tóm tắt luận án ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos lên sinh lý, sinh hóa và tăng trưởng của cá chép cyprinus carpio linnaeus, 1758 - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN QUANG TRUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC TRỪ SÂU HOẠT
CHẤT QUINALPHOS LÊN SINH LÝ, SINH HÓA
VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ CHÉP
(Cyprinus carpio Linnaeus, 1758)
Chuyên ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Mã số: 62.62.03.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Cần Thơ, tháng 11 năm 2013
Công trình được hoàn thành tại: Bộ môn Dinh dưỡng và Chế biến
Thủy sản, Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ
Người hướng dẫn: PGs.Ts. Đỗ Thị Thanh Hương - Trường Đại học
Cần Thơ
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường tại:
………………………………………………………………………
Vào lúc: giờ ngày tháng năm
i
MỤC LỤC
VÀO LÚC: GIỜ NGÀY THÁNG NĂM I
MỤC LỤC II
DANH SÁCH HÌNH V
VI
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu 1

chép nuôi trong bể 7
3.7.5.2 Ảnh hưởng của quinalphos lên các chỉ tiêu huyết học, hoạt tính
ChE, một số enzyme tiêu hóa và tăng trưởng của cá chép nuôi trong bể 7
3.7.6 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos lên hoạt tính
ChE và tăng trưởng của cá chép nuôi trong ruộng 8
3.8 Các phương pháp phân tích mẫu 8
3.8.1 Phương pháp xác định các chỉ tiêu huyết học 8
3.8.2 Phương pháp xác định tiêu hao oxy 9
3.8.3 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu sinh hóa 9
3.8.4 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu tăng trưởng 9
3.8.5 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 10
3.8.6 Phương pháp phân tích dư lượng thuốc trừ sâu 10
3.9 Phương pháp xử lý số liệu 10
GIÁ TRỊ LC50 ĐƯỢC TÍNH TOÁN BẰNG PHÂN TÍCH
PROBIT. SO SÁNH TRUNG BÌNH GIỮA CÁC NGHIỆM
iii
THỨC BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ
INDEPENDENT T-TEST, ONE WAY ANOVA VÀ TWO
WAY ANOVA VÀ PHÉP THỬ DUNCAN VỚI MỨC Ý
NGHĨA P<0,05, SỬ DỤNG PHẦN MỀM SPSS 11.5 10
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 11
4.1 Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu ở thành phố Cần Thơ 11
4.1.1 Thông tin chung 11
4.1.2 Thông tin về vụ lúa hè - thu 11
4.1.3 Thông số kỹ thuật về mô hình lúa cá 11
4.1.4 Hiệu quả kinh tế của vụ lúa đơn và lúa-cá 11
4.1.5 Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu 11
4.2 Độ độc cấp tính của thuốc trừ sâu quinalphos lên cá chép 12
4.2.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 12
4.2.2 Độ độc cấp tính của thuốc trừ sâu quinalphos lên cá chép 12

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 23
4.1 Kết luận 23
4.2 Kiến nghị 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 28
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.9: Tỷ lệ chết của cá chép khi tiếp xúc quinalphos 11
Bảng 4.25: Tăng trưởng ở cá chép …………………… 18
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.3: Cơ chế tác động của thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ 3
Hình 4.1: Biến đổi hoạt tính ChE ở não sau 28 ngày ………… 13
Hình 4.2: Mức độ ức chế ChE ở não sau 28 ngày……………. 13
Hình 4.3: Biến đổi hoạt tính ChE ở cơ sau 28 ngày………… 13
v
Hình 4.4: Mức độ ức chế ChE ở cơ sau 28 ngày……………… 13
Hình 4.5: Biến đổi hoạt tính ChE ở mang sau 28 ngày……… 14
Hình 4.6: Mức độ ức chế ChE ở mang sau 28 ngày………… 14

