MỤC LỤC
Letter of Credit (Thư tín dụng chứng từ) 2
(Nguồn: Báo cáo thường niên ngành thức ăn chăn nuôi Việt Nam - Viện chính sách và chiến lược
phát triển nông nghiệp nông thôn năm 2007 - 2011) 21
(Đơn vị: 1000 tấn, triệu USD) 30
(Đơn vị: 1000 tấn, triệu USD)
32
36
Hiện này phần lớn các doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia súc đều thanh toán theo phương thức
thư tín dụng – L/C (Letter of Credit). Tuy nhiên, trong khi rất nhiều các doanh nghiệp sản xuất thức
ăn gia súc tại Việt Nam thanh toán tiền nhập khẩu nguyên liệu bằng phương thức L/C trả ngày thì
PROCONCO lại thanh toán theo phương thức L/C trả chậm. Việc thanh toán theo phương thức L/C
trả chậm cho phép công ty chi trả tiền nguyên liệu sau một kỳ hạn nhất sau khi nhận được nguyên
liệu nhập khẩu, còn đối với hầu hết các doanh nghiệp khác trong ngành do phải thanh toán theo
phương thức L/C trả ngay nên phần lớn các doanh nghiệp này phải thanh toán tiền trước khi nhận
nguyên liệu 38
Điều này được giải thích bới lý do PROCONCO có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung cấp của
mình, đây là những đối tác, những nhà cung cấp đã có quan hệ khá lâu năm với công ty. Mặt khác
cũng là một điều rất quan trọng đó là PROCONCO có khả năng trả nợ tốt hơn rất nhiều so với các
công ty cùng ngành. Đây cũng là một trong những lý do mà nhiều công ty trong ngành lựa chọn
PROCONCO làm đối tác trong việc nhập khâu nguyên liệu về cho công ty họ. Thông thường việc
thanh toán các đơn hàng của công ty được tiến hành trong khoảng thời gian từ 30 – 40 sau khi
công ty đã nhận được nguyên liệu 38
Danh mục các từ viết tắt
Từ viết tắt Tên đầy đủ
1
CIF Cost, Insurance and Freight (Tiền hàng, chi phí bảo hiểm và cước
phi)
DDGS Distillers dried grais with solubes
HĐQT Hội đồng quản trị
L/C
công ty cùng ngành. Đây cũng là một trong những lý do mà nhiều công ty trong ngành lựa chọn
PROCONCO làm đối tác trong việc nhập khâu nguyên liệu về cho công ty họ. Thông thường việc
thanh toán các đơn hàng của công ty được tiến hành trong khoảng thời gian từ 30 – 40 sau khi
công ty đã nhận được nguyên liệu 38
BẢNG
Letter of Credit (Thư tín dụng chứng từ) 2
(Nguồn: Báo cáo thường niên ngành thức ăn chăn nuôi Việt Nam - Viện chính sách và chiến lược
phát triển nông nghiệp nông thôn năm 2007 - 2011) 21
Bảng 2.6. Kim ngạch NK khô đậu tương của công ty (2007 - 2011) 30
(Đơn vị: 1000 tấn, triệu USD) 30
Bảng 2.7. Kim ngạch NK bột cá của công ty (2007 - 2011) 32
(Đơn vị: 1000 tấn, triệu USD)
32
36
3
Hiện này phần lớn các doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia súc đều thanh toán theo phương thức
thư tín dụng – L/C (Letter of Credit). Tuy nhiên, trong khi rất nhiều các doanh nghiệp sản xuất thức
ăn gia súc tại Việt Nam thanh toán tiền nhập khẩu nguyên liệu bằng phương thức L/C trả ngày thì
PROCONCO lại thanh toán theo phương thức L/C trả chậm. Việc thanh toán theo phương thức L/C
trả chậm cho phép công ty chi trả tiền nguyên liệu sau một kỳ hạn nhất sau khi nhận được nguyên
liệu nhập khẩu, còn đối với hầu hết các doanh nghiệp khác trong ngành do phải thanh toán theo
phương thức L/C trả ngay nên phần lớn các doanh nghiệp này phải thanh toán tiền trước khi nhận
nguyên liệu 38
Điều này được giải thích bới lý do PROCONCO có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung cấp của
mình, đây là những đối tác, những nhà cung cấp đã có quan hệ khá lâu năm với công ty. Mặt khác
cũng là một điều rất quan trọng đó là PROCONCO có khả năng trả nợ tốt hơn rất nhiều so với các
công ty cùng ngành. Đây cũng là một trong những lý do mà nhiều công ty trong ngành lựa chọn
PROCONCO làm đối tác trong việc nhập khâu nguyên liệu về cho công ty họ. Thông thường việc
thanh toán các đơn hàng của công ty được tiến hành trong khoảng thời gian từ 30 – 40 sau khi
công ty đã nhận được nguyên liệu 38
xuất thức ăn gia súc cũng không phải là ngoại lệ. Việt Nam tuy là một nước
nông nghiệp nhưng lượng nguyên liệu trong nước chưa thể đáp ứng được một
nữa nhu cầu nguyên liệu phục vụ quá trình sản xuất của các công ty sản xuất
thức ăn gia súc trong nước. Vì vậy việc nhập khẩu các loại nguyên liệu phục vụ
cho quá trình sản xuất thức ăn gia súc là đã đang và sẽ là mối quan tâm rất lớn
đối với các doanh nghiệp trong ngành.
Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thức ăn gia súc,
cũng như các công ty khác trong ngành, Công ty cổ phần Việt Pháp PRCONCO
phải tiến hành nhập khẩu nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động sản sản xuất của
công ty. Trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động
nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc của công ty vẫn còn không ít
những tồn tại. Là một sinh viên được tham gia thực tập tại Công ty cổ phần Việt
Pháp PROCONCO nhận thức được những tồn tại trong hoạt động nhập khẩu
nguyên liệu của công ty sẽ làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty nên em chọn đề tài: “Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động
nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc tại công ty cổ phần Việt
Pháp PROCONCO” để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình với mong
muốn góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu tình hình hoạt động nhập khẩu của
công ty và từ đó tìm ra giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện hoạt động nhâp khẩu
nguyên liệu qua đó nâng cao hiệu sản xuất kinh doanh của công ty.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề: Hoạt độngnhập khẩu nguyên liệu
sản xuất thức ăn gia súc tại Doanh Nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề: Hoạt động nhập khẩu nguyên liệu sản
xuất thức ăn gia súc tại công ty cổ phần Việt pháp PROCONCO.
Thời gian nghiên cứu là từ năm 2007 đến năm 2011. Giải pháp kiến nghị
đến năm 2014.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng trong chuyên đề là phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng nghĩa là lấy lý luận để so sánh với thực tế, từ thực tế
Vào đầu năm 1992, công ty đã đầu tư
xây dựng 2 cơ sở SX và được đưa vào hoạt
động cuối năm 1992 là nhà máy thức ăn gia
súc Biên Hòa với công suất thiết kế 10.000
tấn/năm và nhà máy sản xuất bột cá tại tỉnh
Bình Phước với công suất 2.000 tấn/năm.
Ngày 18/1/1994, công ty nhận giấy phép điều
chỉnh số 178/GPĐC cho phép công ty tăng vốn đầu
tư lên 2.235.000USD. Số vốn tăng thêm là
535.000USD tức tăng 31%, nhằm tăng năng lực sản
xuất.
Ngày 13/3/1995, công ty nhận giấy phép
178/GPĐC 1, giấy phép này cho phép công ty tăng
vốn đầu tư lần thứ 2 lên 2.843.000USD, sô vốn
tăng thêm là 610.000USD tương đương với vốn
đầu tư mở rộng sản xuất lần thứ hai và tương ứng
với sản lượng 120.000 tấn/năm, gấp 10 lần so với thiết kế ban đầu.
Ngày 6/5/1996, công ty nhận giấy phép đầu tư 178/GPĐC 2 của Bộ Kế
Hoạch và Đầu Tư cho phép công ty điểu chỉnh vốn lên 10.843.000 USD tương
ứng với vốn tái đầu tư lần này lên đến 8.000.000 USD. Công ty đã gấp rút xây
dựng và trang bị nhà máy Biên Hòa II. Đồng thời giấy phép đầu tư 178/GPĐC2
của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư cũng cho phép công ty mở chi nhánh tại Hà Nội,
xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn hỗn hợp với công suất 300 tấn/ngày, tức
90.000 tấn/ năm được đặt tại Cảng Khuyến Lương – Thanh Trì – Hà Nội, nhằm
cung cấp các mặt hàng TĂGS PROCONCO cho các tỉnh Miền Bắc.
