tổng quan tình hình nghiên cứu về động vật đáy trong hệ sinh thái rạn san hô và vùng ven đảo ở 19 đảo - Pdf 24

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI THUỶ SẢN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
O0O
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ VÀ CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI,
TRỮ LƯỢNG QUẦN XÃ ĐỘNG VẬT THÂN MỀM KHU BẢO
TỒN BIỂN PHÚ QUÝ
Người thực hiện: KS. Đỗ Thanh An
KS. Hoàng Đình Chiều
Viện Nghiên cứu Hải sản
Dự án:
Xây dựng Quy hoạch chi tiết Khu bảo tồn Phú Quý - Bình
Thuận
Chủ dự án:
Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
Cơ quan thực hiện:
Viện Nghiên cứu Hải sản
HẢI PHÒNG, 12/2010
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI THUỶ SẢN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
O0O
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘNG VẬT
ĐÁY TRONG HỆ SINH THÁI RẠN SAN HÔ VÀ VÙNG VEN
ĐẢO Ở 19 ĐẢO
Người thực hiện: KS. Đỗ Thanh An
KS. Hoàng Đình Chiều
Viện Nghiên cứu Hải sản
Dự án:

2
, trong đó 45% diện tích độ phủ rạn là san hô sống. Đây là điều kiện
thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế xã hội, du lịch đang và sẽ là hướng
phát triển trọng tâm. Hệ sinh thái rạn san hô là điều kiện tốt để cho nhiều loài
sinh trưởng và phát triển. Trong đó, nhóm động vật đáy cỡ lớn luôn chiếm đa
số cả về thành phần loài, số lượng cũng như sinh khối.
Động vật đáy (ĐVĐ) trong hệ sinh thái biển đảo là một trong những
nguồn thực phẩm có chấp lượng cung cấp trực tiếp cho con người, giá trị
thương mại, du lịch phục vụ cho chế biến thuỷ, hải sản xuất khẩu và cả trong y
học như các loài hải sâm, bào ngư Hiện nay, những nghiên cứu về động vật
đáy đã được tiến hành nghiên cứu trên nhiều quy mô khác nhau, trên nhiều đối
tượng khác nhau. Đặc biệt là tiến hành nghiên cứu trên đối tượng có giá trị kinh
tế, có sản lượng khai thác cao, trong đó chủ yếu là nhóm động vật đáy cỡ lớn
vùng ven bờ, như một số loài hải sâm, một vài loài giáp xác, cá, một số động
vật hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu động
vật đáy cỡ lớn tại các hệ sinh thái vùng biển đảo còn rất ít hoặc đang tập trung
tại các viện nghiên cứu trên cả nước chưa được công bố rộng rãi, các nghiên
cứu còn mang tính khái quát, tổng hợp chưa đi vào từng nhóm đối tượng. Các
thông tin không theo hệ thống và nhiều thông tin còn thiếu trong quá trình thu
thập, tạo lập cơ sở dữ liệu phục vụ cho mục đích quy hoạch, bảo vệ các giá trị
đa dạng loài phân bố và giá trị kinh tế với mục tiêu bảo tồn và khai thác nguồn
lợi lâu dài, bền vững.
Nguồn lợi sinh vật biển đang bị khai thác ở mọi lúc, mọi nơi tại các
vùng ven bờ, ven đảo. Nhiều loài có giá trị cao như tôm hùm, hải sâm, bào
ngư… là nhóm loài tập trung ở những vùng nước nông ven đảo đặc biệt là
trong các rạn san hô đang bị khai thác triệt để, vùng rong cỏ biển, vùng triều.
Khả năng khai thác và đánh bắt quá mức trong các hệ sinh thái làm cho các hệ
sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái san hô đang có dấu hiệu suy giảm, ảnh hưởng
nhiều đến các loài sinh sống phụ thuộc vào các hệ sinh thái, là mối đe dạo lớn
cho nhiều loài sinh vật biển.

