Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
PHẦN MỞ ĐẦU
Bước vào thế kỉ XXI chúng ta đang bước vào quá trình mở cửa và hội nhập
quốc tế, cùng với quá trình CNH - HĐH đất nước. Với sự hội nhập quốc tế ngày
càng đa dạng đã đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng không ít thử thách
trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Trong quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới chúng ta phải có
những sự chuyển mình để khỏi bị gạc ra khỏi vòng quay của sự phát triển, và cũng
nhờ vào quá trình hội nhập kinh tế đã tạo ra những cơ hội hợp tác kinh tế, liên
doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp các nước trong
khu vực và trên thế giới và cũng đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trên
tất cả các mặt như kinh tế, chính trị, VH-XH, ngoại giao…. Trong quá trình phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế, Việt Nam chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan
trọng của đầu tư trực tiếp vốn của nước ngoài (FDI). Trong những năm qua chúng
ta đã đặt ra nhiệm vụ hết sức quan trọng: Thu hút và sử dụng luồng vốn đầu tư trực
tiếp một cách hiệu quả nhất.
FDI ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế đang trên đà phát triển
nói chung cũng như Việt Nam nói riêng. Thấy rõ được sự cần thiết của đầu tư trực
tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.Bên cạnh những mặt tích cực
đó, FDI có thể ảnh hưởng xấu đến cán cân thanh toán của nước ta, tới nguồn tài
nguyên, môi trường sinh thái, thậm chí còn có thể ảnh hưởng đến lợi ích, chủ
quyền của quốc gia nếu như không có biện pháp khắc phục và xử lý kịp thời.
Cũng từ những suy nghĩa trên em đã quyết định lựa chọn đề tài “ Những vấn
đề pháp lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
cho bài tiểu luận này.
Vì sự hiểu biết có hạn và thời gian đầu tư cho nghiên cứu còn hạn chế nên còn
nhiều thiếu sót . Vì vậy, rất mong đươc sự góp ý và giúp đỡ của cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đề tài môn Luật kinh tế Page 1 SVTH: Nguyễn Thị Sương
Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
PHẦN NỘI DUNG
một hay nhiều hoạt động kinh doanhowr nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách
nhiệm để thực hiện hợp động và xác định quyền lợi của mỗi bên, nhưng không
hình thành một pháp nhân mới
Các hình thức khác : Ngoài các hình thức kể trên ở Việt Nam và ở các nước
còn có các hình thức khác như : Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao
(BOT), Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), Hợp đồng xây
dựng – chuyển giao(BT) nhằm khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yêu cầu tất yếu của quá trình toàn cầu
hóa đang diển ra ngày càng mạnh mẽ. Với những đặc điểm của mình, FDI đóng vai
trò quan trọng nền kinh tế đối với cả nước nhập khẩu đầu tư và nước xuất khẩu đầu
tư, thúc đẩy các nước này gia tăng liên kết, nhằm duy trì nhịp độ tăng trưởng của
kinh tế của nước mình. Xét vai trò của Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
FDI là nguồn hỗ trợ cho phát triển, FDI là một trong những nguồn quan
trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là
đối với các nước kém phát triển
Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ
sảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến. Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ
đầu tư không chỉ vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như
máy móc thiết bị, nhuyên vật liệu (hay còn gọi là cộng cứng) trí thức khoa hoạch
bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường (hay còn gọi là phần mềm.) Do vậy
đứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư. FDI có
thể thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là nhữngnghề đòi hỏi hàm lượng
công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa,
dịch chuyển cơ cấu kinh tế, ta nhanh của các nước nhận đầu tư. FDI đem lại kinh
nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong
nước nhận đầu tư, thông qua những chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa
Đề tài môn Luật kinh tế Page 3 SVTH: Nguyễn Thị Sương
Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
làm. FDI còn mang lại cho họ những kiến thức sản xuất phức tạp trong khi tiếp
Đề tài môn Luật kinh tế Page 4 SVTH: Nguyễn Thị Sương
Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
Về mặt xã hội, đầu tư trục tiếp nước ngoài đã tạo ra nhiều chỗ làm việc mới,
thu hút một khối lượng đáng kể người lao độngở nước nhận đầu tư vào làm việc tại
các đơn vị của đầu tư nước ngoài. Điều đó góp phần đáng kể vào việc làm giảm
bớt nạn thất nghiệp vốn là một tình trạng nan giải của nhiều quốc gia. Đặc biệt là
đối với các nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động rất phong phú nhưng
không có điều kiện khai thác và sử dụng được. Thì đầu tư trực tiếp nước ngoài
đước coi là chìa khóa quan trọng để giải quyết vấn đề trên đây FDI có vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển của bất cứ một quốc gia nào trên thế giới . FDI đã
đem lại một hơi thở mới cho nền kinh tế thế giới. Mở cửa cho sự toàn cầu hóa lan
rộng khắp thế giới.