Ngày 23/12/1996, công ty nhận giấy phép 178/GPĐC 3, giấy phép này
cho phép công ty điều chỉnh vốn pháp định của Công ty Liên Doanh từ
1.600.000 USD lên 3.000.000 USD trong đó bên Việt Nam góp 1.386.300 USD
(46,21%) và bên Pháp góp 1.613.700 USD (53,79%).
7
1.2.2. Nhiệm vụ của công ty
- Đảm bảo chất lượng các loại thức ăn gia súc cung cấp ra thị trường.
- Cung cấp cho người chăn nuôi cách sử dụng thức ăn giàu đạm đạt hiệu
quả cao.
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của một doanh nghiệp đối với nhà nước:
Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, những quy định về tuyển dụng lao
động và những quy định về bảo vệ môt trường…
8
1.2.3. Quyền hạn của công ty
- Được quyền ký kết các hợp đồng với các nhà cung cấp trong nước cũng
như ngoài nước.
- Được quyền mở các đại lý để giới thiệu và bán sản phẩm, chấp hành
mọi qui định của Nhà nước. Được quyền tổ chức các cuộc hội thảo về kỹ thuật
chăn nuôi tại các xã, huyện, tỉnh thành trong cả nươc.
1.3. HỆ THỐNG CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY
1.3.1. Tổ chức nhân sự của công ty
Năm 1991, PROCONCO được thành lập và chính thức đi vào hoạt động
vào cuối năm 1992. Ban đầu công ty mới chỉ có một nhà máy sản xuất thức ăn
gia súc tại Bình Dương và một nhà máy sản xuất bột cá tại tỉnh Bình Phước, tới
nay công ty đã có 5 nhà máy sản xuất thức ăn gia súc phục vụ nhu cầu thị trường
cả nước.
Với số lượng nhân sự ít ỏi chỉ có 215 người từ ngày đầu bắt đầu đi vào
hoạt động sản xuất, đến năm 2011 tổng số nhân sự của công ty đã lên tới 2184
người. Trong đó nam có 1638 người và nữ có 546 người. Trong 2184 nhân viên
của công ty có 673 người có trình độ Đại học, 467 người có trình độ Trung cấp,
còn lại 1044 là lao động phổ thông.
1.3.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty
1.3.2.1. Cơ cấu lãnh đạo của công ty
Bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Việt Pháp PROCONCO từ ngày
thành lập tới tháng 3/2008 dưới tên Công ty liên doanh Việt Pháp PROCONCO
Giám Đốc Miền Nam
Giám
Đốc
Thươn
g Mại
Giám
Đốc
hành
chính
Giám
Đốc
tài
chính
Giám
Đốc kỹ
thuật
Giám
Đốc
nguyên
liêu
Giám
Đốc
sản
xuất
Giám
Đốc
bảo trì
- Ban Giám Đốc Miền Bắc:
Ông Hoàng Chương : Giám Đốc miền Bắc
Do ban Tổng Giám Đốc chỉ định thông qua ý kiến của HĐQT, ban Giám
- Ông Đinh Tấn Liêm - Phó Tổng Giám Đốc.
- Ông Hoàng Chương - Phó Tổng Giám Đốc.
- Ông Tạ Văn Hùng - Phó Tổng Giám Đốc.