chưa xác định được tổng hợp từ 2 công trình của Dawydoff và Gurjanova.
- Ngành giun đốt: Lớp giun nhiều tơ: có 743 loài trong đó có 1 giống
mới và 45 loài mới, 135 loài chưa xác định, 488 loài công bố danh mục, 176
loài công bố mô tả và 79 loài chưa công bố trong tổng số 15 công trình nghiên
cứu của Dawydoff, Fauchald, Fauvel, Gallardo, Gurjanova, Sérène, Strelzov,
Uschakov, Trần Ngọc Lợi, Nguyễn Văn Chung, Viện nghiên cứu biển.
- Ngành Sipunculida: có 32 loài, trong đó có 5 loài chưa xác định, 21
loài công bố danh mục, 11 loài công bố mô tả, trong tổng cộng 6 công trình của
Dawydoff, Gurjanova, Trần Ngọc Lợi.
- Ngành Uchiuria: có 6 loài công bố danh mục, 2 loài chưa xác định,
được tổng hợp trong 3 công trình của Dawydoff, Gurjanova, Trần Ngọc Lợi.
- Ngành động vật hình rêu: có 100 loài được công bố danh mục, trong
đó có 10 loài chưa xác định, có 4 loài mới, được tổng hợp trong 3 công trình
của Dawydoff, Gurjanova, Trần Ngọc Lợi.
- Ngành tay cuộn: có 6 loài công bố danh mục, được tổng hợp từ 2 công
trình của Dawydoff và Sérène.
- Ngành thân mềm: có 2523 loài trong đó có 154 loài chưa xác định,
1632 loài công bố danh mục, 308 loài công bố mô tả, 583 loài chưa công bố,
trong số loài công bố có 200 loài mới được tổng hợp từ 19 công trình nghiên
cứu của Bavay, Dautzenberf & Fischer, Marche-Marchard, Risbec, Robson,
Saurin, Sérène Hayashi, Trần Ngọc Lợi, Nguyễn Văn Chung, Định Đình Tiền,
Viện Nghiên cứu biển., Dawydoff.
- Ngành chân khớp, lớp giáp xác: có 1647 loài trong đó có 264 loài chưa
xác định, 1044 loài công bố danh mục, 248 loài công bố mô tả, có 38 loài mới
và 355 loài chưa công bố, được tổng hợp từ 46 công trình của Boschma, Fize,
Pize & Sérène, Forest, Gravier, Dawydoff, Gurjanova, Monod, Starobogatov,
Tiwari, Hayashi, Trần Ngọc Lợi, Nguyễn Văn Chung, Định Đình Tiền, Viện
Nghiên cứu biển.
- Ngành da gai: có 384 loài có 39 loài chưa xác định, 359 loài công bố
danh mục, 10 loài công bố mô tả, 15 loài chưa công bố được tổng hợp trong 8


tả
Số
loài
chưa
xác
định
Số
công
trình
nghiên
cứu
Các loài mới
Dạng
mới
Giốn
g mới
Loài
mới
1
Ngành Hải
miên
160 9 123 28 18 5 8
2
Ngành Ruột
khoang
714 23 547 114 33 15 1 32
3 Ngành Giun 10 10 1 2
vũi
4

Ngành thân
mềm
2523 583
163
2
308 154 19 200
1
1
Ngành da gai 384 15 359 10 39 8
1
2
Ngành
Hemichordata
6 6 2 1
1
3
Ngành
Chordata
46 46 1 4
Nguồn: (Nguyễn Văn Chung và nnk, 1978)
Tóm lại có thể thấy 6377 loài được thống kê từ 77 công trình là một con
số lớn so với những điều kiện nghiên cứu trước và nó chủ yếu được tiến hành
bởi các nhà nghiên cứu nước ngoài trong đó tiêu biểu là các tác giả Sérène,
Dawydoff, Gurjanova và một sô nhà nghiên cứu trong nước tiêu biểu như
Nguyễn Văn Chung, Trần Ngọc Lợi. Tuy nhiên, những nghiên cứu này còn
nhiều hạn chế như tập chung ở vùng triều và vùng ven bờ của một số địa
phương riêng lẻ, phạm vi hẹp và chỉ có ba cuộc điều tra trên quy mô lớn như
tàu De lanessan (1929 - 1931), đội điều tra Việt – Trung (1959-1960, 1962) và
Việt – Xô (1960 – 1961). Mặt khác, bên cạnh những ngành, lớp được các
chuyên gia tập chung nghiên cứu nhiều nên số loài phát hiện nhiều như thâm

