Viện khoa học và công nghệ việt nam
phân Viện hải dơng học hải phòng
0o0 Đề tài cấp nhà nớc kc-09-19
Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng
thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu
những tác hại do chúng gây ra
Chủ nhiệm đề tài: TS. Chu Văn Thuộc Báo cáo chuyên đề
tổng quan tình hình nghiên cứu vi tảo biển
độc hại ở vùng ven biển phía bắc việt nam
Ngời thực hiện:
chu văn thuộc 6132-26
02/10/2006
ở nớc ta, việc nghiên cứu vi tảo độc hại mới đợc quan tâm trong vài
năm gần đây. Tiêu biểu cho các cơ quan nghiên cứu về vi tảo độc hại trong các
thuỷ vực nớc ngọt là Viện Công nghệ Sinh học, Viện Sinh học Nhiệt đới TP.
HCM. Các cơ quan hiện đang nghiên cứu về vi tảo độc hại ở biển và vùng ven bờ
đáng kể là Viện Hải dơng học Nha Trang, Phân viện Hải dơng học tại Hải
Phòng (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Viện Nghiên cứu Hải sản (Bộ
Thuỷ Sản), Đại học Huế. Ngoài ra, một số chơng trình quan trắc chuyên đề vi
tảo biển phục vụ cho xuất khẩu hải sản hai mảnh vỏ sang EU do Bộ Thuỷ Sản
thực hiện ở các tỉnh phía nam. Dới đây, điểm qua tình hình nghiên cứu vi tảo
biển độc hại ở vùng ven biển phía Bắc Việt Nam
2
2. Các hoạt động nghiên cứu liên quan đến tảo biển độc
hại ở vùng ven biển phía Bắc
2.1. Các đề tài, dự án trong nớc
Chơng trình Đài trạm quốc gia quan trắc môi trờng biển
Từ năm 1995, trạm quan trắc môi trờng ven biển miền Bắc trực thuộc đài
trạm quốc gia đợc thành lập, với nhiệm vụ là quan trắc các thông số môi trờng
nớc biển tại 6 trạm ven bờ gồm: Trà Cổ, Hạ Long (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải
Phòng), Ba Lạt (Thái Bình - Nam Định), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Nghệ An (Cửa
Lò), tần suất quan trắc mỗi quý một lần và một trạm nền ngoài khơi đặt tại đảo
Bạch Long Vỹ, tần suất quan trắc một năm một lần (vào quý II). Trong các thông
số quan trắc, thực vật phù du nói chung và vi tảo độc hại nói riêng là đối tợng
đợc quan trắc, thu mẫu trong mỗi đợt.
Đề tài cấp Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (nay là
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) về Vi tảo biển độc hại đợc thực hiện
trong các năm 1997 đến 2000 do GS. Đặng Ngọc Thanh làm chủ nhiệm đề tài.
Đề tài gồm hai mảng phía Bắc và phía Nam, trong đó Phân viện Hải dơng học
tại Hải Phòng chịu trách nhiệm thực hiện mảng phía Bắc. Trong các năm 1997,
Dự án HABViệt về Nghiên cứu cơ bản các loài vi tảo độc hại ở Việt Nam
nhằm bảo vệ nguồn lợi sinh vật biển do Viện Hải dơng học Nha Trang chủ trì,
thực hiện từ năm 1998 đến nay. Phân viện Hải dơng tại Hải Phòng đã tham gia
vào hai pha của dự án và chịu trách nhiệm nghiên cứu phần phía Bắc. Cụ thể là
Pha I (năm 1998), Phân viện đã tiến hành nghiên cứu, điều tra về Vi tảo biển độc
hại hàng tháng (hai đợt/tháng) tại các khu vực Đồ Sơn (Hải Phòng) và Hạ Long
(Quảng Ninh) trong suốt một năm. Đại học Khoa học Huế (Đại học Huế) chịu
trách nhiệm điều tra, thu mẫu ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế. Tiếp đó, trong
pha II của dự án (2002-2003), Phân viện đã tiến hành khảo sát, thu mẫu mỗi
tháng một đợt, liên tục trong một năm tại các vùng ven biển có tiềm năng cao về
nuôi trồng thuỷ sản thuộc các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lu (Nghệ An). Riêng
khu vực Cửa Sót (Hà Tĩnh) do chi nhánh đề án SUMA tại Nghệ An chịu trách
nhiệm thu mẫu.