1.2 QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO VIÊT NAM
Với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam bắt
buộc phải thay đổi, phát triển hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về đầu tư và
thương mại. Năm 1987 Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam, và sau đó được sửa đổi bổ sung nhiều lần. Đến năm 1996, Quốc hội
Việt nam đã ban hành mới Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thay thế Luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 và cũng được sửa đổi bổ sung vào năm 2000.
Trong khi đó, vào cùng thời điểm đầu thập niên 90, các hoạt động đầu tư do các
nhà đầu tư trong nước thực hiện lại được điều chỉnh bởi Luật Công ty và Luật
Doanh nghiệp tư nhân (1990), sau đó được thay thế bởi Luật Doanh nghiệp (1999)
và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1994). Trong quá trình hội nhập với nền
kinh tế thế giới, Việt Nam thấy cần thiết phải ban hành một bộ luật thống nhất có
thể điều chỉnh và chi phối các hoạt động đầu tư trong nước lẫn nước ngoài. Do
vậy, năm 2005 Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu
tư, cùng có hiệu lực từ ngày 01/07/ 2006. Các luật này thay thế Luật Đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp (1999) và Luật Khuyến khích đầu tư trong
nước (1994).
1.2.2 Về hình thức đầu tư
So với Luật Đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước
trước đây thì pháp luật đầu tư 2005 quy định rõ hơn về những hình thức đầu tư
Đề tài môn Luật kinh tế Page 6 SVTH: Nguyễn Thị Sương
Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
như: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100%
vốn của nhà đầu tư nước ngoài; Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà
đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC,
hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; Đầu tư phát triển kinh doanh; Mua
cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; và Đầu tư thực hiện việc
sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập tổ chức
kinh tế bằng 100% vốn của mình, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã
thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và/hoặc với nhà đầu tư nước ngoài
để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới theo quy định
của pháp luật về doanh nghiệp. Nhà đầu tư cũng có thể đầu tư thành lập tổ chức
kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, doanh
nghiệp liên doanh trên được tiếp tục liên doanh với nhà đầu trong nước và nhà đầu
tư nước ngoài để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế mới theo quy định của Luật
Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.
Đối với hoạt động đầu tư thành lập tổ chức kinh tế để thực hiện dự án đầu
tư, pháp luật đầu tư 2005 quy định nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư gắn với
việc thành lập tổ chức kinh tế thì thực hiện việc đăng ký kinh doanh theo quy định
của Luật Doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy
định của Luật Đầu tư và Nghị định 108. Quy định như trên nhằm bảo đảm sự thuận
lợi cho hoạt động đầu tư trong nước.