Tổng số loài đã phát hiện dược cho thấy thành phần loài phân bố của
động vật đáy trên vùng biển Việt Nam như sau:
- Ở vịnh Bắc Bộ (từ vĩ độ 170 trở ra) số loài chiếm khoảng 20%.
- Ở biển miền Trung và Nam Bộ (từ vĩ độ 170 trở vào) số loài chiếm
khoảng 50%.
- Số loài phát hiện được ở cả 3 vùng chiếm khoảng 30%.
- Thành phần loài ở biển miền Trung và phía Nam không khác biệt mấy
và có xu thế tăng dần từ Bắc xuống Nam. Thành phần loài có nguồn gốc và đặc
tính phân bố địa lý rộng ở hầu khắp các vùng biển thế giới, ngoại trừ một số ít
loài phân bố toàn cầu (Cosmopolite), có khả năng thích nghi cao với điều kiện
sống, còn lại phần lớn số loài chỉ phân bố rộng ở vùng nhiệt đới ấn Độ - Tây
Thái Bình Dương.
Đặc điểm phân bố của một số nhóm động vật đáy chính tại vùng biển
Việt Nam như sau:
Phân bố của giun nhiều tơ (Polychaeta): Nhóm giun nhiều tơ chiếm vị
trí khá quan trọng trong khu hệ động vật đáy biển Việt Nam, tuy thành phần
loài không nhiều như thân mền và giáp xác, nhưng đã phát hiện được khoảng
700 loài. Trong đó một số họ có số loài tương đối nhiều như họ Aphroditidae,
Nereidae, Eunicidae, syllidae, Terebellidae, Capitellidae, Nephtyidae… Phần
lớn giun nhiều tơ thích ứng với dạng chất đáy là bùn nhuyễn, cá biệt có loài
sống ở chất đáy là cát lớn hoặc cát có lẫn vỏ sinh vật, nhiều loài sống trong các
tầng san hô chết. Sự phân bố của giun nhiều tơ khác hẳn với thân mềm, giáp
xác và da gai. Nhiều loài giun nhiều tơ phân bố rất rộng trong đó có một số loài
có phân bố toàn cầu như Terebellides stroemi, Sternaspis scutata, Nephtys
dibranchis…hoặc phân bố rộng ở khu biển nhiệt đới ấn Độ-Thái Bình Dương
như Marphysa stragulum, Chloeia, Panthalis melanonotus. Ở biển Việt Nam
ngoài các loài phân bố rộng như đã nói ở trên, từng vùng biển có thành phần
loài đặc trưng khác nhau:
- Ở vịnh Bắc bộ đã phát hiện khoảng 300 loài, các loài đặc trưng là
Phyllidoce castanea, Eunice tubofex, Notomastus latericeus, Glycera riuxii…

- Ở vịnh Bắc Bộ đã phát hiện được hơn 500 loài, ngoài các loài trên, các
loài sau đây cũng thường gặp ở vùng biển này: Parapenaeopsis tenella,
Chasmocarcinops gelasimoides, Charybdis truncata, Scalopidia spinoisipes,
Leucosia unidentata…
- Vùng biển miền Trung đã phát hiện được khoảng 700 loài trong đó các
loài điển hình như Penaeus monodon, P. semisulcatus, P. latisulcatus,
Macrophthalmus nudus, Panulirus ornatus, P.homarus, P. longipes, P.
stimpsoni…
- Vùng biển phía Nam đã phát hiện được gần 500 loài, ngoài một số loài
có giá trị kinh tế trong họ tôm he, cua bơi và tôm hùm, còn có các loài thường
gặp khác như: Actumnus spuamosus, Cryptosoma granulosa,
Chasmocarcinops gelasimoides, Myra fugax, Myrodes eudactylus.
Phân bố của Da gai (Echinoderm): Động vật da gai có số loài ít nhất
trong số 4 nhóm động vật đáy, chủ yếu sống ở biển. Đến nay đã phát hiện được
khoảng 350 loài thuộc 58 họ, trong đó một số họ có số loài tương đối nhiều
như: Comasteridae, Holothuriaidae, Cucumariidae, Amphiuridae…Các loài
thường gặp trên vùng triều và dưới triều có nền đáy cứng (cát và san hô chết) là
hải sâm (họ Holothuridae), sao biển và cầu gai cỡ lớn. Trong san hô chết
thường có các loài đuôi rắn họ Ophiothrichidae và Ophiactidae…
- Ở miền trung đã phát hiện hơn 200 loài, các loài thường gặp là
Laganum decagonale, Ophiura pteracantha, Leptopentacta tyica, Luidia
prionota, Astropecten velitaris, Clypeaster reticulatus, Ophiothela danae…
- Vùng biển phía Nam ít hơn, khoảng gần 100 loài, thường gặp có các
loài Ophiactis savignyi, Pentacta anceps, Holothuria spinifera, Echinodiscus
auritus, Lobenia elongata, Peeinella lesueuri…
Phân bố sinh vật lượng của vùng biển Việt Nam cho thấy: Tổng sinh vật
lượng bình quân biển Việt Nam là 6,35 g/m
2
và 9,4 cá thể/m
2