Trong khuôn khổ dự án hợp tác đa phơng giữa Nhật Bản và 5 nớc
ASEAN (trong đó có Việt Nam) về Hải dơng học ven bờ, Tảo biển độc hại là
một trong 4 nội dung chính mà dự án sẽ thực hiện từ 2001 đến 2010. Phân viện
Hải dơng học tại Hải Phòng là cơ quan đại diện cho phía Việt Nam điều phối
toàn bộ chơng trình, đồng thời cũng là cơ quan chủ trì đề tài Tảo biển độc hại.
Trong quá trình hợp tác, Phân viện đã phối hợp với các chuyên gia Nhật Bản tiến
hành một số đợt khảo sát, thu mẫu tảo độc trong ao nuôi thuỷ sản và vùng ven bờ
các khu vực vịnh Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò và đã có một số dẫn liệu
bớc đầu.
Từ năm 2002 đến nay, Phân viện Hải dơng học tại Hải Phòng đã và đang
tiếp tục phối hợp với phía bạn nghiên cứu, tìm hiểu về khả năng tích luỹ các độc
tố tảo trong một số động vật nhuyễn thể hai vỏ có giá trị kinh tế tại các khu vực
Đồ Sơn, Cát Bà. 4
3. Một số kết quả nghiên cứu bớc đầu về tảo biển độc hại
Lớp Dinophyceae
Bộ Peridinales
Họ Peridiniaceae
Chi Protoperidinium
5
4 Protoperidinium crassipes
Bé Gonyaulacales
Hä Goniodomaceae
Chi Alexandrium
5 Alexandrium affine T¶o phï du
6 A. concavum = nt =
7 A. cohorticula = nt =
8 A. insuetum = nt =
9 A. leei = nt =
10 A. minutum = nt =
11 A. ostenfeldii = nt =
12 A. pseudogonyaulax = nt =
13 A. tamarense = nt =
14 A. tamiyavanichii = nt =
15 A. foedum
16 A. sp.
Chi Gambierdiscus
17 Gambierdiscus toxicus T¶o sèng ®¸y
18 G. yasumotoi = nt =
Chi Coolia
19 Coolia monotis = nt =
Chi Ostreopsis
20 Ostreopsis ovata = nt =
21 O. siamesis = nt =
Chi Prorocentrum
36 Prorocentrum concavum Tảo sống đáy
37 Prorocentrum emarginatum = nt =
38 P. lima = nt =
39 P. cf. rhathymum Tảo phù du
40 P. micans = nt =
41 P. minimum = nt =
Lớp Noctiluciphyceae
Bộ Noctilucales
Họ Noctilucaceae
Chi Noctiluca
42 Noctiluca scintillans Tảo phù du
3.1.2. Đặc điểm phân bố tảo độc hại ở vùng nghiên cứu
3.1.2.1. Phân bố theo thời gian
Trên cơ sở nghiên cứu, điều tra, thu thập mẫu định kỳ hàng tháng hoặc
hàng tuần tại các khu vực vịnh Hạ Long, Cát Bà và Đồ Sơn. Kết hợp với các mẫu
thu thập từ nhiều đề tài trên cùng một địa điểm vào các thời điểm khác nhau
7
trong năm, thấy rằng sự phân bố theo thời gian trong năm của các loài tảo độc
hại ở các vùng khảo sát không giống nhau.
Căn cứ vào thời gian xuất hiện của các loài tảo độc hại ở vùng nghiên cứu,
tạm thời có thể chia thành ba nhóm nh sau:
- Nhóm loài phân bố quanh năm, bao gồm: Prorocentrum rhathymum, P.
micans, P. minimum, Dinophysis caudata, Alexandrium leei, A. tamarense, A.
pseudogoniaulax có mặt từ 9 đến 12 tháng trong năm.