vi
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu
Thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos thuộc gốc lân hữu cơ được sử
dụng rộng rãi trong canh tác nông nghiệp ở Ấn Độ và một số nước
khác trong đó có Việt Nam (Chebbi et al., 2009). Các thông số huyết
học như hemoglobin, hematocrit, số lượng hồng cầu,…có thể được sử
dụng để tìm phản ứng sinh lý ở cá khi môi trường bị ô nhiễm (Dethloff
et al, 2001). Sự ức chế hoạt động của AChE gây tác động lên sự hô hấp,
hoạt động bơi lội, bắt mồi và tập tính của động vật sống trong nước bởi
sự mất phương hướng, sự co giật và thậm chí tử vong (Peakall, 1992).
Enzyme tiêu hóa phản ánh mức độ cho ăn và khả năng tiêu hóa ở cá, do

50
-96 giờ của thuốc trừ sâu hoạt chất
quinalphos lên cá chép.
c) Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos lên sinh lý
hô hấp của cá chép.
d) Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos đến độ nhạy
cảm và ngưỡng ức chế của men cholinesterase (ChE).
e) Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos lên các chỉ
tiêu huyết học, hoạt tính ChE, một số enzyme tiêu hóa và tăng trưởng
của cá chép nuôi trong bể.
f) Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos lên hoạt tính
ChE và tăng trưởng của cá chép nuôi trong ruộng lúa.
1.4 Ý nghĩa của luận án
Kết quả luận án là cơ sở khoa học để khuyến cáo nông dân sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật hay thuốc trừ sâu một cách phù hợp trên đồng ruộng.
1.5 Điểm mới của luận án
Luận án đã xác định thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos làm thay đổi
một số chỉ tiêu huyết học và một số chỉ tiêu sinh lý hô hấp (tiêu hao oxy
và ngưỡng oxy). Thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos ức chế đáng kể
hoạt tính men ChE ở não, cơ, mang và gan ở cá chép khi tiếp xúc các
nồng độ dưới ngưỡng gây chết đối với các thí nghiệm cấp tính (96 giờ)
và thí nghiệm nuôi dài ngày (28 và 60 ngày) ở bể và 44 ngày ở ruộng
lúa. Thời gian phục hồi hoạt tính ChE là ít nhất 21 ngày (bể) và 14 ngày
(ruộng lúa). Men GST ở cá chép không đóng vai trò quan trọng trong
phân giải độc chất. Thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos làm thay đổi
đáng kể hoạt tính một số men tiêu hóa. Luận án đã xác định não là cơ quan
nhạy cảm nhất ở cá chép. Sự ức chế ChE làm thay đổi hành vi bơi lội ở cá và
mức độ ức chế ChE gây chết cá là 95%.
Luận án đã xác định thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos ảnh hưởng
đến các chỉ số tăng trưởng, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và tỷ lệ

Kết quả là tồn dư một lượng lớn acetylcholine (AchE). Khi nồng độ
ACh vẫn duy trì ở mức cao và tiếp tục kích thích các cơ hay sợi dây
thần kinh dẫn đến co cơ và làm sinh vật tê liệt (Richard and David,
2008) (Hình 2.3).
3
Hình 2.3: Cơ chế hoạt động của AChE (A) và cơ chế tác động của
thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ (B) (Nguồn: Richard and David, 2008)
4
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thưc hiện
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 05/2009 đến tháng 7/2012 tại
Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ và xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ,
TP.Cần Thơ.
3.2 Vật liệu thí nghiệm
Nghiên cứu sử dụng một số phương tiện chính như sau:
- Bể composite 500 L, 2 m
3
, 4 m
3
, bể kính 84 L.
- Máy so màu quang phổ; máy ly tâm lạnh; máy nghiền,…
3.3 Sinh vật thí nghiệm
Cá chép Cyprius carpio (8-12 g) được thu mua từ các trại cá
giống ở Cần Thơ và thuần dưỡng trong bể composite trước khi
bố trí.
3.4 Thuốc thí nghiệm
Thuốc trừ sâu Kinalux 25 EC có hoạt chất là quinalphos thuộc gốc lân
hữu cơ được mua từ đại lý kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật ở Cần Thơ.
3.5 Nguồn nước thí nghiệm
Nguồn nước thí nghiệm là nước máy của thành phố Cần Thơ, nước