Nhiều kết quả điều tra vùng sát bờ Tây vịnh Bắc bộ ở độ sâu không quá 20m
đều cho thấy khối lượng sinh vật tương đối cao (trên 10g/m
2
).
- Ở vùng biển miền Trung (Đà Nẵng - Phan Rang) do độ dốc lớn, cách
bờ không xa đã có độ sâu rất lớn, nên sinh vật lượng nhìn chung thấp. Vùng có
sinh vật lượng dưới 1,00 g/m
2
và 50 cá thể/m
2
chiếm phần lớn diện tích. Tuy
vậy ở vùng sát bờ hoặc vũng vịnh lượng sinh vật cao hơn như ở vịnh Bình
Giang - Nha Trang (5,19 g/m
2
và 191,6 cá thể/m
2
) và vịnh Văn Phong-Bến Gỏi
(30,54 g/m
2
và 191,6 cá thể/m
2
).
- Ở vùng biển phía Nam (từ Phan Rang trở vào) có sinh vật lượng bình
quân là 4,05 g/m
2
và 131,09 cá thể/m
2
. Khối lượng thấp hơn, nhưng mật độ lại
cao hơn so với vịnh Bắc bộ, bởi lẽ trong thành phần định lượng hai nhóm có
kích thước nhỏ là giáp xác và giun nhiều tơ chiếm ưu thế.

Thuận Hải –
Minh Hải
(1979 – 1980)
Nha Trang –
Văn Phong
(1976 – 1985)
Vịnh Bắc bộ
(1959 – 1962)
Quảng Ninh –
Hải Phòng
(1971 – 1972)
g/m
2

thể/m
2
g/m
2

thể/m
2
g/m
2

thể/m
2
g/m
2

thể/m

danh mục động vật da gai vùng biển Việt Nam, 1994.
2.1. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Cô Tô – Quảng Ninh
Kết quả phân tích mẫu thu trong đợt khảo sát của đề tài và tham khảo
các tư liệu có được từ năm 1973 đến nay (N.V. Chung, N.X. Dục, P.Đ. Trọng,
1973; 1947, 1948; Đ.C. Thung, 2000, 2001), ở Cô Tô - Thanh Lân đã phát hiện
được 208 loài thuộc 128 giống, 63 họ. Trong đó ngành Thân mềm (Mollusca)
có số loài phong phú nhất với 151 loài, chiếm 72,9% tổng số loài, sau đến Giáp
xác (Crustacea) 36 loài – 17,4%, Giun đốt (Annelida) 15 loài, chiếm 7,2% và
thấp nhất là ngành Da gai (Echinodermata) chỉ có 5 loài chiếm 2,4%.
Theo kết quả phân tích và thống kê của Đỗ Văn Khương và cs (2008) về
sự phân bố của ĐVĐ ở vùng biển Cô Tô - Thanh Lân trên các mặt cắt khảo sát
cho thấy một sự phân bố không đồng đều giữa các mặt cắt. Hầu hết ở các bãi
cát số lượng loài chỉ nằm trong khoảng từ 10 – 25 loài, cao nhất thuộc về bãi
Nam Hải và Hồng Vàn cũng chỉ tìm thấy 18 – 25 loài. Trên các bãi triều rạn đá,
chiếm ưu thế về thành phần loài, hơn 100 loài tìm thấy ở dạng sinh cảnh này.
Bãi triều rừng ngập mặn, phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc đảo Cô Tô Lớn, do
rừng ngập mặn mọc trên cát, nên rừng rất thưa thớt, nền đáy là cát, hệ sinh vật
đáy tương đối nghèo. Tổng số loài phát hiện được 15 loài, các loài điển hình
gồm Cerithidea cingulata, Littorinopsis scabra (ốc), cua giống Sesarma spp.,
Scopimera bitympana, S. tuberculata .v.v. Vùng dưới triều: đã phát hiện 90 loài
phân bố ở khu vực này, trong số này thân mềm chiếm số loài nhiều hơn cả,
trong đó:
- Ngành Thân mềm (Mollusca) có 62 loài, chiếm 68,8%.
- Ngành Giun đốt (Annelida) với lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta) có 6
loài, chiếm 6,7%.
- Ngành Chân đốt (Arthropoda) với lớp Giáp xác (Crustacea) có 17 loài,
chiếm 18,9%.
- Ngành Da gai (Echinodermata) có 5 loài, chiếm 5,6%.
- Các loài động vật đáy điển hình và có giá trị cao như Bào ngư (Haliotis
diversicolor), Trai ngọc (Pinctada martensii), Bàn mai (Pinna antenuata,