Bên cạnh đó, pháp luật đầu tư 2005 còn có quy định nhà đầu tư nước ngoài
lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đầu tư để
được cấp Giấy chứng nhận đầu tư; Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh. Một điểm khác so với quy định trước đây, được
coi là một điểm mở rất thoáng và mới đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, đó là
các tiêu chí về thu nhập kinh tế quốc dân, về tỷ lệ đói nghèo, về cơ sở hạ tầng, về
mức độ tăng trưởng công nghiệp, về chính sách phát triển vùng và hài hòa các
vùng.
* Về áp dụng ưu đãi đầu tư, pháp luật đầu tư quy định nhà đầu tư đã được
hưởng ưu đãi theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, Luật Hợp tác xã và các luật thuế được tiếp tục hưởng các
ưu đãi đầu tư theo Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư đã cấp.
Đối với dự án đầu tư thực hiện trước ngày Luật Đầu tư có hiệu lực thuộc đối tượng
Đề tài môn Luật kinh tế Page 8 SVTH: Nguyễn Thị Sương
Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
ưu đãi đầu tư quy định tại Nghị định 108 thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư
cho thời gian ưu đãi còn lại kể từ ngày Nghị định 108 có hiệu lực.
Các ưu đãi đầu tư được ghi vào Giấy chứng nhận đầu tư nhằm bảo đảm cho
nhà đầu tư yên tâm khi thực thực hiện hoạt động đầu tư của mình. Đông thời, để
bảo đảm nhà đầu tư yên tâm trong hoạt động đầu tư, pháp luật đầu tư có quy định
trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi và ưu đãi
cao hơn so với quyền lợi ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì nhà đầu
tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi cho thời gian ưu đãi còn lại (nếu có) kể từ
ngày pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực. Ngoài ra, để bám sát các vấn đề
thực tế đã phát sinh trong ưu đãi đầu tư, pháp luật đầu tư có quy định về điều
chỉnh, bổ sung ưu đãi đầu tư.
* Về hỗ trợ đầu tư: các hỗ trợ đầu tư về chuyển giao công nghệ, đào tạo, tư
vấn đầu tư, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất được
tiếp tục cụ thể hóa hơn trong pháp luật đầu tư 2005.
* Lĩnh vực đầu tư có điều kiện quy định trong Luật Đầu tư và Nghị định 108
là các điều kiện gia nhập thị trường mà nhà đầu tư phải đáp ứng, không bao gồm
các điều kiện hoạt động mà nhà đầu tư phải bảo đảm trong quá trình hoạt động
kinh doanh. Các lĩnh vực đầu tư có điều kiện này phải tuân thủ các quy định về
lĩnh vực đầu tư có điều kiện quy định tại Điều 29 của Luật Đầu tư và các lĩnh vực
khác theo quy định của pháp luật có liên quan; chủ yếu là lĩnh vực đầu tư có tác
định việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hoặc quyết định mở cửa thị trường. Đối
với dự án đầu tư thuộc lĩnh vực chưa có quy hoạch, thì cơ quan cấp Giấy chứng
nhận đầu tư lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ
quyết định chủ trương đầu tư.
Việc phân cấp cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và
Ban quản lý là một chủ trương thực hiện cải cách hành chính trong quản lý kinh tế
và đã được đúc rút, tổng kết trong nhiều năm qua. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và
Ban quản lý là cơ quan quản lý trực tiếp các nguồn lực đầu tư về đất đai, lao động,
môi trường, quy hoạch và nắm sát nhất điều kiện, tình hình thực hiện các dự án đầu
trên địa bàn. Việc phân cấp mạnh cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý
còn nhằm tiến tới xóa bỏ cơ quan chủ quản, tạo điều kiện cho các bộ, ngành quản
lý nhà nước tập trung thực hiện chức năng hoạch định chính sách, dự báo, kiểm tra,
giám sát.
Đề tài môn Luật kinh tế Page 10 SVTH: Nguyễn Thị Sương
Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
Về thủ tục đăng ký và thẩm tra đối với dự án đầu tư pháp luật đầu tư cũng
quy định đơn giản hơn nhiều và trách nhiệm thẩm tra của các bộ, ngành liên quan
đến dự án đầu tư cũng được quy định cụ thể hơn so với trước đây; điều đó tạo
thuận lợi cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý trong việc xem xét cấp
Giấy chứng nhận đầu tư.
