những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn hiện nay - Pdf 24

PHẦN I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
I. Tính cấp thiết của đề tài
Thu nhập của người dân ở mọi nơi đều là vấn đề thu hút sự quan tâm
của các nhà nghiên cứu. Dù cho đó là một quốc gia giầu mạnh hay nghèo đói,
cho đến những địa phương lớn hay nhỏ. Bởi vì chính nó là chỉ báo quan trọng
có ý nghĩa kinh tế để đánh giá về mức sống của người dân.
Tình trạng giầu nghèo nước ta phân hóa ngày càng sâu sắc. Khoảng
cách ngày một tăng cao, chi tiêu bình quân đầu người năm 2007, nhóm giầu
gấp nhóm nghèo là 4,7 lần, đến năm 2009 khoảng cách này đã tăng lên 5,5
lần, đến năm 2011 đã tăng lến 6,03 lần.
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X đã quyết định chiến lược
phát triển kinh – xã hội mười năm đầu của thế kỷ XXI là “ Chiến lược đẩy
mạnh Công nghiệp hóa- hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây
đựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp”.
Mục tiêu là đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống
văn hóa tinh thần của nhân dân, nâng cao vị thế của đất nước.
Để đạt được sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước nói trên thì thu nhập
người dân là vấn đề cần quan tâm, bởi vì Việt Nam là một nước đang phát
triển. Theo báo cáo của đồng chí Trần Đình Hoan (ủy viên Trung ương Đảng)
tại học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tháng 2 năm 2011 thì thu nhập
bình quân đầu người nước ta khoảng từ 400-450USD/người/năm, tuy vậy con
số này vẫn còn quá xa vời, với phần lớn bộ phận dân cư nước ta bởi vì thu
nhập giữa thành thị và nông thôn có sự chênh lệch khá cao.
Muốn giảm bớt tình trạng mất cân bằng về thu nhập giữa nông thôn và
thành thị và để làm tăng GDP cả nước thì phải có sự quan tâm thích đáng đến
vấn đề mức thu nhập của người dân, đặc biệt là với người dân nông thôn.
Trong giai đoạn hiện nay, nông thôn trong cả nước hiện nay đang diễn ra sự
thay đổi mọi mặt về đời sống kinh tế- xã hội cũng như sự thay đổi về cơ cấu
nghề nghiệp, lao động, dân số, chính sách xã hội làm đa dạng và nâng cao
mức thu nhập của các hộ gia đình nông thôn. Các gia đình đang tự tìm con

tham khỏa vận dụng vào cuộc sống của mình, mặt khắc cũng giúp cho các nhà
hoạch định chính sách nêu rõ định hướng phát kinh tế cho các hộ gia đình
nông thôn.
* Trên cơ sở đưa ra một số giải pháp và khuyên khích nhằm nâng cao
thu nhập của người dân.
III. Mục tiêu: Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
*Mục tiêu
Tìm hiểu thu nhập và những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
*Nhiệm vụ
1. Mô tả thực trạng thu nhập của các hộ gia đình nông thôn và sự phân
hóa trong thu nhập.
2. Chỉ ra một số nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình
nông thôn, ví dụ như: nghề nghiệp, học vấn, giới tính va mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố đó.
3. Đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp có tính khả thi nhằm nâng
cao thu nhập của người dân nông thôn.
IV. Đối tương, khách thể, phạm vi nghiên cứu và mẫu nghiên cứu.
1. Đối tượng nghiên cứu.
Những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình ở xã Hải
Hòa, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
2. Khách thể nghiên cứu.
Các hộ gia đình nông thôn tại xã Hải Hòa, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
3. Phạm vi nghiên cứu.
* Phạm vi thời gian
Cuộc khảo sát diễn ra từ ngày 21/8/2011 đến 25/8/2011.
* Phạm vi không gian
Tại Hải Hòa, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa
4. Mẫu nghiên cứu.
Gồm 450 hộ gia đình nông thôn được chọn ngẫu nhiên tại 3 thôn trong
xã.