3.7.3.1 Tiêu hao oxy
a) Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức là đối chứng, 10%, 20% , 50% và
75% giá trị LC
50
-96 giờ với 6 lần lập lại. Mật độ là 2 cá/bình kín 2 L. Tiêu
hao oxy được xác định bằng phương pháp bình kín. Bố trí thí nghiệm gồm
hai trường hợp là bố trí gây nhiễm trước 24 giờ và bố trí thuốc trực tiếp.
3.7.3.2 Ngưỡng oxy
Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức là đối chứng, 10%, 20% , 50% và
75% giá trị LC
50
-96 giờ với 6 lần lập lại. Ngưỡng oxy được xác định bằng
phương pháp bình kín. Mật độ 4 cá/bình kín 2 L, 6 lần lập lại. Bố trí thuốc
gồm hai trường hợp là bố trí gây nhiễm trước 24 giờ và bố trí trực tiếp.
3.7.4 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos đến độ
nhạy cảm và ngưỡng ức chế ChE ở cá chép
3.7.4.1 Độ nhạy cảm ChE
a) Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp 2 nhân tố là thời
gian (nhịp thu mẫu) và nồng độ gồm đối chứng, 1%, 10%, 20%, 50%
và 75% giá trị LC
50
-96 giờ với 3 lần lập lại. Mật độ là 30 cá/100 L nước.
b) Phương pháp thu mẫu
Thu 3 cá/bể ở các thời điểm trong 96 giờ. Não cá được thu để xác
định độ nhạy cảm ChE ở não. Nhiệt độ, pH, oxy sáng chiều trong thời
gian thí nghiệm được ghi nhận.
3.7.4.2 Ngưỡng ức chế ChE
a) Bố trí thí nghiệm

- Các chỉ tiêu môi trường như nhiệt độ, pH, oxy được đo hằng ngày.
3.7.5.2 Ảnh hưởng của quinalphos lên các chỉ tiêu huyết học, hoạt tính
ChE, một số enzyme tiêu hóa và tăng trưởng của cá chép nuôi trong bể
a) Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp 2 nhân tố (đối với
thí nghiệm sinh hóa) là thời gian (nhịp thu mẫu) và nồng độ gồm 5
nghiệm thức là đối chứng, 10%, 20% , 50% và 75% giá trị LC
50
-96
giờ với 3 lần lập lại. Mật độ 80 cá/bể composite 380 lít nước. Thời
gian thí nghiệm là 90 ngày. Bố trí thuốc 2 lần.
b) Phương pháp thu mẫu
Mẫu được thu vào ngày 0, 6 giờ, 3 ngày, 30 ngày sau khi bố trí thuốc
lần 1; ngày 31 (6 giờ), 33 ngày và 60 ngày sau khi bố trí thuốc lần 2. Mẫu
máu được thu để xác định các chỉ tiêu huyết học (hồng cầu, tỉ lệ huyết
cầu, hemoglobin, MCV, MCH, MCHC). Mẫu não, mang, cơ và gan
được thu để xác định các hoạt tính men ChE; mẫu ruột được thu để đo
hoạt tính các men tiêu hóa (trypsin, chymotrypsin, alpha-amylase). Mỗi
lần thu 5 cá/bể.
7
c) Chăm sóc bể thí nghiệm
Định kỳ thay nước trong thời gian thí nghiệm. Các bể được sục
khí nhẹ. Cho ăn thức ăn Cargill 30% đạm theo nhu cầu 2 lần/ngày.
Thức ăn được cân trước và sau khi cho ăn.
d) Các chỉ tiêu theo dõi
Tăng trưởng của cá được xác định bằng cách thu 30 cá/bể vào các
ngày thứ 30, 60 và 90. Số liệu thu thập sẽ dùng xác định các chỉ tiêu
tăng trưởng như tăng trọng, DWG, SGR, FCR và tỷ lệ sống. Nhiệt độ,
pH và oxy được theo dõi hằng ngày.
3.7.6 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos lên hoạt tính