cuội sỏi rất phổ biến ở khu vực Ba Mùn. Trên khu cao triều và trung triều là
các hòn đá tảng, các bãi cát. Trên các bãi triều này, thành phân loài của Giun
nhiều tơ khá nghèo nàn, tại mỗi điểm khảo sát chỉ phát hiện thấy 2 - 7 loài, sinh
lượng cũng rất thấp nên trong các mẫu định lượng hầu như không thu được,
đặc biệt là phía đông các đảo. Điều này cũng đã được khẳng định từ các nghiên
cứu trước đây (1999). Đặc biệt trên vùng cao và trung triều thì hầu như không
có. Tuy nhiên, trên các tảng đá nằm trên vùng triều có các khảm hàu xếp tầng
tầng lớp lớp nhiều khe rãnh, trong đó có tích tụ mùn bã hữu cơ có phát hiện
nhiề loài Giun nhiều tơ thuộc các giống khác nhau, mật độ đạt tới 15 - 20
con/m
2
cón sinh khối của chúng thường thấp, khoảng 2,0 g/m
2
.
- Phân bố trên các bãi triều đáy mềm: Các bãi cát phân bố hạn chế ở
một số khu vực. Đáng chú ý hơn cả là dẻo phía bắc đảo Cảnh Cước và một số
chỗ lõm khác. Cát có cấp hạt nhỏ thô dần từ cao triều đến thấp triều. Thành
phần loài Giun nhiều tơ trên các bãi triều cát thường nghèo nàn do sau khi triều
rút đi cát bị phơi khô nên giun không sống được do thiếu độ ẩm. Thường chỉ
phát hiện 1 -2 loài trên vùng thấp triều của kiểu chất đáy này.
Các bãi triều cát - bùn phân bố thường nằm trong những vụng lõm
quanh các đảo, với đới cao triều và phần trên của đới trung triều là một dẻo
rừng ngập mặn hẹp và thấp. Các bãi triều cát - bùn thường giữ được độ ẩm cần
thiết để Giun nhiều tơ sinh sống. Mặt khác, nhờ có dẻo rừng ngập mặn ở phía
trên nên chúng có đủ lượng mùn bã hữu cơ cần thiết làm thức ăn. Vì vậy, thành
phần loài của khu hệ Giun nhiều tơ trong kiểu chất đáy này phong phú hơn.
Trên vùng triều chúng thường phân bố phổ biến hơn trên vùng cao và trung
triều do nền đáy tơi xốp hơn, còn vùng thấp triều do nền đáy chủ yếu là bùn
nên thường bị nén chặt nên giun hầu như không phân bố. Đáng chú ý hơn là
trong vùng rừng ngập mặn còn thu được 2 loài Giun đốt khác thuộc lớp

lại có từ 1 đến 6 loài. Các loài thường gặp là Cerithidea cingulata, Littoraria
intermedia, Nodilittorina pyramidalis, Planaxis sulcatus, Nerita albicilla,
Clypemorus biscilatus, Chicoreus torefactus, Trochus pyramis
- Lớp hai mảnh vỏ: đã phát hiện 96 loài thuộc 27 họ, 57 giống. Họ
Veneridae có số loài nhiều nhất, 26 loài. Ba họ có số loài tương đối nhiều
gồm họ Tellinidae - 9 loài, Ostreidae - 8 loài, Arcidae - 8 loài; Các họ còn lại
có từ 1 đến 5 loài. Các giống có số lượng loài nhiều gồm Tellina - 6 loài,
Gafrarium - 5 loài, Arca - 4 loài, Isognomon - 4, Barbatia - 3 loài, Pinna - 3
loài, Pitar - 3 loài, Dosinia - 3 loài, Mactra - 3 loài. các loài thường gặp là
Barbatia decussata, Brachydontes curvatus, Isognomon quadragularis,
Nuculana taphria, Pinna attenuata, Pinna vexillum, Asaphis dichotoma,
Gafrarium pectinatum, G. gibba, Chione squamosa, Ostrea mordax, Ostrea
cristagalli, Ostrea glomerata, Chlamys pica, Anomalocardia flexuosa,
Meretrix meretrix, Chione (Clausinella) tiara, Chione (Tomoclea) imbricata,
Calista chinensis.
- Lớp Song kinh và Chân đào mỗi lớp chỉ có 1 họ, 2 giống và hai loài.
- Lớp chân đầu là nhóm sinh vật kinh tế quan trọng. Nhưng theo kết quả
nghiên cứu trước đây (Đỗ Công Thung và nnk, 2002) khu vực Bái Tử Long và
lân cận có 14 loài thuộc nhóm này và tập trung chủ yếu ở các họ mực nang
(Sepiidae) - 6 loài, mực sim (Sepiolidae) - 3 loài, mực ống (Loliginidae) - 2
loài và bạch tuộc - 3 loài.
Kết quả thống kê cho thấy trong số 197 loài có 149 loài phân bố ở vùng
triều, bao gồm 80 loài ốc, 59 loài trai biển; vùng dưới triều có 96 loài, 45 loài
ốc và 51 loài trai. Có 48 loài phân bố chung cả vùng triều và dưới triều (25 loài
ốc, 23 loài trai).
Bảng 5. Sinh vật lượng thân mềm vùng triều khu vực Ba Mùn
Địa điểm con /m
2
mg/m
2