Nghề khác 4,4%
Như vậy từ năm 2005 đến nay nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong cơ cấu nghề nghiệp
So sánh cơ cấu nghề nghiệp từ trước 2005 và từ 2005 đến nay có sự
khác biệt rõ rệt; giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng cơ cấu dịch vụ buôn bán và
tiểu thủ công nghiệp. Cán bộ công nhân viên chức của xã từ 2005 đến nay có
tăng nhưng không đáng kể; các nghề khác đều tăng. Xét cơ cấu nghề nghiệp
của xã giảm tỷ trong nông nghiệp, tăng cơ cấu dịch vụ buôn bán và tiểu thủ
công nghiệp nhưng nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nghề
nghiệp.
* Loại hộ
Thuần nông 18,6%
Phi nông 62,3%
Hỗn hợp 20,1%
Các hộ phi nông chiếm tỷ lệ nhiều nhất.
* Số thành viên
Dưới 3 người 18,0%
Từ 4- 6 người 77,1%
Trên 6 người 4,9%
Các hộ gia đình ở đây có số thành viên từ 4 – 6 người chiềm tỷ lệ cao
nhất.
* Số thế hệ
1 thế hệ 5,2%
2 thế hệ 70%
3 thế hệ 24,4
4 thế hệ 0,4%
Chủ yếu các hộ gia đình ở đây có 2 thế hệ
V. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp luận
a. Phương pháp luận của đề tài, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-

lao động việc làm, đất đai và nhà ở gia đình, văn hóa và thể thao kinh tế.của
các yếu tố nghề nghiệp, trình độ học vấn Người đi phỏng vấn là tập thể sinh
viên lớp K52-PN2 xã hội học, dưới sự hướng dẫn của nhóm giáo viên khoa xã
hội học Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn- Hà Nội
Số liệu được xử lý vi tính theo Chương trình SPSS
* Phương pháp phỏng vấn sâu: được tiến hành phỏng vấn với đại diện 5
hộ gia đình tại xã Hải Hòa, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
Thông tin thu được làm rõ các thông tin định lượng.
* Phương pháp thảo luận nhóm: với mục đích tìm hiểu sâu hơn về các
thông tin định tính
* Phương pháp quan sát: Nhằm thu thập thông tin để trợ giúp cho đề tài
để chỉ ra mức sống của các hộ gia đình nông thôn.
* Phương pháp phân tích tài liệu: Báo cáo đã sử dụng các tài liệu sau:
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội- an ninh quốc phòng 6 tháng đầu năm
2011, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp 6 tháng cuối năm 2011 của Ủy ban
nhân dân xã xã Hải Hòa, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
VI. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
1. Giả thuyết nghiên cứu.
- Thu nhập ở các hộ từ rất nhiều nguồn khác nhau tuy nhiên không cao.
- Thu nhập của các hộ gia đình ở nơi khảo sát chịu sự ảnh hưởng của một
số nhân tố cơ bản sau: Trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới tính, tuổi, số lao
động trong hộ.
2.Khung lý thuyết.
Điều kiện kinh tế xã
hội
PHẦN II
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
A.Tổng quan địa bàn nghiên cứu
I. Tổng quan địa bàn
1. Vị trí địa lý, dân số

Hệ thống giáo dục của xã có các cấp từ Mầm Non đến Phổ thông trung
học. Xã đã có đầu tư kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị đồ
dùng dạy và học cho cả 3 cấp đáp ứng nhu cầu cơ bản dạy và học cho học
sinh
Công tác phổ cập trung học phổ thông và dạy nghề được triển khai thực
hiện tốt.trường trung học cơ sở, trường tiểu học,mẫu giáo,mầm non nhiều
năm đạt trường tên tiến cấp huyện.
4. Về y tế
Xã có một trạm y tế với đội ngũ y bác sỹ tận tình. Cơ sở vật chất của
trạm đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho
nhân dân, không có dịch bệnh xuất hiện trên địa bàn xã. Năm 2009 có nghìn
lượt người đến khám và chữa bệnh tại trạm y tế. Trạm cũng phối kết hợp với
hội chữ thập đỏ và hội cao tuổi khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho
hàng trăm lượt người. Trạm đã được bộ y tế đánh giá là trạm y tế đủ điểm đạt
chuẩn quốc gia về y tế cơ sở.
Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình cũng thường xuyên được quan
tâm, khám và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ và trẻ em, tỷ lệ sinh,
khoảng cách giữa các lần sinh, hạn chế sinh con thứ ba được thực hiện tốt
theo Pháp lệnh dân số.
5 Văn hóa
Các hoạt động văn hóa, thông tin được đẩy mạnh phong phú và đa dạng
hơn. Các chủ trương đường lối của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước,
các quy định của địa phương, bằng nhiều hình thức đã chuyển tải nhanh đến
mọi người dân và thực hiện đạt hiệu quả. Đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, thực hiện nếp sống mới
trong việc cưới hỏi, việc tang. Phong trào văn hóa, văn nghệ ở các thôn, các
ngành đoàn thể phát triển mạnh.
6. An ninh quốc phòng
Do tình hình tội phạm diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng.
Lực lượng Công an xã, các tổ an ninh trật tự thôn là nòng cốt có sự lãnh đạo

Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản
phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội.
Như vậy khi nói đến việc làm người ta thấy hội tụ 3 khía cạnh là:
Lao động tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần
Có mục đích tạo ra hoặc nhận được thu nhập bằng tiền bạc, hiện vật.
Trong đề tài này, tôi sử dụng việc làm theo nghĩa chung nhất, đó là hoạt
động của 1 cá nhân, tập thể tao ra nguồn thu nhập mà không bị pháp luật ngăn
cấm.
B. Kết quả nghiên cứu, phân tích thực nghiệm.
I. Sơ lược tình hình thu nhập
Với chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong công
cuộc đổi mới đất nước, Hải Hòa đã đạt được những thành tựu nhất định: cơ
cấu thu nhập được mở rộng, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao.
Theo báo cáo của xã thì năm vừa qua cả xã có 15% hộ nghèo (theo tiêu
chí mới) và không có hộ đói. Là một xã ven biển, trước đây vốn là xã thuần
nông nên việc làm tạo thu nhập chính của người dân ở đây vẫn là nông nghiệp
chiếm 81,9%. Tuy nhiên theo kết quả khảo sát được thì chỉ có 18,6% gia đình
là thuần nông, có đến 62,3% hộ gia đình phi nông và hỗn hợp chiếm 20,1%.
Điều đó cho thấy người dân ở đây rất năng động trong việc chuyển đổi cơ cấu
nghề nghiệp để tạo cho mình những nguồn thu nhập khác ngoài làm nông nghiệp.
Bảng 1: Mô tả cơ cấu thu nhập đầu người của hộ gia đình trong năm qua
(000/người/năm)
Bình quân thu nhập Số lượng %
Dưới 2400 38 8,5
>2400-3400 25 5,6
>3400-4800 302 67,9
>4800-6860 79 17,8
>6860 1 0,2
Theo chuẩn nghèo quốc gia (2006) thì những hộ có BQTN đầu người
dưới 200.000/người/tháng thì được coi là nghèo. Đối chiếu vào bảng tren ta

quả cá tôm ở ven biển để tăng thêm thu nhập.
Qua hai bảng số liệu trên có thể nhận xét rằng những hộ gia đình có
BQTN ở mức thấp thì chủ yếu làm nông nghiệp là những hộ thuần nông.
Những hộ có BQTN cao là do kinh doanh, buôn bán, làm việc công chức Nhà
nước. Xét nhóm hộ có BQTN cao nhất với nhóm hộ có BQTN thấp nhất cho
thấy tỷ lệ tương đương nhau, nên sự phân tầng thu nhập ở chỉ là tương đối.
Nguyên nhân của sự phân tầng thu nhập của các hộ gia đình nông thôn có rất
nhiều tự các yếu tố bên ngoài như thiên tai, dịch bệnh đến các yếu tố bên
trong như tri thức, kinh nghiệm, nhân lực, trình độ kỹ thuật, cơ may.
Bảng 3a: Bảng thời gian trước năm và sau năm 2005 thu nhập của từng
lao động ở từng ngành nghề
Nghề
nghiệp
Trước năm 2005
Tổng
số
người
làm
nghề
Khá Trung bình Dưới TB Nghèo
Số
lượng
Tỷ
lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số

người làm
nghề
Khá Trung bình Dưới TB Nghèo
Số
lượng
Tỷ
lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ
lệ %
Số
lượng
Tỷ
lệ
%
Nông nghiệp 175 14 21.5 125 47.3 10 47.6 28 75.7
Đánh bắt hải
sản
126 19 29.2 95 36.5 5 23.8 7 18.9
Chăn nuôi 14 3 4.6 8 3.1 3 14.3 0 0
Dịch vụ du
lịch
16 11 16.9 5 1.9 0 0 0 0
Thủ công 7 1 1.5 6 2.3 0 0 0 0