8
- Hematocrit (tỷ lệ huyết cầu): Máu thu được ly tâm bằng máy ly
tâm chuyên biệt. Tỷ lệ huyết cầu được xác định bằng phần trăm tỷ lệ tế
bào màu so với tổng thể tích.
3.8.2 Phương pháp xác định tiêu hao oxy
Tiêu hao oxy của cá được tính toán theo công thức (Đỗ Thị Thanh
Hương, 1997).
3.8.3 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu sinh hóa
Cholinesterase (ChE): được phân tích theo phương pháp Ellman et
al. (1961) có bổ sung.
Catalase (CAT): được xác định theo phương pháp của Baudhuin et
al. (1964) có bổ sung.
Glutathione S-transferase (GST): được xác định theo phương pháp
của Habig et al. (1974) có bổ sung.
Lipid peroxidation (LPO): được xác định theo phương pháp phân
tích của Fatima et al. (2000) có bổ sung.
Enzyme tiêu hóa
Hoạt tính men trypsin được xác định theo phương pháp của Tseng
et al. (1982). Hoạt tính chymotrypsin được xác định theo phương pháp
của Worthington (1982). Hoạt tính alpha-amylase được xác định theo
phương pháp của Bernfeld (1951).
Protein: được xác đinh theo phương pháp Lowry et al. (1951) và
Bradford (1976).
3.8.4 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu tăng trưởng
Tăng trưởng khối lượng (Weight gain – WG)
WG(g) = W
c
– W
đ
Tăng trưởng đặc biệt (Specific growth rate –SGR)

- Ammonia được xác định phương pháp Indophenolblue.
- Hàm lượng oxy trong nước được xác định bằng bằng phương pháp Winkler.
3.8.6 Phương pháp phân tích dư lượng thuốc trừ sâu
Dư lượng thuốc trừ sâu quinalphos được xác định bằng hệ thống
GC-ECD (Nguyen Quoc Thinh et al., 2012).
3.9 Phương pháp xử lý số liệu
Giá trị LC
50
được tính toán bằng phân tích probit. So sánh trung
bình giữa các nghiệm thức bằng phương pháp thống kê Independent T-
test, One way Anova và Two way Anova và phép thử DUNCAN với
mức ý nghĩa p<0,05, sử dụng phần mềm SPSS 11.5.
10
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu ở thành phố Cần Thơ
4.1.1 Thông tin chung
Diện tích sản xuất lúa đơn là 1,93 ha (chiếm 70% tổng diện tích),
đối với lúa cá là 2,02 ha (75%).
4.1.2 Thông tin về vụ lúa hè - thu
Nông dân thường sử dụng giống lúa phổ biến nhất là OM 2514
(26,7%). Đa số các hộ nông dân bắt đầu vụ lúa hè - thu từ tháng 3 đến 6
âm lịch (88,9%). Thời gian sinh trưởng của lúa trung bình là 95 ngày.
4.1.3 Thông số kỹ thuật về mô hình lúa cá
Cá chép là loài phổ biến nhất trong mô hình lúa - cá chiếm 100% số hộ
nuôi. Mật độ cá thả là 0,42±0,25 con/m
2
. Thời gian nuôi cá trong mô hình
lúa - cá là 149 ngày. Năng suất cá trung bình là 577±322 kg/ha.
4.1.4 Hiệu quả kinh tế của vụ lúa đơn và lúa-cá
Năng suất lúa hè - thu (lúa đơn) là 4,5 tấn/ha và lúa hè - thu có nuôi

