ổn định, khi
thiên tai hạn hán, lũ lụt dịch bệnh bất ngờ xảy ra ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển
17
hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế mà họ không lường trước được,
đặc biệt trong lĩnh vực này bị ứ đọng hoặc mất mát không thu hồi được, từ đó không
có khả năng thanh toán, trả nợ Ngân hàng, làm cho chất lượng tín dụng của Ngân hàng
bị hạ thấp.
Các nhân tố chủ quan
Nhân tố khách hàng:
Khách hàng là chủ thể đại diện cho bên yêu cầu về vốn vay, họ đến Ngân hàng
với mong muốn nhu cầu của mình được đáp ứng để có một khoản tiền vay sử dụng
cho mục đích sản xuất kinh doanh, với sự xác nhận rõ ràng về số tiền vay, thời hạn vay
là lãi suất giá cả của việc sử dụng vốn vay có thể chấp nhận được. Trong các hợp đồng

ngặt các quy định về hồ sơ, an toàn về thông tin.
Quy trình tín dụng là một nhân tố quan trọng. Các Ngân hàng thương mại luôn
kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình cho vay, kịp thời phát hiện và chỉnh sửa
những sai sót nhằm hạn chế rủi ro của việc cho vay. Quy trình cho vay có thể làm tăng
hoặc giảm rủi ro của việc cho vay. Các bước thực hiện trong quy trình cho vay càng
chặt chẽ thì Ngân hàng quản lý món vay càng có hiệu quả và rủi ro tín dụng được hạn
chế.
Bốn là: Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay là lãi suất mà Ngân hàng phải tính cho người đi vay, sao cho với
mức lãi suất này vừa thu hút khách hàng đến vay vừa để đảm bảo khả năng sinh lời
cho Ngân hàng. Lãi suất cho vay của Ngân hàng được xác định theo các nguyên tắc để
đảm bảo cho Ngân hàng thu được lợi nhuận và có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Để thu hút được nhiều khách hàng, tạo điều kiện cho khách hàng hoàn thành trách
nhiệm thanh toán khoản vay, nâng cao chất lượng cho vay cũng như tăng khả năng
cạnh tranh với các Ngân hàng khác thì mỗi Ngân hàng phải có chính sách riêng về lãi
suất, phù hợp với điều kiện kinnh doanh của Ngân hàng mình, không trái với quy định
quản lý của Nhà nước.
Năm là: Công tác quản lý nhân sự
Con người cũng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại
của việc quản lý vốn vay trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Trong hoạt động
vốn vay của ngân hàng, cán bộ tín dụng là người trực tiếp làm công tác cho vay. Do
vậy trình độ chuyên môn, có đạo đức và có trách nhiệm là những phẩm chất không thể
thiếu được đối với mỗi cán bộ tín dụng.
Sáu là: Hệ thống thông tin Ngân hàng
Trong cơ chế thị trường hiện nay, thông tin đã trở thành vấn đề có tầm quan
trọng lớn trong việc nâng cao chất lượng cho vay của Ngân hàng thương mại. Một hệ
thống thông tin được tổ chức hoàn thiện, đầy đủ chính xác sẽ giúp Ngân hàng hiểu rõ
về khách hàng của mình, cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, từ
đó đưa ra những quyết định đúng đắn nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng thông
19

2.1. Giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Hà Nội
2.1.1. Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh
Hà Nội
Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) được thành lập năm 1994, có trụ sở
chính tại 25 Trần Hưng Đạo - Hoàn Kiếm - Hà Nội. Trải qua 20 năm phát triển,
SeABank được biết đến là một trong nhóm dẫn đầu các ngân hàng thương mại cổ phần
lớn nhất Việt Nam với qui mô vốn điều lệ hiện nay là 5.335 tỷ đồng, tổng tài sản đạt
gần 100 nghìn tỷ đồng, mạng lưới hoạt động rộng khắp 3 miền với hơn 155 chi nhánh
và điểm giao dịch, mức độ nhận biết thương hiệu và tốc độ tăng trưởng ổn định.
Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeA Bank) chi nhánh Hà Nội được thành lập
ngày 15/09/2003, hoạt động có con dấu riêng, trực tiếp kinh doanh, giao dịch với
khách hàng, hạch toán kế toán nội bộ chịu sự chỉ đạo toàn diện của Ngân hàng TMCP
Đông Nam Á về mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh cũng như các hoạt động khác.
Nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và người dân bằng VNĐ và
các ngoại tệ… với tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm lãi suất phù hợp. Tiền gửi
không kỳ hạn, có kỳ hạn như 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 18tháng…
Tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm lãi bậc thang, phát hành các loại kỳ phiếu, chứng chỉ
tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác.
Thực hiện các nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ bảo lãnh ngắn hạn, trung hạn, dài
hạn cho tất cả các thành phần kinh tế có nhu cầu trên địa bàn thành phố Hà Nội. Thực
hiện các nghiệp vụ chuyển tiền, thanh toán quốc tế, chi trả kiều hối, trả lương qua thẻ,
mở và thanh toán thẻ tín dụng trong nước, quốc tế…và các dịch vụ Ngân hàng khác.
Mọi hoạt động của chi nhánh đều tuân thủ theo đúng pháp luật của nhà nước, luật
các tổ chức tín dụng, các thông lệ quốc tế về lĩnh vực Ngân hàng.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Hà Nội
Ngân hàng TMCP Đông Nam Á SeABank chi nhánh Hà Nội là một trong
những chi nhánh nằm trong hệ thống Ngân hàng TMCP Đông Nam Á, bao gồm 7
phòng Giao dịch phủ sóng rộng khắp Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status