3400
>3400
-4800
>4800
-6860
>6860 Tổng
Nông nghiệp 37,3% 25% 18,3% 13,8% 5,6% 100
CBCNVC Nhà nước 10,7% 5,7% 12,3% 23% 48,4% 100
Công nhân 18,4% 14,5% 29% 17,1% 21% 100
Kinh doanh 7,9% 4,8% 11,1% 19% 57,1% 100
Buôn bán nhỏ 21,1% 23,1% 18,1% 15,4% 22,1% 100
Nghề khác 23% 15,9% 23% 16,7% 21,4% 100
Bảng kết quả trên cho thấy viêc làm tạo thu nhập chính cho hộ gia đình
là nông nghiệp, thì tỷ lệ BQTN ở mức cao nhất chiếm tỷ lệ thấp nhất chỉ có
5,6%, trong khi đó nếu là kinh doanh thì BQTN ở mức cao nhất chiếm 57,1%.
Với hộ gia đình có việc làm tạo thu nhập chính là nông nghiệp thì BQTN ở
mức thấp nhất (2.400.000/ người/năm), cũng chiếm tỷ lệ cao nhất. Nói cụ thể
hơn thì có tới 37,3% số hộ có thu nhập từ nông nghiệp có bình quân dưới
chuẩn nghèo (dưới 200.000/người/tháng). So với những nghề khác ở mức
BQTN này thì ta thấy nghèo đói rơi vào người làm nông nghiệp là chính. Bởi
người làm nông nghiệp thường phải chịu rủi ro tự thiên nhiên như lũ lụt, sâu
bệnh, mất mùa mặt khác nông dân ở đây bị thu hồi ruộng làm khu du lịch
nên diên tích đất canh tác bị thu hẹp, cộng với giá thành nông sản thấp, chi
phí sản xuất như phân bón lại cao nên người nông dân làm ăn không có hiệu
quả.chăn nuôi cũng không phát triển được do thiếu vốn nên người nông dân
đã nghèo lại càng nghèo hơn.
Những hộ có bình quân thu nhập từ 2.400.000- 4.800.000/người/năm
(200.000 – 400.000/người/tháng) chiếm 43,3%. Như vậy BQTN của các hộ
gia đình có nguồn thu chính từ nông nghiệp dưới 400.000/người/tháng chiếm
80,6%. Con số này cho ta thấy rằng dù ở đâu thì người làm nông nghiệp vẫn

nhập cao cho người dân. Với những hộ có thu nhập chính từ kinh doanh mà
BQTN ở mức 2.400.000đ/người/năm chiếm tỷ lệ 7,9%, bằng khoảng ¼ hộ có
thu nhập chính từ làm nông nghiệp. Trong khi đó ở mức thu nhập cao nhất hộ
có thu nhập từ kinh doanh gấp tới hơn 10 lần so với hộ có thu nhập chính từ
nông nghiệp (57,1% với 5,6%). Từ đó cho thấy có sự phân hóa rõ rệt trong
thu nhập giữa người có thu nhập tự làm ruộng và người có thu nhập từ kinh
doanh. Cô Lê Thi H, 43 tuổi nông dân, tiểu học nói: “những hộ gia đình
trong thôn này thu nhập làm sao bằng dân ở ngoài ven biển được, mức chênh
lệch trong thu nhập ở đây khá lớn, họ làm ăn buôn bán, làm nhà nghỉ có hộ
thu nhập đến 2.000.000đ/người/tháng; còn dân ở trong thôn này chủ yếu vẫn
là nông nghiệp nên thấp hơn nhiều”
Những hộ gia đình có thu nhập chính từ buôn bán nhỏ thì chủ yếu là ở
trong thôn, họ vẫn làm ruộng nhưng thu nhập từ trồng lúa và hoa mầu không
đáp ứng được điều kiện sống nên tìm nghề khác để làm. Buôn bán nhỏ ở chợ
là nghề phụ mà người dân ở đây làm và đã đem lại thu nhập ổn định cho
nhiều gia đình. Như trường hợp của bác Nguyễn Đức T, 48 tuổi nông dân tiểu
học chẳng hạn: “ làm nông nghiệp thì đáng là bao nhiêu chứ. Ngày trước nhà
bác còn 1200m
2
đất nông nghiệp; bây giờ còn 478m
2
, xã họ lấy để làm khu du
lịch, họ nói là đền bù tiền nhưng đến nay nhà bác đã được đền bù đâu. Nhà
thì đông người, trồng trọt thì ít làm sao mà đủ ăn; vì vậy buôn bán thêm ở
ngoài chợ là nguồn thu nhập chính”. Các hộ có thu nhập chính từ buôn bán
nhỏ mức sống BQTN trên 6.860.000đ/người/năm chiếm tỷ lệ 22,1%, một tỷ
lệ không phải là nhỏ. Nhưng nhìn chung BQTN đối với các hộ gia đình làm
nghề này ở mức thấp và trung bình là chủ yếu.
Những phân tích trên cho thấy hộ gia đình nào có nhiều nguồn thu nhập
thì BQTN ở mức cao hơn, những gia đình chỉ có nguồn thu từ nông nghiệp thì