- Nhóm loài phân bố theo mùa, bao gồm: Dinophysis miles, D. rotundata,
D. cf. fortii, Noctiluca scintillans, Lingulodinium polyedra, Gonyaulax
polygramma, Alexandrium ostenfeldii, A. insuetum, A. affine, A. minutum,
leei, A. tamarense, A. affine, A. pseudogonyaulax, A. ostenfeldii, A. minutum,
Prorocentrum minimum, P. emarginatum, P. concavum, Gambierdiscus toxicus,
G. yasumotoi. Dinophysis mitra, Coolia monotis, Ostreopsis ovata,
Cochlodinium polykrikoides,Gymnodinium mikimotoi, Pseudo-nitzschia spp
- Nhóm loài phân bố hẹp: gồm những loài mới chỉ phát hiện ở một hoặc
hai địa điểm khảo sát, đó là: Alexandrium cohorticula, A. concavum, A. foedum.
Phân bố theo chiều thẳng đứng trong cột nớc
Kết quả khảo sát tại các trạm thuộc vùng ven biển Hải Phòng - Quảng
Ninh cho thấy, sự phân bố tảo độc theo chiều thẳng đứng của cột nớc thay đổi
tuỳ theo từng loài, phụ thuộc vào chế độ thuỷ văn, sự xáo trộn các khối nớc do
sóng lớn, độ sâu của điểm thu mẫu Trong số các loài đã gặp ở vùng khảo sát
phần lớn phân bố theo tầng tơng đối rõ ràng, thờng chỉ gặp chúng trong nớc
tầng giữa và tầng mặt (chủ yếu là tầng mặt), trừ một số trạm gần bờ có độ sâu
thấp hơn 10m có thể gặp chúng cả trong tầng đáy, chẳng hạn nh đối với một số
loài: Dinophysis caudata, Prorocentrum micans, Noctiluca scintillans. Các loài
Dinophysis miles, Gonyaulax polygramma mới chỉ gặp trong nớc tầng mặt và
tầng giữa.
Các loài thuộc chi Alexandrium và loài Prorocentrum rhathymum có thể
phân bố trong cả 3 tầng: mặt, giữa và đáy, trong đó tầng đáy thờng gặp hơn.
Kết quả quan trắc liên tục trong 24 giờ cho thấy, loài Dinophysis caudata
hầu nh không di chuyển xuống đáy theo chu kỳ di chuyển ngày đêm thờng gặp
ở các loài tảo phù du quang hợp mà chỉ phân bố chủ yếu trong tầng mặt. Điều
này có thể giải thích vì chúng là loài tảo sống dị dỡng điển hình. Trong khi đó
các loài Prorocentrum micans và Gyrodinium cf. aureolum lại có sự thay đổi về
mật độ trong cả 3 tầng, nhất là đối với G. cf. aureolum thì thể hiện rõ hơn P.
micans.
Các loài
Gambierdiscus toxicus, Ostreopsis spp., Prorocentrum lima, P.
emarginatum, P. concavum, Coolia monotis và Amphidinium carterae là những
loài sống đáy hoặc bám trên các vật thể đáy điển hình. Tuy nhiên, trong một số
Đối với hệ sinh thái rạn san hô, tuy mới chỉ tiến hành khảo sát ở một số
vùng rạn thuộc các đảo: Bạch Long Vỹ, Hạ Long, Cát Bà, Long Châu, Cô Tô -
Thanh Lân, Thợng Mai, Hải Vân - Sơn Chà nhng bớc đầu cũng đã phát hiện
đợc 12 loài tảo đáy (epiphytic) có mặt trong loại hình sinh thái này. Trong số đó
các loài: Gambierdiscus toxicus, G. yasumotoi, Prorocentrum concavum,
Coolia monotis và Ostreopsis spp., mới chỉ gặp chúng sống bám trên rong biển,
san hô chết mà cha gặp chúng phân bố trong các hệ sinh thái khác. Quá trình
khảo sát cho thấy, sự phân bố số lợng loài ở các điểm nghiên cứu cũng có nhiều
sai khác.