Đối với việc điều chỉnh dự án đầu tư, pháp luật đầu tư quy định khi điều
chỉnh dự án đầu tư liên quan đến mục tiêu, quy mô, địa điểm, hình thức, vốn và
thời hạn thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư phải làm thủ tục tại cơ quan tiếp nhận
hồ sơ để làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư. Việc điều chỉnh dự án
đầu tư được thực hiện theo một trong các quy trình: (1) không phải làm thủ tục
đăng ký điều chỉnh hoặc thẩm tra điều chỉnh dự án đầu tư (2) Đăng ký điều chỉnh
dự án đầu tư; (3) Thẩm tra điều chỉnh dự án đầu tư.
1.2.6. Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước
Nhằm cụ thể hoá các quy định về đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước (Chương
VII của Luật Đầu tư) dự thảo có quy định một số các nguyên tắc về thủ tục sử
nghiệp và Nghị định 152/2004/NĐ-CP ngày 06/08/2004 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 quy định chi tiết Luật thuế
thu nhập doanh nghiệp);
- Danh mục ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ban hành kem theo Nghị
định 149/2005/NĐ-CP ngày 06/12/2005 quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu.
Đề tài môn Luật kinh tế Page 12 SVTH: Nguyễn Thị Sương
Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
2.1 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
2.1.1 Kết quả đạt được
Trong thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã liên tiếp tổ chức các cuộc xúc
tiến thương mại nhằm thu hút vốn đầu trực tiếp nước ngoài và đã đạt được những
kết quả đáng ghi nhận.
Dưới đây là bảng chi tiết số liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài 9 tháng đầu năm 2011
theo báo cáo mới nhất của Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư
BÁO CÁO NHANH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THÁNG 9 NĂM 2011
TT Chỉ tiêu Đơn vị tính 9 tháng 2010 9 tháng 2011 So cùng kỳ
1 Vốn thực hiện triệu USD 8,050 8,200 102%
2 Vốn đăng ký triệu USD 13,735 9,903 72%
2.1. Đăng ký cấp mới triệu USD 12,018 8,238 69%
2.2. Đăng ký tăng thêm triệu USD 1,717 1,666 97%
3 Số dự án
3.1. Cấp mới dự án 959 675 70%
3.2. Tăng vốn lượt dự án 350 178 51%
4 Xuất khẩu
4.1. Xuất khẩu (kể cả dầu thô) triệu USD 27,671 38,142 138%
4.2.
tăng vốn
Vốn đăng
ký tăng
thêm
(triệu
USD)
Vốn đăng ký cấp
mới và tăng thêm
(triệu USD)
1 CN chế biến,chế tạo 300 3,847.63 149 1,064.21 4,911.84
2 SX,pp điện,khí,nước,đ.hòa 4 2,525.31 2,525.31
3 Xây dựng 80 547.50 7 141.84 689.34
4 Dvụ lưu trú và ăn uống 12 238.75 1 208.01 446.77
5 Cấp nước;xử lý chất thải 2 322.71 322.71
6 KD bất động sản 12 277.19 3 30.00 307.19
7 Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 94 189.60 3 3.89 193.49
8 Nghệ thuật và giải trí 4 14.60 1 138.18 152.78
9 HĐ chuyên môn, KHCN 91 86.77 3 11.16 97.93
10 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 12 21.63 5 62.73 84.36
11 Dịch vụ khác 5 41.61 2 2.05 43.66
12 Vận tải kho bãi 10 38.80 38.80
13 Thông tin và truyền thông 36 28.34 4 3.65 31.99
14 Khai khoáng 2 31.40 31.40
15 Y tế và trợ giúp XH 2 22.00 22.00