Tiềm năng nguồn lợi: Thân mềm là nguồn sống chủ yếu của một bộ
phận dân nghèo ven biển. Hàng ngày họ khai thác ốc, trai, sò mang bán để
kiếm tiền sinh sống và chi tiêu cho gia đình. Giải quyết tốt vấn đề sử dụng hợp
lý nguồn lợi này sẽ góp phần vào xoá đói giảm nghèo cho dân cư ven biển.
Cấu trúc nguồn lợi: Trong số gần 200 loài động vật thân mềm đã phát
hiện thấy ở Bái Tử Long thì có tới 63 loài thường xuyên được khai thác làm
thực phẩm, xuất khẩu, đồ mỹ nghệ và khoảng 21 loài là danh sách những đối
tượng hải sản xuất khẩu ra ngoài nước hoặc xuất khẩu tại chỗ. Đây là những
loài sinh vật đóng vai trò chính trong cấu thành nguồn lợi thuỷ sản ngoài cá
của nước ta.
- Giáp xác: Kết quả phân tích, thống kê đã xác định được 22 loài thuộc
17 giống 10 họ phần lớn số loài thuộc lớp phụ Giáp xác vỏ mềm Malacostraca,
bộ Mười chân Decapoda. Trong thành phần loài thu được, xét ở cấp họ, họ có
số loài nhiều nhất là họ cua mai vuông Grapsidae có 7 loài, sau đó đến họ cua
đá Xanthidae có 4 loài; các họ có 2 loài gồm họ tôm he Penaeidae, họ tôm gõ
mõ Alpheidae và họ cua mắt dài Ocypodidae, các họ còn lại chỉ có 1 loài. Xét ở
mức độ giống, giống nhiều nhất chỉ có 3 loài là giống cáy lông Sesarma thuộc
họ cua mai vuông (Grapsidae). Có 3 giống 2 loài là giống tôm rảo Metapenaeus
(thuộc họ tôm He Penaeidae), giống cáy ma Metopograpsus (họ cua mai
vuông) và giống cua cùm cụm Epixanthus (thuộc họ cua đá Xanthidae). Các
giống còn lại chỉ có một loài.
Trong số 22 loài trong đợt khẩo sát 2003-2004, có 5 loài mới được tìm
thấy trong đợt khảo sát này. Đó là một loài cua đậu Tritodynamia japonica, 2
loài cua đá Epixanthus japonicus và Pilumnus minutus, một loài cua mắt dài
Macrophthalmus japonicus và loài Petrolithes japonicus thuộc họ orcellanidae.
Tuy nhiên, trong danh sách này rất ít loài có giá trị kinh tế, mặc dù VQG BTL
nằm trong vùng biển Đông Bắc có nguồn lợi tôm he và cua bơi khá nổi tiếng.
Nếu tổng hợp cả 2 danh sách điều tra năm 1999 và 2003-04 thì có danh
mục tổng số 40 loài. So với khu hệ Giáp xác vịnh Hạ Long điều tra năm 1998
(73 loài) thì ở Bái Tử Long nhóm động vật này thể hiện sự nghèo nàn rõ ràng,