Kết quả điều tra ở một số ao nuôi khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh trong
thời gian gần đây cho thấy, thành phần loài tảo độc hại trong thuỷ vực này không
nhiều, mới chỉ gặp 6 loài tảo, trong đó chi Prorocentrum gặp 3 loài, ba chi
Alexandrium, Dinophysis và chi Nitzschia mỗi chi gặp 1 loài. Tuy số lợng loài
10
tảo độc trong các ao nuôi thuỷ sản không phong phú nhng đó là mối nguy hiểm
tiềm tàng cho các đối tợng thuỷ sản nuôi trồng cũng nh đối với sức khoẻ con
ngời bởi vì chính các ao nuôi nhất là ao nuôi thâm canh đợc đầu t, chăm bón
nên rất giàu chất dinh dỡng, hơn nữa sự trao đổi nớc với bên ngoài lại kém hơn
so với các thủy vực khác. Đó chính là những điều kiện thuận lợi cho tảo độc hại
phát triển về mật độ và gây nên hiện tợng nở hoa tảo.
3.1.2.3. Phân bố mật độ tế bào tảo độc hại trong môi trờng tự nhiên
Trên cơ sở các chuyến khảo sát, thu thập mẫu định kỳ hàng tháng (1 hoặc
2 lần/tháng) ở một số khu vực: Hạ Long, Cát Bà, Đồ Sơn, đã chọn ra đợc một số
chi, loài sau đây thờng gặp ở vùng nghiên cứu: Dinophyis caudata,
Prorocentrum micans và chi Alexandrium để tìm hiểu biến động mật độ của
chúng trong năm. Ngoài ra, các loài Prorocentrum minimum, P. cf. rhathymum
tuy phân bố không đồng đều trong các tháng nhng cũng có mật độ cao vào một
số thời điểm nhất định trong năm. Dới đây là một số nhận xét sơ bộ về biến
chúng có mật độ cao nhất trong năm, các đại diện của chi hiện diện ở tất cả các
trạm thu mẫu. Tuy nhiên, mật độ cao nhất của tảo Alexandrium cũng chỉ đạt tới
xấp xỉ 800 TB/L (tại Sông Cờn). Các trạm còn lại có mật độ dao động trong
khoảng dới 100 đến 500 TB/L. Tiếp theo, vào các tháng 1 và 2/2003, tháng 11
và tháng 6/2002 tảo Alexandrium cũng thờng gặp ở vùng nghiên cứu, mặc dù
vậy mật độ cao nhất của chúng cũng chỉ dao động trong khoảng 100 400TB/L,
thậm trí vắng mặt tại một số trạm. Các tháng còn lại tảo Alexandrium có mật độ
rất thấp hoặc không gặp.
Từ kết quả nghiên cứu tại các vùng nuôi nhuyễn thể trọng điểm phía Bắc
cho thấy, chi Alexandrium có thành phần loài đa dạng hơn cả vào tháng 6 tại khu
vực Tiền Hải (gặp tới 6 loài), trong khi đó cũng vào vào thời điểm này, các khu
vực Giao Thuỷ và Hoằng Hoá chỉ gặp 1-2 loài của chi phân bố. Trong số các loài
Alexandrium hiện diện ở vùng nghiên cứu thì A. leei và A. pseudogonyaulax là
hai loài phổ biến nhất, gặp ở tất cả các điểm khảo sát ; tiếp đó là các loài A.
affine, A. cf. tamarense và A. tamiyavanchii gặp tại 3 trong 4 địa điểm thu mẫu.