1.3.2.2. Cơ cấu phòng ban của Công ty
a. PROCONCO Miền Nam:
PROCONCO Miền Nam hoạt động trực tiếp dưới sự lãnh đạo của ban
Tổng Giám Đốc. Trước khi công ty chuyển đổi mô hình hoạt động SX kinh
doanh PROCONCO Miên Nam có 12 phòng ban làm nhiện vụ tham mưu cũng
như thực hiện các các nhiệm vụ được ban Tổng Giám Đốc đưa ra. Tuy nhiên,
sau khi công ty chuyển đổi mô hình hoạt động SX kinh doanh, thì chi Nhánh
Cần Thơ được tách ra khỏi PROCONCO Miền Nam và chuyển đổi thành công
ty TNHH một thành viên PROCONCO Cần Thơ. Các phòng ban còn lại không
có sự thay đổi giữa trước và sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động. Cơ cấu tổ
chức phòng ban của PROCONCO Miền Nam trước khi chuyển đổi mô hình hoạt
động được thể hiện qua sơ đồ 1.3 dưới đây:
12
Công Ty Cổ Phần
Việt Pháp
PROCONCO
Hôi Đồng Quảng
Trị
Ban Tổng Giám
Đốc
PROCONCO chi
nhánh Miền Bắc
PROCONCO chi
nhánh Miền Nam
Công ty TNHH một
thành viên
PROCONCO Cần
Phòng
tài
chính -
kế toán
Phòng
kho vận
Phòng
sản xuất
Phòng
KCS
Phòng
bảo trì
Chi
nhánh
Cần Thơ
Dự án
label
Sơ đồ 1.4: Tổ chức phòng ban của PROCONCO Miền Bắc
(Nguồn: Báo cáo thường niên của công ty Cổ Phần Việt Pháp
PROCONCO năm 2008)
1.4. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1.4.1. Tình hình sản xuất thức ăn gia súc
Trải qua 22 năm hình thành và phát triển, công ty cổ phần Việt Pháp
PROCONCO đã không ngừng gia tăng năng suất, cũng như chủng lọai hàng
hóa ngày càng phong phú và đa dạng. Hiện nay công ty đã sản xuất hơn 60
loại mặt hàng thức ăn gia súc cho Heo, Gà, Vịt, Ngan, chim Cút và Bò sửa
gấp hơn 4 lần so với việc chỉ sản xuất 25 loại mặt hàng thức ăn đậm đặc và
hỗn hợp giành cho Gà, Heo, chim Cút trước đây.
Cuối năm 1992, công ty mới chỉ có một nhà máy sản xuất thức ăn gia
súc được đặt tại khu công nghiệp Biên Hòa I – Đồng Nai với công suất
Dự án
label
ăn gia súc của công ty đạt 1703100 tấn, tăng 16,44 % so với năm 2010 (trong
đó thức ăn hỗn hợp đạt 1392600 tấn, thức ăn đậm đặc đạt 310500 tấn). Chúng
ta có thể nhận thấy sự tăng trưởng sản lượng của công ty qua bảng 1.1 dưới
đây:
Bảng 1.1. Kết quả sản xuất của công ty (2007 - 2011).
(Đơn vị: 1000 tấn)
Năm TĂ hỗn hợp TĂ đậm đặc Tổng SL Quy đổi hỗn
hợp
% tđ
2007 845,9 150 995,9 1445,9
2008 904 192,7 1096,7 1674,8 15,83
2009 1056 238,1 1294,1 2008,4 19,92
2010 1214,7 248 1462,7 2206,7 9,87
2011 1392,6 310,5 1703,1 2634,6 19,39
(Nguồn: Báo cáo sản xuất của công ty cổ phần Việt Pháp PROCONCO
năm 2007-2011)
Ghi chú: 1 tấn thức ăn đậm đặc = 4 tấn thức ăn hỗn hợp
Sản lượng thức ăn gia súc công nghiệp có bước tăng trưởng ấn tượng
trong giai đoạn 2007 - 2011, đặc biệt là năm 2009 và năm 2011; trong đó
năm 2009 được ghi nhận là năm có tốc độ tăng trưởng sản lượng cao nhất lên
lên tới 19,92%, đây là con số khá ấn tượng trong bối cảnh nền kinh tế nước
nhà bị ảnh hưởng lớn bởi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008.
Năm 2010, ngành chăn nuôi cả nước bị ảnh hưởng bởi khá nhiều đợt dịch
bệnh lớn trên cả đàn gia súc và gia cầm, những đợt dịch này đã làm giảm một
lượng lớn số lượng đàn gia súc và gia cầm sử dụng thức ăn gia súc của công
ty trên cả nước, làm giảm sản lượng thức ăn gia súc của công ty. Tuy nhiên
sản lượng thức ăn gia súc của công ty năm 2010 vẫn đạt được mức tăng
trưởng 9,87%.
nuôi Châu Á tổ chức và bình chọn.