khoảng 10%. Còn nếu so sánh với toàn vịnh Bắc Bộ, khoảng 70 loài (tổng hợp
các báo cáo điều tra của chúng tôi) thì chúng chiếm khoảng 45%. Tuy diện tích
điều tra hạn chế nhưng do có sự đa dạng về habitat (vùng triều đá, vùng triều
cát, rạn san hô và vùng ngập nước đáy mềm) nên thành phần loài của chúng
khá phong phú, phản ánh đúng bản chất của khu hệ.
Hình 2: Tỷ lệ phần trăm thành phần loài của khu hệ Da gai
Sự phân bố của các loài da gai, nói riêng, và của sinh vật đáy, nói chung,
phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu xét trong phạm vi rộng (toàn cầu hay Việt
Nam) thì các yếu tố khí hậu (địa đới) quan trọng hơn cả. Còn trong một phạm
vi hẹp thì yếu tố về đặc điểm môi trường sống (habitat) mà ở đây là nền đáy
với các đặc điểm cơ bản của chúng có vai trò quyết định. Vì vậy, trong thiết kế
các điểm khảo sát, chúng tôi đã quan tâm đến 3 môi trườngchính: Vùng triều,
các rạn san hô, các vùng ngập nước đáy bùn.
Kết quả nghiên cứu ngoài hiện trường và phân tích trong phòng thí
nghiệm, thấy rằng sự sai khác về thành phần loài của cùng một kiều sinh cảnh
không nhiều. Sự khác nhau về thành phần loài trong các sinh cảnh khác nhau
thường lớn hơn. Qua kết quả khảo sát trên thấy rằng, sự phân bố của các loài
Da gai tương tự như các vùng khác, đặc biệt là các rạn san hô, trên thế giới
(Budin, 1980; Levin & Đào Tấn Hổ, 1989; Kalasnikov, 1989; Đào Tấn Hổ,
1991; Lăng Văn Kẻn, 1995). Từng loài hay nhóm loài thích ứng với từng loại
chất đáy khác nhau hoặc ở những độ sâu khác nhau. Điều này có thể giải thích
bằng nhiều yếu tố như: nơi cư trú, phương thức kiếm mồi, cạnh tranh nơi ở,
thức ăn Để lý giải cho mỗi loài hoặc nhóm loài cần có những nghiên cứu kỹ
hơn về sinh thái cá thể hoặc quần thể, đặc biệt là những loài quý hiếm, để có cơ
sở bảo tồn sau này.
Đặc điểm nguồn lợi Da gai: Trong các loài da gai đã phát hiện được ở
VQG Bái Tử Long, các loài có giá trị kinh tế tập trung vào nhóm Hải sâm là
chủ yếu. Các loài Hải sâm đã phát hiện được đều có thể sử dụng vào nhiều mục
đích khác nhau như làm thực phẩm, làm thuốc. Ngay tên gọi "Hải sâm" đã nói
lên điều đó. Vì vậy cần có có biện pháp quản lý thích hợp để duy trì được

nghèo hơn các đảo Cồn Cỏ (493 loài), Ba Mùn (561 loài), Thanh Lân (680
loài) và Hạ Mai (756 loài). Chắc chắn rằng số liều này chưa phản ánh hết tiềm
năng nguồn lợi gen sinh vật của đảo Trần, song nhìn chung khu hệ sinh vật
biển của đảo Trần cũng thuộc loại nghèo.
Các rạn san hô, rạn đá có phủ rong mơ và thảm cỏ biển là nơi ở quan
trọng của các loài sinh vật biển. Đây là nơi ở, nơi đẻ trứng, nơi săn mồi của các
loài cá, tôm và động vật không xương sống khác.
2.4. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Cát Bà – Hải Phòng
Cho đến nay hiện biết 532 loài động vật không xương sống đáy thuộc
270 giống, 115 họ, 11 lớp của 4 ngành: Giun đốt (Annelida), Chân đốt
(Arthropoda); Thân mềm (Mollusca) và Da gai (Echinodermata) tại vùng biển
Cát Bà (Đ.C. Thung, 2000, 2003). Trong số này, Thân mềm có số loài phong
phú nhất - 261 loài, chiếm 49,1% tổng số loài, sau đó đến Giun đốt - 145 loài-
27,3%, Giáp xác - 113 loài, chiếm 21,2%, Da gai có số loài thấp nhất với 13
loài - 2,4% (Đỗ Công Thung, 2001). Các kết quả nghiên cứu khu vực vịnh Lan
Hạ và lân cận, trong hai năm 2003 - 2004 đã xác định 311 loài, 210 giống và
105 họ ĐVĐ tại đây, bằng khoảng 58,4% tổng số loài đã tìm thấy tại Cát Bà.
12.00%
6.50%
1.00%
80,50%
C¸ biÓn
Gi¸p x¸c
Th©n mÒm
Sam biÓn
Hình 3: Tỷ lệ thành phần loài của các nhóm hải sản khai thác chủ
yếu tại vùng biển Cát Bà
Động vật đáy trong hệ sinh thái đáy mềm và thủy vực nước bao
quanh: Hiện biết 142 loài, 101 giống, 64 họ thuộc 4 ngành (xếp theo thứ tự của
mức độ phong phú số loài) như sau: Ngành Thân mềm (Mollusca) có 62 loài,