Trên cơ sở kết quả phân tích các mẫu định lợng cho thấy, nhìn chung mật
độ của các loài tảo chi Alexandrium tại các vùng nuôi ngao phía Bắc còn thấp,
cao nhất mới chỉ đạt dới 5.10
2
TB/L, tại mật độ này chúng cha gây nguy hiểm
về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Về phân bố mùa vụ, nhìn chung A. leei là loài phân bố khá rộng trong khi
loài A. tamiyavanichii thờng gặp chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11 trong năm.
Biến động mật độ tế bào của loài Dinophysis caudata
Loài Dinophysis caudata phân bố khá phổ biến ở vùng ven bờ phía Bắc nói
chung và hai khu vực Hạ Long và Đồ Sơn nói riêng. Theo các kết quả nghiên
cứu trớc đây về khu hệ sinh vật phù du vịnh Bắc Bộ cho thấy, loài D. caudata
cũng có mật độ khá cao và thờng phân bố chủ yếu ở gần bờ [2]. Kết quả quan
thờng dao động từ vài chục tới vài trăm tế bào trên lít, phổ biến dới 300 TB/L.
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, có sự sai khác về phân bố tảo
Dinophysis caudata trong nớc tầng mặt và tầng đáy. Nhìn chung, tại hầu hết các
tháng khảo sát, mật độ tảo D. caudata trong nớc tầng mặt cao hơn tầng đáy, trừ
tháng 2/2003 lại có xu thế ngợc lại tức là mật độ tảo trong tầng mặt thấp hơn
tầng đáy. 13
Về phân bố mật độ loài Dinophysis caudata tại các vùng nuôi nhuyễn thể
hai vỏ thuộc các tỉnh Thái Bình và Nam Định trong các tháng 8, 9, 10 và 11/2004
nhìn chung không cao, hầu hết đạt dới 500 TB/L, chỉ có một số trờng hợp mật
độ của chúng đạt trên 500 TB/L cụ thể là vào tháng 11/2004 tại khu vực nuôi
ngao Nghĩa Hng (Nam Định) mật độ loài D. caudata đạt tới 630 TB/L. Cá biệt
vào tháng 4/2003, mật độ của loài này đạt xấp xỉ 2.10
3
TB/L tại khu vực nuôi
ngao thuộc huyện Tiền Hải. Đây là giá trị mật độ cao nhất của loài D. caudata đã
đợc ghi nhận ở vùng nghiên cứu.
Các loài còn lại thuộc chi tảo Dinophysis (nh D. miles, D. rotundata, D.
cf. fortii và D. mitra) hiện diện ở vùng nghiên cứu tuỳ theo từng mùa, trong đó
loài D. miles phân bố chủ yếu vào các tháng 10, 11. Nhìn chung, các loài tảo chi
Dinophysis (trừ D. caudata) thờng phân bố với mật độ thấp, mới chỉ phát hiện
đợc trong các mẫu định tính. Do đó khả năng ảnh hởng của các loài tảo này tới
môi trờng nuôi nhuyễn thể không lớn.
Biến động mật độ tế bào của loài Prorocentrum micans
Trong năm 1999, mật độ tế bào của loài Prorocentrum micans ở cả hai
trạm Hạ Long và Đồ Sơn đều thấp (dới 10
2
Hải, mật độ của chúng dao động khoảng trên 10
5
TB/L; vào tháng 3 tại Giao
Thuỷ và Hoằng Hoá mật độ của chúng đạt tới 2.10
6
3.10
6
TB/L. Bắt đầu từ
tháng 4 đến hết mùa ma, mật độ của tảo này giảm xuống. Từ tháng 9 đến tháng
11/2004, mật độ tảo Pseudonitzschia lại tăng lên tạo thành đỉnh cao thứ hai về
mật độ trong năm. Tuy nhiên, trong các tháng 9, 10,11 mật độ của chúng thấp
hơn các tháng 2 và 3, thờng dao động trong khoảng vài nghìn cho đến vài chục
nghìn tế bào trên lít, trong đó giá trị mật độ của chúng cao nhất đạt xấp xỉ 7.10
4
TB/L tại khu vực Giao Thuỷ vào tháng 10/2004. Các tháng còn lại chúng có mật
độ không đáng kể. Có thể nói rằng, đây là loài tảo độc hại phổ biến, có mật độ
cao nhất đáng quan tâm ở vùng ven bờ phía Bắc nói chung và vùng nuôi nhuyễn
thể nói riêng.