năm 2004 để xây thêm chuồng trại, để mở rộng chăn nuôi mua thêm lợn
giống”. Đó là tâm sự của chú Hoàng Vĩnh L, 51 tuổi làm ruộng và buôn bán
nhỏ, PTTH. Điều này đã chứng tỏ cho sự dám nghĩ, dám làm nếu có điều kiện
và được tạo cơ hội của người dân địa phương.
2. Trình độ học vấn ảnh hưởng đến thu nhập
Hải Hòa tuy là một xã ven biển, giáp thị trấn huyện Tĩnh Gia nhưng
trình độ học vấn của người dân ở đây nhìn chung còn ở mức thấp. Trình độ
trên PTTH chỉ chiếm 9,7% thì đa số là cán bộ xã, giáo viên, công nhân viên
chức còn phần là người dân tốt nghiệp THCS 67,0%, đặc biệt là tỷ lệ tiểu
học trở xuống chiếm 23,3%. Lý do trình độ học vấn trên PTTH ở đây chưa
cao là do thu nhập của nhiều gia đình còn thấp, chưa có điều kiện cho con đi
học cao; do vậy mà chủ trương của xã là phấn đấu phổ cập THPT và Trung
học nghề là rất đúng đắn.
Bảng 6: Tương quan giữa trình độ học vấn của các thành viên
trong hộ gia đình với BQTN (%) (000/người/năm)
a. Tương quan giữa số thành viên mù chữ.
BQTN
Số thành viên <2400
>2400
-
3400
>3400
-
4800
>4800
-6860
>6860 Tổng
0 22,9 17,4 19 17,1 23,6 100
1 61,1 16,7 56 5,6 11,1 100
2 66,7 33,3 - - - 100

400.000đ/người/tháng, mức thu nhập cao hầu như không có hoặc rất thấp.
Như vậy ở trình độ tiểu học trở xuống thì BQTN của các hộ gia đình
thường ở mức thấp và trung bình, tỷ lệ BQTN ở mức cao chiếm rất ít.
c.Tương quan giữa số thành viên có trình độ THCS -BQTN.
BQTN
Số thành viên <2400
>2400
-
3400
>3400
-
4800
>4800
-6860
>6860 Tổng
0 22,8% 11% 12,9% 19,2% 33,9% 100
1 21,2% 17,8% 22,9% 14,4% 23,7% 100
2 26,5% 23,5% 20,5% 17% 12,5% 100
3 28,5% 28,5% 25,7% 11,5% 5,7% 100
4 41,7% 16,7% 8,4% 25% 8,4% 100
5 60% 20% 20% - - 100
Theo mẫu khảo sát thì đa số nhưng người được hỏi có trình độ ở bậc
THCS, nhưng theo bảng tương quan trên ta nhận thấy ở những hộ gia đình có
thành viên có trình độ THCS thì BQTN ở mức trên 4.800.000đ/người/năm là
không có. Với hộ gia đình có 4 thành viên có trình độ THCS thì BQTN ở mức
3.400.000đ/người/năm trở xuống chiếm 58,4% hơn một nửa trong số tổng
những hộ gia đình có 4 thành viên có trình độ THCS. Các hộ gia có 1,2,3 có
trình độ ở bậc này cũng như vậy, hầu như là BQTN của các hộ ở mức dưới
4.800.000đ/người/năm. Ở mức BQTN trên 6.860.000đ/người/năm thì hộ có
một thành viên có trình độ ở bậc này có tỷ lệ chiếm cao nhất 23,7%; ở hộ có