xanh (Haliclona spp) tại Ba Trái Đào, Vạn Hà, Hang Trai và Đầu Bê.
2.5. Tình hình nghiên cứu động vật đáy tại Bạch Long Vỹ – Hải Phòng
Đỗ Văn Khương và ctv, 2008 đã thống kê và phân tích về sự phân bố
thành phần loài động vật không sương sống trên hệ sinh thái đảo Bạch Long Vĩ
cho chúng ta thấy thành phần loài 2 mảnh vỏ (Bivalvia) tại đây lại ít hơn thành
phần loài lớp chân bụng (Gatropoda). Lớp 2 mảnh vỏ có 5 bộ, 11 họ và 15 loài,
lớp chân bụng có 7 bộ, 12 họ và 22 loài. Mặt khác, nhóm da gai phân bố tại đây
cũng có số loài phân bố ít, chỉ có 5 bộ, 7 họ và 10 loài. Thành phần loài phân
bố tại các đảo được thể hiện trên bảng 4.9.
Bảng 4.8. Thành phần loài phân bố trên vùng rạn san hô Bạch Long Vĩ
Lớp Bộ Họ Loài
Pterioida
Pteriidae
Pinctada martensii
Pinctada albina
Pinnidae
Pinna bicolor
Atrina vexillum
Arcoida Arciddae Barbatia foliata
Septariidae Septifer bilocularis
Mytilidae Hormomya mutabilis
Ostreidae Saccostrea cucullata
Sponđyliae Spondylus spp
Veneridae Circe scripta
Grafrarium dispar
Gafrarium pectinatum
Cardiidae Cardita lear
Chamidae Chama iostoma
Psammobiidae Asaphis violascens
Gatropoda Patellogastropoda Nipponacmea fuscoviridis

Basommatophora Siphonariidae Siphonaria (Mestosiphon) atra
Sao biển Acanthasteridae Acanthaster planci
Echinasteridae Echinaster luzonicus
Valvatida Oreasteridae Culcita novaeguineae
Holothuria atra
Holothuria leucospilota
Hai Sõm Aspidochirotida Holothuridae
Stichopodidae Stichopus horrens
Cầu Gai Aulodonta Diađematidae Echinothrix calamaris
Echinothrix diadema
Diadema setosum
Camarodonta Echinometridae Echinostrephus aciculatus
Loài cầu gai chủ yếu tại đây là loài cầu gai Echinostrephus aciculatus
phân bố với mật độ dầy, tuy nhiên thì phân bố mật độ của cầu gai tại đây không
bằng mật độ phân bố tại Cồn Cỏ (124,8-138,5 (năm 2007)) so với (252,0-547,0
(năm 2008) cá thể/500m
2
). Nhìn vào giá trị biến thiên của các chỉ số nghiên
cứu trên hình 4.5 chúng ta đều thấy các giá trị mật độ này đều tăng so với năm
trước, tuy nhiên sự tăng này chỉ có tính chất về số lượng mà không mang nhiều
về giá trị kinh tế, sự tăng về mật độ là do tăng về số lượng cầu gai và ốc đụn,
mà giá trị hai loài này rất thấp và có thể nói bằng không. Do giá trị kinh tế của
loài không có nên số lượng loài không bị ảnh hưởng nhiều của áp lực khai thác,
mà chủ yếu là do ảnh hưởng gián tiếp từ việc khai thác các loài hải sản khác
như sự phá hoại môi trường và sinh thái loài. Theo những đánh giá bước đầu
trong công cuộc khai thác bền vững và bảo vệ loài bào ngư chín lỗ (Haliotis
diversicolor) là 1 loài động vật đáy có giá trị kinh tế cao tại đảo Bạch Long Vĩ
đang có những dấu hiệu khả quan về mật độ và chất lượng phân bố của loài bào
ngư tại đây. Những dấu hiệu khả quan trong việc bảo vệ loài từ việc tiến hành
phổ biến các chính sách, pháp luật, giáo dục người dân hiểu và thực hiện tốt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status