Trong các chơng trình quan trắc, giám sát tảo độc hại ở một số nớc trên
thế giới khi mật độ của các loài thuộc chi Pseudonitzschia đạt từ 10
3
(tại Anh
Bắc Ailen), 10
4
10
5
(tại Hà Lan), 1 x 10
5
(tại Canada) và 2 x10
- 10
5
TB/L vào tháng V. Các tháng còn lại
chúng có mật độ không đáng kể.
Biến động mật độ tảo độc hại sống đáy ở vùng nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu về mặt định lợng tảo độc hại sống bám trên các rạn
san hô thuộc 4 khu vực: Cô Tô - Thanh Lân, đảo Thợng Mai (Quảng Ninh),
Long Châu (Hải Phòng), Hải Vân - Sơn Chà (Thừa Thiên - Huế) cho thấy có sự
chênh lệch rất lớn về phân bố tảo độc hại sống đáy tại các điểm khảo sát. Cụ thể
là ở khu vực Cô Tô - Thanh Lân, mặt cắt hòn Cá Chép có mật độ tảo trung bình
cao nhất, đạt tới 1358 TB/g và thấp nhất là Bắc Thanh Lân chỉ có 24 TB/g, hai
mặt cắt Hồng Vàn và Bắc Cô Tô có mật độ tơng ứng là 223 và 131 TB/g. Nhìn
chung, chi Ostreopsis chiếm u thế ở hầu hết các điểm khảo sát trong khu vực.
Tiếp đó là loài Prorocentrum rhathymum cũng có mật độ khá cao (trên 200
TB/g). Các loài còn lại có mật độ thấp hơn (dới 100 TB/g).
Mật độ phân bố tảo độc hại sống đáy tại đảo Thợng Mai không cao, chỉ
đạt khoảng 100 TB/g với loài u thế ở đây là Prorocentrum cf. lima với mật độ
tơng ứng là 55 TB/g.
Sự phân bố mật độ của các loài tảo độc hại sống đáy ở điểm khảo sát thuộc
quần đảo Long Châu không cao, cụ thể là trong 3 điểm khảo sát: Long Châu
đông, hòn Vụng Tầu và vụng Cây Bàng thì điểm Long Châu đông có mật độ tảo
cao nhất, khoảng 75 TB/g, tiếp đó là hòn Vụng Tầu có mật độ tảo là 49 TB/g,
Vụng Cây Bàng có mật độ tảo thấp nhất, trung bình chỉ khoảng 5 TB/g.
Nh vậy, từ kết quả khảo sát số lợng tảo độc hại sống đáy tại 4 khu vực
Cô Tô-Thanh Lân, Thợng Mai, Long Châu và Hải Vân - Sơn Chà thấy rằng, mật
độ tảo biến động khá lớn không chỉ giữa các khu vực khác nhau mà ngay cả các
mặt cắt trong cùng một khu vực cũng có nhiều sai khác. Nhìn chung, mật độ tảo
ở vùng nghiên cứu dao động trong khoảng từ 10
2
Tảo A. tamarense không phát triển trong điều kiện nuôi có CĐAS yếu (500 Lux).
Khi CĐAS tăng lên thì tảo phát triển nhanh hơn. Cụ thể trong các CĐAS 500,
1000, 2000 và 3000 Lux thì tảo phát triển tốt nhất ở CĐAS 3000 Lux. Tại CĐAS
này, chúng đạt mật độ cao nhất và thời gian sinh trởng ngắn nhất so với các
CĐAS còn lại. ở CĐAS thấp hơn, sau vài ngày nuôi, tảo có hình dạng khác
thờng, tế bào có các gai, mấu hoặc dúm dó. Nguyên nhân có thể là do điều kiện
môi trờng không thuận lợi nên chúng chuyển sang dạng sống tiềm sinh (bào
xác). Tuy nhiên, cần có các nghiên cứu tiếp theo để tìm hiểu thêm vấn đề này.