1.4.2. Kết quả kinh doanh
PROCONCO là một trong số những công ty sản xuất thức ăn gia súc
lớn nhất cả nước, trải qua nhiều năm hoạt động, PROCONCO đã đạt được
nhiều kết quả nổi bật. Chúng ta có thể nhận thây rõ điều này qua bảng 1.2
dưới đây:
16
Bảng 1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh thức ăn gia súc của công ty
(2009 – 2011).
(Đơn vị: tỷ đồng)
Chỉ tiêu 2009 2010 2011 % theo quy mô chung
2009 2010 2011
1. Tổng doanh thu 11216,55 13919,38 19646,92 100 100 100
2. Các khoản giảm trừ 135,72 168,42 237,73 1,21 1,21 1,21
3. Doanh thu thuần 11080,83 13750,96 19409,19 98,79 98,79 98,79
4. Giá vốn hàng bán. 10120,69 12553,89 17715,63 90,23 90,19 90,16
5. Lợi nhuận gộp 960,14 1197,07 1693,56 8,56 8,6 8,63
6. Chi phí bán hàng 338,74 423,15 603,16 3,02 3,04 3,07
7. Chi phí quản lý 150,3 180.95 243,62 1,34 1,3 1,24
8. Lợi nhuận từ hoạt
động KD
471,1 592,97 846,78 4,2 4,26 4,31
9. Tổng lợi nhuận
trước thuế
471,089 592,963 846,7675 4,2 4,26 4,31
10. Thuế TNDN 117,77 148,24 211,69 1,05 1,06 1,08
11. Lợi nhuận sau
thuế
353,319 444,723 635,08 3,15 3,19 3,23
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty cổ phần Việt Pháp
Trong những năm vừa qua, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn
nuôi kết hợp với chính sách thông thoáng trong cơ chế chính sách quản lý;
ngành công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc đã có những bước phát triển, chuyển
biến lớn:
Sản lượng thức ăn gia súc trong cả nước không ngừng gia tăng cả về chất
lượng. Những năm 1991- 1992, thời điểm một vài công ty sản xuất thức ăn gia
súc bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam, tại thời điểm đó cả nước mới chỉ sản xuất
được khoang 5000 tấn – 6000 tấn thức ăn gia súc. Sau 20 năm, tức là đến năm
2011, cả nước đã có khoảng 240 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất
thức ăn gia súc với tổng sản lượng thức ăn gia súc sản xuất được lên tới 11,49
triệu tấn. Đặc biệt trong giai đoạn 2007 – 2011, ngành sản xuất thức ăn gia súc
đã có sự tăng trưởng ấn tượng về sản lượng thức ăn gia súc sản xuất được. Điều
này được thể hiện qua bảng 2.1 dưới đây:
Bảng 2.1. Tổng sản lượng TĂGS của cả nước năm (2007 – 2011).
(Đơn vị: 1000 tấn)
Năm TĂ hỗn
hợp
TĂ đậm
đặc
Tổng SL Quy đổi hỗn
hợp
% tđ
2007 5490 535 6025 7630
2008 6741,17 541 7282 8905,17 16,71
2009 8285,86 552 8837,86 10493,86 17,84
2010 9168 556 9724 11392 8,6
2011 10858 632 11490 13386 17,5
(Nguồn: Báo cáo thường niên ngành thức ăn chăn nuôi Việt Nam – Viện
chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn năm 2007 - 2011)
Sản lượng thức ăn gia súc công nghiệp có bước tăng trưởng ấn tượng
2.1.2. Tình hình nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc của cả nước
Hiện nay cả nước khoảng 240 công ty sản xuất thức ăn gia súc, với tốc độ
tăng trưởng sản lượng trung bình đạt 15,16%/năm. Mỗi năm để có thể cung ứng
đủ nhu cầu thức ăn gia súc cho thị trường thì đòi hỏi nguồn nguyên liệu cung
cấp cho các công ty phải rất lớn và ổn định. Tuy nhiên dù là một nước nông
nghiệp nhưng khả năng cung ứng của thị trường nguyên liệu trong nước chỉ đáp
ứng được khoảng 40% nhu cầu của các công ty, dẫn đến các công ty phải tìm
đến các nhà cung cấp nguyên liệu nước ngoài để có thể đảm bảo 60% lượng
nguyên liệu còn thiếu qua đó đảm bảo quá trình sản xuất của mình. Điều này
làm cho các công ty lệ thuộc sâu vào nguồn nguyên liệu nước ngoài và việc
20
nhập khẩu tới 60% nguyên liệu để phục vụ cho quá trình sản xuất dẫn tới ngành
sản xuất thức ăn gia súc của Việt Nam như là một ngành gia công.