16 Giáo dục và đào tạo 6 3.39 3.39
17 Hành chính và dvụ hỗ trợ 3 0.53 0.53
Tổng số 675 8,237.77 178 1,665.72 9,903.49
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự
quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 300 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số
vốn cấp mới và tăng thêm là 4,91 tỷ USD, chiếm 49,6% tổng vốn đầu tư đăng ký
1 Hồng Kông 30 2,803.18 10 98.03 2,901.20
2 Singapore 70 1,386.00 9 121.45 1,507.44
3 Nhật Bản 124 712.39 31 214.86 927.26
4 Hàn Quốc 165 431.31 40 462.74 894.05
5 Trung Quốc 51 555.58 12 50.86 606.44
6 Malaysia 17 357.72 5 72.53 430.25
7 BritishVirginIslands 13 342.28 6 32.10 374.38
8 Đài Loan 45 296.36 30 69.06 365.42
9 Vương quốc Anh 8 329.77 1 2.00 331.77
10 Samoa 3 253.60 1 2.00 255.60
11 Thụy Sỹ 4 33.02 2 215.10 248.12
12 Hoa Kỳ 21 92.96 7 143.10 236.06
13 Australia 10 131.10 3 21.35 152.45
14 Hà Lan 9 46.29 4 97.32 143.61
15 Síp 2 142.90 1 142.90
16 Thái Lan 18 120.23 5 8.28 128.51
17 Brunei 8 39.78 1 19.00 58.78
18 CHLB ĐỨC 7 34.92 2 4.03 38.95
19 Pháp 9 18.52 2 14.78 33.30
20 Bỉ 2 24.70 24.70
21 Canada 10 22.70 22.70
22 Liên bang Nga 3 15.13 15.13
23 Belize 1 12.00 1 3.00 15.00
24 ấn Độ 10 11.69 11.69
25 Thụy Điển 1 0.05 1 6.00 6.05
26 Luxembourg 2 5.01 5.01
27 Tây Ban Nha 5 4.41 4.41
28 Mauritius 1 2.00 1 2.20 4.20
29 Bungary 1 4.00 4.00
30 Philippines 7 2.25 2.25
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI NĂM 2011 THEO ĐỊA PHƯƠNG
Tính từ 01/01/2011 đến 20/9/2011
TT Địa phương Số dự án
cấp mới
Vốn đăng ký
cấp mới
(triệu USD)
Số lượt dự
án tăng vốn
Vốn đăng ký
tăng thêm
(triệu USD)
Vốn đăng ký
cấp mới và tăng
thêm (triệu
Đề tài môn Luật kinh tế Page 17 SVTH: Nguyễn Thị Sương
Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
USD)
1 Hải Dương 17 2,480.18 10 58.32 2,538.50
2 TP Hồ Chí Minh 200 1,678.08 8 49.19 1,727.27
3 Đồng Nai 24 149.04 41 491.86 640.89
4 Bà Rịa-Vũng Tàu 15 547.98 4 32.00 579.98
5 Bình Dương 61 363.43 37 182.24 545.68
6 Hà Nội 137 451.37 21 74.63 526.00
7 Hải Phòng 19 250.07 17 212.31 462.38
8 Tây Ninh 6 436.40 3 9.00 445.40
9 Đà Nẵng 13 240.59 3 184.00 424.59
10 Hưng Yên 14 285.86 3 2.51 288.37
11 Ninh Thuận 1 266.00 266.00
12 Bắc Giang 3 254.50 1 1.70 256.20
43 Hòa Bình 1 0.50 0.50
44 Phú Yên 3 0.50 0.50
45 Cà Mau 1 0.20 0.20
Tổng số 675 8,237.77 178 1,665.72 9,903.49
Tính đến thời điểm hiện tại, Hải Dương là địa phương thu hút nhiều vốn
ĐTNN nhất với 2,5 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm chiếm 25,6% tổng vốn
đầu tư. TP Hồ Chí Minh đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là
1,73 tỷ USD, chiếm 17,4%. Đồng Nai đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký cấp mới
Đề tài môn Luật kinh tế Page 18 SVTH: Nguyễn Thị Sương
Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
và tăng thêm gần 640,9 triệu USD. Tiếp theo là Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Dương và
Hà Nội với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 579,9 triệu USD; 545,7 triệu USD và
526 triệu USD.