o
C và buổi chiều là
27,6
o
C; sự biến động nhiệt độ sáng chiều < 1
o
C. pH dao động 7,8-7,9
và oxy hòa tan ở các bể là 3,6

mg/L.
4.2.2 Độ độc cấp tính của thuốc trừ sâu quinalphos lên cá chép
Tỷ lệ chết và giá trị LC
50
của thuốc trừ sâu quinalphos lên cá chép
được trình bày ở Bảng 4.9. Sau 1 giờ thì cá chết xuất hiện ở nồng độ 1,8
mg/L với tỷ lệ 13,3%; tăng lên trên 80% sau 3 giờ và chết 100% sau 72
giờ. Giá trị LC
50
của thuốc trừ sâu quinalphos lên cá chép cỡ 8,6 g được
xác định lần lượt là 1,16; 0,76 và 0,76 mg/L sau 24, 72 và 96 giờ.
Bảng 4.9: Tỷ lệ chết của cá chép khi tiếp xúc với quinalphos trong 96 giờ
Thời
gian
Nồng độ quinalphos (mg/L)
0
0,2 0,5 0,8 1,1 1,5 1,8
1 0 0 0 0 0 0 13,3
3 0 0 0 0 0 23,3 83,3
24 0 0 13,3 26,7 36,7 56,7 90 1,16 (0,96-1,44)
72 0 0 23,3 53,3 70 93,3 100 0,76 (0,66-0,85)

ChE ở não cá chép
4.4.1 Các yếu tố môi trường trong 96 giờ
Giá trị pH trung bình vào buổi sáng là 6,8±0,1 và buổi chiều là
6,9±0,1. Nhiệt độ bình quân vào buổi sáng là 25,4±0,1
o
C và buổi chiều là
26,9±0,1
o
C. Hàm lượng oxy ở các nghiệm thức dao động từ 5,9-6,3 mg/L.
4.4.2 Sự nhạy cảm cholinesterase (ChE) ở cá chép
Hoạt tính ChE ở não có khuynh hướng giảm theo sự gia tăng nồng độ
thuốc và thời gian thí nghiệm. Ở nồng độ rất thấp (0,0076 mg/L), hoạt tính
ChE bị ức chế có ý nghĩa (25%) so với đối chứng (p<0,05). Mức độ ức chế
cao nhất được ghi nhận ở nồng độ 0,57 mg/L (91,6%). Theo thời gian thí
ngiệm, mức độ ChE là 74,8% và chưa có dấu hiệu phục hồi hoàn toàn so
với đối chứng sau 96 giờ (p<0,05).
4.4.3 Ngưỡng ức chế ChE ở cá chép
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ức chế ChE ảnh hưởng đến
các hành vi bơi lội của cá: cá bơi lội mất định hướng, mức độ ức chế
ChE bình quân là 82,8%; cá bơi lờ đờ là 91,8% và cá chết là 95,1%.
Fleming and Grue (1981) cho rằng hoạt tính của men AChE trong
não giảm 20% so với đối chứng thì có thể xem cá tiếp xúc với thuốc trừ
sâu gốc lân hữu cơ. Ở cá, tương quan giữa sự ức chế ChE và sự chết ở cá
chưa rõ bởi vì một số loài có thể sống với mức độ ức chế enzyme ChE ở
não cao 90-95% (Fulton and Key, 2001; Ferrari et al., 2004). Sự ức chế
ChE gây ra những thay đổi về tập tính từ đó có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ
sống của cá trong điều kiện thí nghiệm (Ferrari et al., 2007).
4.5 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hoạt chất quinalphos lên các chỉ
tiêu huyết học, hoạt tính ChE, một số enzyme tiêu hóa và tăng
trưởng của cá chép nuôi trong bể