5 66,7% - - - 33,3% 100
6 100 - - - - 100
Ở đây chúng ta có thể nhận thấy một điều đó là: có những gia đình có
rất nhiều thành viên có trình độ học vấn ở bậc THPT, chẳng hạn như có một
hộ gia đình có tới 6 thành viên có trình độ THPT, có 3 hộ có 5 thành viên
nhưng mâu thuẫn lại ở chỗ: các hộ này có BQTN ở mức thấp chiếm tỷ lệ cao
nhất. Theo quy luật chung thì người có trình độ học vấn cao có thu nhập cao,
nhưng ở trường hợp này ta thấy ngược lại. Ở điều này được lý giải như sau:
là do các hộ này có nhiều thế hệ cùng chung sống, số thành viên của hộ đông,
mà lại có nhiều người đang đi học, chẳng hạn như những thành viên đã tốt
nghiệp THPT nhưng vẫn đang học cao hơn chưa tạo ra thu nhập cho nên
BQTN của hộ gia đình thấp. Còn đối với những hộ cí 1,2 thành viên có trình
độ THPT thì nhìn chung BQTN của họ cũng khá, mức BQTN cao nhất chiếm
tỷ lệ cao hơn ở mức khác. Với những hộ có 3 - 4 thành viên có trình độ tốt
nghiệp THPT ta thấy BQTN ở mức cao nhất nhỏ hơn BQTN thấp nhất,
BQTN ở mức thấp nhất cũng chiếm tỷ lệ cao nhất; lý do được giải thích như
trường hợp 5, 6 thành viên có trình độ THPT là do gia đình nhiều người, mà
đa số chưa tạo ra thu nhập hoặc việc làm tạo ra thu nhập thấp nên BQTN của
hộ gia đình chưa cao.
e. Tương quan giữa số thành viên có trình độ CĐ-ĐH với BQTN.
Ở bậc trình độ CĐ – ĐH chúng ta thấy có sự khác biệt rõ rệt; dù số
người ở trình độ bậc này không nhiều nhưng BQTN của họ ở mức trên
6.860.000đ/người/ năm chiếm tỷ cao nhất.
BQTN
Số thành viên <2400
>2400
-
3400
>3400
-

hơn. Tỷ lệ % những người có trình độ học vấn cao nhưng BQTN thấp là do
họ chỉ ăn lương mà không có thêm nguồn thu nhập khác.
Những phân tích trên cho thấy, học vấn có ảnh hưởng rất nhiều đến thu
nhập của người dân. Người có trình độ học vấn cao thi cho thu nhập cao và
ngược lại điều đó đã tạo ra sự phân hóa rõ rệt về thu nhập giữa trình độ học
vấn cao và trình độ học vấn thấp.
Do vậy mà trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo
dục là quốc sách hàng đầu, cần tăng cường đầu tư cở sở vật chất cho giáo dục
nhằm nâng cao học vấn cho mọi người dân để từ đó giúp cho họ cải thiện thu
nhập, nâng cao mức sống của mình.
3. Vấn đề giới và người tạo thu nhập chính ảnh hưởng đến thu nhập.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
vai trò của người phụ nữ ngày càng được quan tâm đúng mức hơn. Người phụ
nữ đã khẳng định được vai trò kinh tế trong gia đình, góp phần quan trong
trong việc nâng cao thu nhập cho gia đình. Phụ nữ cũng có quyền làm chủ gia
đình, không còn lệ thuộc vào chồng. Thực tế cho thấy hiện nay, người tạo thu
nhập chính trong gia đình là cả chồng và vợ, chứ không phải chỉ có người
chồng là chủ yếu như ngày trước.
Bảng 7: Yếu tố lao động ảnh hưởng đến thu nhập
BQTN
Người tạo TNC
<2400
>2400-
3400
>3400-
4800
>4800-
6860
>6860
Chồng 27,3% 25,8% 36,9% 28,3% 23,3%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status