Năm 2007, Tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn gia
súc của cả nước là 4,6 triệu tấn, đạt giá trị 1,122 tỷ USD. Các loại nguyên liệu
được nhập khẩu chủ yếu là khô đậu tương, ngô, và bột cá. Tới năm 2011, tổng
kim ngạch NKNL sản xuất thức ăn gia súc của cả nước là 8,9 triệu tấn, đạt giá
trị là 3,86 tỷ USD; tăng 93,48% về sản lượng và tăng 244 % về giá trị so với
năm 2007. Chúng ta có thể nhận thấy rõ sự thay đổi trong kim ngạch nhập khẩu
nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc của các doanh nghiệp trong cả nước giai
đoạn 2007 – 2011 qua bảng 2.2 dưới đây:
Bảng 2.2: Tổng kim ngạch NK NL sản xuất TĂGS của cả nước
(2007 – 2011).
(Đơn vị: triệu tấn, tỷ USD)
Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010 2011
SL SL % SL % SL % SL %
Sản lượng NL
NK
4,6 5,59 21,52 6,85 22,54 7,487 9,3 8,9 18,87
Giá trị NL NK 1,122 1,63 45,27 2,58 58,2
1,62 1,9 21,6 2,4 16,8 2,73 18,7 2,92 6,96
Giá trị
NK
0,52 0,76 45,7 0,964 27 1,18 22,4 1,29 9,58
Ngô Lượn
g NK
0,949 1,241 30,8 1,596 28,6 1,86 16,5 1,84 (1,01)
Giá trị
NK
0,10
2
0,117 13,4 0,38
3
226 0,574 39,3 0,62 7,67
Bột
cá
Lượn
g NK
0,333 0,38 14,43 0,41 7,81 0,49 18,6 0,56 15,4
Giá trị
NK
0,39 0,46 20,8 0,5 9,2 0,67 35 0,79 17,84
(Nguồn: Báo cáo thường niên ngành thức ăn chăn nuôi Việt Nam – Viện
chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn năm 2007 - 2011)
Trong giai đoạn 2007 – 2011, kim ngạch nhập khẩu các loại nguyên liệu
là khô đậu tương, ngô và bột cá tăng mạnh qua các năm. Tổng giá trị nhập khẩu
của ba loại nguyên liệu trên chiếm phần lớn trong tổng giá trị nhập khẩu các các
loại nguyên liệu được dùng để sản xuất thức ăn gia súc.
Trong các loại nguyên liệu được các công ty nhập khẩu thì khô đậu tương
là loại nguyên liệu được các công ty nhập khẩu nhiều nhất chiếm 32,6% trong
tăng 42,03 USD so với năm 2010); trong khi giá của DDGS (Distillers dried
grais with solubes) là một sản phẩm phụ của quá trình sản xuất etanol công
nghiệp của các nhà máy etanol, có thể thay thế được cho ngô trong quá trình sản
xuất thức ăn gia súc lại có giá thành rẻ hơn chỉ khoảng 300 USD/tấn, điều này
dẫn đến nhiều doanh nghiệp đã tiến hành nhập khẩu DDGS về dùng thay ngô
cho quá trình sản xuất của mình. Năm 2009 giá trị nhập khẩu ngô tăng đột biến
lên gấp 226,5% so với năm 2008 là do trong năm này giá ngô tăng 104,6% so
với năm 2008 (giá ngô từ 117,36 USD/tấn năm 2008 lên 240,17 USD/tấn vào
năm 2009); trong khi đó giá các loại nguyên liệu thay thế lại khá cao dẫn tới
việc các công ty vẫn phải chấp nhận nhập khẩu với giá thành cao để sản xuất.Ấn
Độ và Brazil là 2 thị trường được các doanh nghiệp thức ăn gia súc Việt Nam
nhập khẩu ngô lớn nhất.