ở CĐAS cao hơn (3000 Lux), tế bào tảo A. tamarense có hình dạng bình
thờng và tạo thành các chuỗi 2 - 4 tế bào, rất phổ biến trong quá trình nuôi.
Trong môi trờng nuôi nghèo dinh dỡng, tảo A. tamarense không phát
triển (trong lô đối chứng do không bổ sung MT T, tảo không tăng số lợng).
Từ kết quả trên bớc đầu có thể rút ra nhận xét: trong điều kiện nuôi giống
nhau về môi trờng dinh dỡng, độ mặn, nhiệt độ và mật độ tảo giống khi CĐAS
tăng lên thì tảo A. tamarense sẽ phát triển tốt hơn. Tuy nhiên, để tìm đợc CĐAS
tối
u cho loài này cần có các thí nghiệm tiếp theo.
3.2.2. ảnh hởng của độ mặn tới sự phát triển của một số loài tảo độc hại sống
đáy
Kết quả nuôi tảo Prorocentrum rhathymum trong 4 độ mặn: 10%o, 16%o,
21%o và 30%o cho thấy tại các độ mặn thấp (10 và 16), tảo này hầu nh không
17
phát triển. ở độ mặn cao (30%o), chúng lại phát triển chậm và chỉ phát triển tốt ở
lô 21%o.
Đối với hai loài tảo đáy Coolia monotis, Amphidinium carterae, sự thay
đổi độ mặn của môi trờng nuôi không ảnh hởng đáng kể tới quá trình phát
triển của chúng.
trởng trong môi trờng nuôi có độ mặn 16%o tốt hơn môi trờng có độ mặn
10%o và 21%o. Sự thay đổi độ mặn không ảnh hởng nhiều tới quá trình phát
triển của các loài tảo đáy Coolia monotis, Amphidinium carterae. Trong khi loài
Amphidinium carterae có khả năng thích nghi với biên độ nhiệt khá rộng, chúng
sinh trởng tốt ở cả nhiệt độ thấp (15
o
C) và nhiệt độ cao (30
o
C) thì các loài
Prorocentrum lima, P. emarginatum, P. rhathymum và Coolia monotis ít nhiều
bị tác động bởi sự thay đổi của yếu tố này.
18
3.3. Bớc đầu thăm dò ảnh hởng của tảo độc hại tới một số động vật thuỷ
sinh trong phòng thí nghiệm
3.3.1. ảnh hởng của tảo độc hại tới động vật thân mềm hai vỏ
Kết quả thí nghiệm thăm dò ảnh hởng của tảo Alexandrium tamarense
tới loài sò Anadara antiquata cho thấy, sau vài ngày nuôi ở lô đối chứng sò vẫn
khoẻ, do sục khí liên tục nên hàm lợng oxy hoà tan (DO) trong nớc luôn bão
hoà, đảm bảo cung cấp đầy đủ cho quá trình hô hấp của sò. Trong khi đó ở lô thí
nghiệm (lô I), sau 1 ngày nuôi hàm lợng DO giảm mạnh, lô có tảo (I
A
) chỉ còn
lại 2,55 mgO
2
/L và lô không có tảo (I
B
) là 0,73 mgO
2
/L (đo vào lúc 20h trong
/L), nớc nuôi
vẫn trong, xuất hiện một số chất vẩn trong lô nuôi nhng sò vẫn có phản xạ khép
mở vỏ nhanh. Các cá thể sò vẫn sống tuy vỏ của chúng chuyển dần sang màu
đen và chết sau 7 ngày thí nghiệm.
ở lô đối chứng, do sục khí liên tục nên hàm lợng DO luôn cung cấp đủ
cho quá trình hô hấp của sò (hàm lợng trung bình đạt 7,2 mgO
2
/L). Tuy nhiên ở
lô này cũng xảy ra hiện tợng giống nh ở lô I, đó là ở lô II
A
(lô nuôi sò với tảo).