Hình 4.3 Biến đổi hoạt tính ChE ở cơ Hình 4.4: Mức độ ức chế ChE ở cơ
14
- Mang: Hoạt tính ChE ở mang bị ức chế mạnh nhất ở tất cả các
nồng độ thuốc dao động 84-92% sau 4 ngày (p<0,05). Sau 21 ngày thì
hoạt tính ChE ở nồng độ 0,076 và 0,152 mg/L có dấu hiệu phục hồi hoàn
toàn. Đến ngày thứ 28 thì hoạt tính ChE ở nồng độ 0,38 và 0,57 mg/L có
biểu hiện phục hồi không hoàn toàn so với đối chứng (p<0,05).
Hình 4.5: Biến đổi hoạt tính ChE ở mang Hình 4.6: Mức độ ức chế ChE ở mang
- Gan: Mức độ ức chế hoạt tính ChE tăng theo nồng độ thuốc, dao
động 45-78%. Sau 1 ngày thì hoạt tính ChE ở gan bị ức chế 61,3% so
với đối chứng. Sau 28 ngày, hoạt tính ChE ở gan có dấu hiệu phục hồi
không hoàn toàn so với đối chứng (p<0,05).
Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 1 ngày, ở nồng độ thuốc thấp nhất
(0,076 mg/L) mức độ ức chế hoạt tính ChE ở não, cơ, mang và gan lần
lượt là 88,1; 79,6; 77,5 và 61,3%. Như vậy, mức độ ức chế ChE ở não là
cao nhất hay nói cách khác não là cơ quan nhạy cảm nhất trong các mô
khảo sát ở cá chép.
b) Hoạt tính men glutathione-S-transferase (GST)
- Não: Hoạt tính GST (140-212 nmol/phút/mg protein) ở nồng độ
0,57 mg/L khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại. Sau 1
ngày, hoạt tính GST tăng có ý nghĩa so với đối chứng. Hoạt tính GST
phục hồi hoàn toàn sau 14 ngày.
- Cơ: Hoạt tính GST ở cơ không có sự khác biệt ở các nồng độ
thuốc dao động 32-41 nmol/phút/mg protein. Sau 28 ngày, hoạt tính
GST ở cơ thay đổi không có ý nghĩa (32-40 nmol/phút/mg protein).
- Mang: Hoạt tính GST ở mang không có nhiều thay đổi ở các
nồng độ thuốc, dao động 101-122 nmol/phút/mg protein. Sau 28 ngày,
hoạt tính GST ở mang khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05).
15
- Gan: Hoạt tính GST ở gan cao nhất trong các cơ quan khảo sát

quinalphos làm giảm đáng kể hoạt tính men ChE ở não, cơ và mang
của cá mè vinh Barbonymus gonionotus. Đỗ Văn Bước (2010) cho
rằng cá rô phi Oreochromis niloticus tiếp xúc với thuốc trừ sâu
quinalphos (gốc lân hữu cơ) thì hoạt tính GST ở não thay đổi không có
ý nghĩa ở những nồng độ thấp sau 96 giờ. Cá tra giống
(Pangasianodon hypophthalmus) khi tiếp xúc với thuốc trừ sâu
Kinalux (hoạt chất quinalphos, gốc lân hữu cơ) hoạt tính men CAT
16
tăng ở não 71,5%, gan 11,9% và giảm ở cơ 36,4% và mang 28%.
(Nguyễn Thị Quế Trân, 2010).
Durmaz et al. (2006) cho rằng Oreochromis niloticus tiếp xúc với thuốc
trừ sâu diazinon (nồng độ 0,1; 1 và 2 ppm) cho thấy hoạt tính LPO ở mang
không thay đổi có ý nghĩa trong khi LPO ở cơ tăng ở ngày 15 và 30 của thí
nghiệm.
4.5.2 Ảnh hưởng thuốc trừ sâu quinalphos lên các chỉ tiêu huyết học,
hoạt tính ChE, các men tiêu hóa và tăng trưởng của cá chép nuôi ở bể
4.5.2.1 Các yếu tố môi trường và sự tồn lưu quinalphos trong nước
a) Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm
Nhiệt độ bình quân ở các nghiệm thức vào buổi sáng tương đối ổn
định dao động từ 27,1-27,6
o
C và buổi chiều là 28,1 - 28,4
o
C, biến động
nhiệt độ sáng chiều dao dộng khoảng 1
o
C. pH ở các nghiệm thức dao
động từ 6,7-7,1. Biến động hàm lượng oxy ở các nghiệm thức dao động
4,7-5,6 mg/L vào buổi sáng và 4,8-5,6 mg/L vào buổi chiều.
b) Sự tồn lưu thuốc trừ sâu quinalphos