Sau khô đậu tương và ngô thì bột cá là loại nguyên liệu được các công ty
sản xuất thức ăn gia súc trong cả nước nhập khẩu nhiều nhất. Đây là loại nguyên
liệu cung cấp đạm trong thức ăn gia súc. Hiện nay, trong nước chỉ có khả năng
cung cấp lượng bột cá tương đương với khoảng từ 3% - 10% nhu cầu sử dụng
23
của các công ty, còn lại phải nhập khẩu tới 93% - 97% tổng nhu cầu. Năm 2011,
kim ngạch nhập khẩu bột cá dùng để sản xuất thức ăn gia súc đạt 563 ngàn tấn,
đạt 793,8 triệu USD; tăng 15,4% về sản lượng và 17,84% về giá trị so với năm
2010 (bảng 2.3).
Hiện tại trong nước cũng có một số công ty sản xuất bột cá phục vụ cho
quá trình sản xuất của các công ty, tuy nhiên nó chẳng đáng là bao so với nhu
cầu của toàn ngành. Điều kiện để phát triển sản xuất bột cá của Việt Nam rất lớn
tuy nhiên việc thiếu nguyên liệu, thiếu máy móc kỹ thuật và nhiều yếu tố khác
đang là một trong những vấn đề cản trở lĩnh vực sản xuất chế biến bột cá của
Việt Nam phát triểnThị trường nhập khẩu bột cá chính của các doanh nghiệp
Việt Nam là Chile và Pêru.
Ở trên là vài nét khái quát về tình hình nhập khẩu được dùng để sản xuất
thức ăn gia súc chung của cả nước cũng như tình hình nhập khẩu của 3 loại
4
49,16 590,6 28,72 735,3 24,5
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Việt Pháp
PROCON năm 2007 - 2011)
Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu của công ty liên tục gia tăng trong giai
đoạn 2007 – 2011. Tuy nhiên tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu của công ty
trong giai 2 năm 2010 và 2011 lại giảm so với giai đoạn 2007 – 2009. Năm 2009
là năm có kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu của công ty tăng cao nhất lên tới
49,16% so với năm 2009. Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu của công ty gia
tăng mạnh trong giai đoạn 2007 - 2011 do sản lượng thức ăn gia súc của công ty
cũng như những đối tác mua lại nguyên liệu nhập khẩu từ công ty trong giai
đoạn này không ngừng gia tăng. Mặt khác nguyên liệu thu mua từ thị trường
trong nước lại có xu hướng ngày càng giảm. Để bù đắp lượng nguyên liệu thu
mua từ thị trường trong nước cũng như lượng nguyên liệu cần thiết dùng để sản
xuất một lượng lớn thức ăn gia súc tăng thêm của công ty và các đối tác làm gia
tăng thêm lượng nguyên liệu được công ty nhập khẩu về.
Khi so sanh giữa bảng 2.2 và bảng 2.4 với nhau ta thấy: kim ngạch nhập
khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc của công ty chiếm tới 19,04% tổng
kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu của toàn ngành sản xuất thức ăn gia súc.
Chiếm tỷ trọng nhập khẩu nguyên liệu lên tới 19,04% so với toàn ngành là một
con số rất lơn khi mà cả nước có tới 240 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
sản xuất thức ăn gia súc. Tuy nhiên khi mà tổng sản lượng thức ăn gia súc của
công ty (chưa tính sản lượng thức ăn gia súc các đối tác nhập khẩu nguyên liệu
của công ty) chiếm tới 14,48% tổng lượng thức ăn gia súc của cả nước thì kim
ngạch nhập khẩu của công ty chiếm tỷ trọng lớn như vậy là điều hiển nhiên.
Khi tiến hành mua bán một loại hàng hóa, một trong những yếu tố mà
người mua quan tâm đến đầu tiên chính là giá bán của loại hàng hóa đó. Khi tiến
hành nhập khẩu hàng hóa, thì giá cả của loại hàng hóa nhập khẩu cũng là một
trong những yêu tố đầu tiên mà các nhà nhập khẩu tìm hiểu và PROCONCO
25