Sau một ngày nuôi, có thể do sò ăn nên mật độ tảo trong lô II
A
giảm đáng kể (từ
mật độ ban đầu là 1636 TB/mL chỉ còn lại 359 TB/mL), chất thải trong lô này
tăng lên nên đã tiêu hao ôxy trong nớc. Hàm lợng DO trong lô II
A
luôn thấp
hơn lô II
B
(lô không có tảo). Sau 9 ngày nuôi thí nghiệm sò đã bị chết dần, nớc
trong lô có màu vàng đục và rất nhiều bọt. ở lô II
B
, do đợc cung cấp ôxy đầy
đủ, sau 10 ngày nuôi thí nghiệm các cá thể sò vẫn sống bình thờng, phản xạ
khép mở vỏ nhanh.
3.3.2. ảnh hởng của tảo độc hại tới động vật giáp xác (ấu trùng tôm)
19
Kết quả thí nghiệm thăm dò ảnh hởng của tảo Alexandrium tamarense
, Ostreopsis và một số loài thuộc các chi Prorocentrum (5 loài),
Dinophysis (2 loài), Gymnodinium (2 loài), Gyrodinium (1 loài), tổng số có 5 chi,
19 loài đợc phát hiện trong nghiên cứu này là dẫn liệu mới bổ sung cho khu hệ
vi tảo biển phía Bắc Việt Nam.
Về đặc điểm phân bố, biến động số lợng tảo độc hại: Căn cứ vào thời
gian xuất hiện của chúng ở vùng nghiên cứu, tạm thời chia thành ba nhóm loài:
20
nhóm phân bố quanh năm, nhóm phân bố theo mùa và nhóm cha rõ thời gian
phân bố. Căn cứ vào địa điểm xuất hiện của tảo độc hại có thể chia ra hai nhóm:
nhóm loài phân bố rộng và nhóm loài phân bố hẹp
Phần lớn tảo độc hại sống phù du phân bố trong tầng mặt, trừ vùng gần bờ
có độ sâu thấp có thể gặp chúng trong tầng đáy. Các loài Gambierdiscus toxicus,
Ostreopsis spp., Prorocentrum lima, P. emarginatum, P. concavum, Coolia
monotis và Amphidi-nium carterae là những đại diện sống đáy điển hình.
Các loài tảo độc hại phân bố từ vùng cửa sông, ven biển cho đến đầm phá,
trong đó vùng ven biển có thành phần loài phong phú hơn cả (gặp trên 20 loài),
vùng đầm phá đã gặp 14 loài, vùng rạn san hô đã phát hiện 12 loài tảo đáy, các
ao nuôi nớc lợ mới gặp 6 loài. Mật độ tế bào tảo độc hại trong môi trờng tự
nhiên biến động tuỳ theo từng loài, từng mùa, từng loại hình thuỷ vực
Trong điều kiện nuôi giống nhau về môi trờng dinh dỡng, độ mặn,
nhiệt độ; CĐAS càng mạnh thì tảo A. tamarense càng phát triển tốt. ở CĐAS
3000Lux, tảo A. tamarense sinh trởng trong môi trờng nuôi có độ mặn 16%o
tốt hơn môi trờng có độ mặn 10%o và 21%o. Độ mặn thay đổi không ảnh
hởng nhiều tới sự phát triển của tảo độc hại sống đáy: Coolia monotis,
Amphidinium carterae. Trong khi loài Amphidinium carterae có thể thích nghi
với biên độ nhiệt khá rộng, chúng sinh trởng tốt ở cả nhiệt độ thấp (15
o
C) và
nhiệt độ cao (30
22
tài liệu tham khảo
44-48
10. Yoshida M., Ogata T., Thuoc C. V., Matsuoka K., Fukuyo Y., Hoi N. C. and
Kodama M., 2000: The first finding of toxic dinoflagellate Alexandrium
minutum in Vietnam. Fisheries Science 66, pp. 177 - 179.