Xét theo vùng thì Đồng Bằng Sông Hồng là vùng thu hút được nhiều vốn
ĐTNN nhất với tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt trên 4,8 tỷ, chiếm 42,6%
tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước. Đứng thứ 2 là vùng Đông Nam Bộ với tổng
vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 3,96 tỷ USD, chiếm 40,1% tổng vốn đầu tư
đăng ký. Tây Nguyên là vùng thu hút được ít FDI nhất, chỉ chiếm 0,1% tổng vốn
đăng ký.
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI NĂM 2011 THEO HÌNH THỨC
Tính từ 01/01/2011 đến 20/9/2011
TT Hình thức đầu tư
Số dự án
cấp mới
Vốn đăng ký
cấp mới (triệu
USD)
Số lượt dự
án tăng vốn
Vốn đăng
nhà đầu tư và doanh nghiệp
- Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công nhân kỹ
thuật và kỹ sư ngày càng rõ rệt
- Công tác quy hoạch còn thiếu đồng bộ, nhất quán
- Nhiều thủ tục hành chính kéo dài ảnh hưởng kết quả sản xuất kinh doanh; hệ
thống luật pháp về ĐTNN vẫn còn có những chồng chéo, chưa rõ ràng dẫn tới lúng
túng trong việc triển khai thực hiện
- Chính sách ưu đãi chưa thỏa đáng làm ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của Việt Nam
đối với các nhà đầu tư quốc tế
- Việc chuyển gia công nghệ lạc hậu, thiếu đồng bộ đang báo động nguy cơ của
các nước phát triển và Việt Nam là điều đáng quan tâm. Điều này gây ra ô nhiễm
môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của ngời lao động và nguy cơ gia tăng
mức độ lạc hậu. Chẳng hạn như việc nhập công nghệ cũ của ngành phân bón đã
làm nồng độ hóa chất gây hơi, các loại khí độc gấp nhiều lần cho phép,làm ô
nhiễm môi trường xung
- Ngoài ra nguy cơ có thể sảy ra nữa là sự phụ thuộc của các nước nhận đầu tư vào
vốn, công nghệ kỹ thuật và thị trường của các nhà đầu tư. Sự phát triển kinh tế giả
tạo ở nước nhận đầu tư. Sự “chảy máu” tài nguyên và chất xám. Sự can thiệp vào
công việc nội bộ, an ninh của các nước công nghiệp phát triển thông qua các công
ty xuyên quốc gia Nguyên nhân chính của tình hình trên là do Việt Nam thiếu
thông tin về các loại công nghệ, trình độ còn thấp, trình độ quản lý và kiểm soát
còn yếu. Quan trọng hưn là các chính sách về chuyển giao công nghê, bảo vệ môi
trường, phát triển nguồn nhân lực còn nhiều vấn đề phải hoàn thiện.
Đề tài môn Luật kinh tế Page 20 SVTH: Nguyễn Thị Sương
Đề tài môn Luật kinh tế SVTH: Nguyễn Thị Sương
2.2 NHỮNG KIẾN NGHỊ
Cần phát huy lợi thế về ổn định chính trị, an toàn xã hội, thị trường tiềm
năng; đồng thời có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo để hình thành
đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ kỷ thuật, chuyên viên kinh tế, nhà quản lý có
trình độ cao, xây dựng đồng bộ hạ tầng kỷ thuật và kinh tế đủ sức tiếp nhận nhiều