MCHC thay đổi không có ý nghĩa (p>0,05). Sau 6 giờ ở lần bố trí thuốc
thứ 2, MCHC có biểu hiện giảm có ý nghĩa và đến ngày 60, MCHC vẫn
chưa phục hồi hoàn toàn so với đối chứng (p<0,05).
4.5.2.3 Ảnh hưởng thuốc trừ sâu quinalphos lên hoạt tính cholinesterase
và hoạt tính một số men tiêu hóa ở cá chép
a) Hoạt tính men cholinesterase (ChE)
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương tác giữa nồng độ và thời
gian đến sự thay đổi hoạt tính ChE ở não, cơ, mang và gan.
- Não: Sau 6 giờ, hoạt tính ChE ở não bị ức chế có ý nghĩa (p<0,05) ở
tất cả các nồng độ thuốc so với đối chứng (p<0,05), dao động 86,2-91,4%.
Hoạt tính ChE ở não có biểu hiện phục hồi hoàn toàn sau 30 ngày.
- Cơ: Hoạt tính ChE ở cơ bị ức chế có ý nghĩa ở tất cả các nồng
độ thuốc so với đối chứng sau 6 giờ, dao động 83,5-93%. Sau 30
ngày, hoạt tính ChE ở cơ có biểu hiện phục hồi hoàn toàn. Tuy
nhiên, hoạt tính ChE ở cơ có biểu hiện phục hồi không hoàn toàn ở
các nồng độ thuốc sau ngày 60 (p<0,05).
- Mang: Hoạt tính ChE ở mang bị ức chế có ý nghĩa ở tất cả các
nồng độ thuốc (p<0,05) sau 6 giờ, dao động 84,6-91,4%. Sau 30 ngày,
hoạt tính ChE ở mang phục hồi hoàn toàn so với đối chứng (p>0,05).
Hoạt tính ChE ở mang có biểu hiện phục hồi không hoàn toàn ở tất cả
các nồng độ thuốc sau 60 ngày (p<0,05).
- Gan: Hoạt tính ChE ở gan bị ức chế đáng kể sau 6 giờ ở tất cả
các nồng độ thuốc so với đối chứng (p<0,05), dao động 81,6-85,4%.
Hoạt tính ChE ở gan có biểu hiện phục hồi hoàn toàn sau 30 ngày.
Tương tự ở não, hoạt tính ChE ở gan có dấu hiện phục hồi hoàn toàn ở
tất cả các nồng độ thuốc sau 60 ngày.
Tương tự như thí nghiệm ở mục 4.5.1.3, kết quả thí nghiệm này cho
thấy sau 6 giờ, mức độ ức chế hoạt tính ChE ở não, cơ, mang và gan đối với
nồng độ thuốc thấp nhất (0,076 mg/L) lần lượt là 86,2, 83,5; 84,6 và 81,6%.
Như vậy, có thể nhận định rằng sự ức chế ChE ở não là cao nhất hay não là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status