Luận văn thạc sĩ về Đầu tư phát triển đội tàu chở xăng dầu của tổng công ty xăng dầu VN - Pdf 24


1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-----oOo-----
PHẠM NGỌC SINH

ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỘI TÀU CHỞ XĂNG DẦU
CỦA TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU
VIỆT NAM Chuyên ngành
:
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

1.3 Vốn đầu tư
1.3.1 Vốn trong nước
1.3.2 Vốn ngoài nước
1.4 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và các nhân tố ảnh hưởng
1.5 Quy trình thực hiện việc phân tích đầu tư
1.6 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả vốn đầu tư

Chương II.

ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỘI TÀU CHỞ XĂNG DẦU
CỦA TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU VIỆT NAM

2.1 Giới thiệu về Tổng công ty xăng dầu Việt nam
2.2 Tình hình thò trường vận tải xăng dầu
2.3 Tầm quan trọng của việc đầu tư phát triển đội tàu
2.4 Dự án đầu tư tàu
2.4.1 Sự cần thiết đầu tư
2.4.2 Phân tích thò trường
2.4.3 Lựa chọn hình thức đầu tư
2.5 Quản lý khai thác
2.6 Phân tích tài chính - kinh tế

4

6

6
6
7

Chương III:

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ3.1 Kết luận
3.2 Kiến nghò Phụ lục
Tài liệu tham khảo

24
24
26
29
32
32
35
37
40

phương án quy hoạch, đònh hướng cho đội tàu này. Mặt khác giá xăng dầu tăng cao
làm cho cước vận chuyển tăng, rất khó khăn trong việc thuê các tàu ở nước ngoài.
Để chủ động cạnh tranh và mang lại hiệu quả kinh doanh đối với vận tải xăng dầu,
việc thay thế các tàu hiện có với tình trạng kỹ thuật kém bằng các tàu mới hơn và
có trọng tải phù hợp hơn là cần thiết thực hiện ngay. Xuất phát từ những nguyên
nhân trên, việc đầu tư phát triển đội tàu chở xăng dầu hiện nay là cần thiết và vô
cùng quan trọng, vì thế tác giả đã chọn đề tài: “Đầu tư phát triển đội tàu chở xăng
dầu của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam” để nghiên cứu.

52. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận về vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế kết hợp với phân tích
thực trạng của đội tàu chở xăng dầu hiện nay của Tổng công ty xăng dầu Việt
nam, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đội tàu chở xăng dầu
vững mạnh góp phần chủ động vận tải xăng dầu từ nước ngoài về Việt nam, tiết
kiệm một lượng ngoại tệ tiền cước không phải trả nước ngoài, đổi mới đội tàu chở
xăng dầu trong nước, tăng khả năng cạnh tranh với các tàu nước ngoài, đáp ứng
nhu cầu tăng trưởng và bình ổn thò trường xăng dầu trong nước.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đề tài phân tích thực trạng tình hình vận tải xăng dầu trong nước nhưng tập trung
đi sâu vào tình hình thò trường vận tải, nhu cầu và khả năng đội tàu chở xăng dầu
của Tổng công ty xăng dầu Việt nam để thực hiện chương trình đầu tư phát triển
đội tàu.

4. Phương pháp nghiên cứu:


1.1.1 Khái niệm:

Đầu tư là một khái niệm rất rộng bao gồm từ việc mua sắm tài sản, xây dựng
công trình đến các chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển được tiến hành bởi
nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận, doanh nghiệp hoặc cá nhân.
• Theo quan điểm kinh tế thì đầu tư là bỏ một vốn cố đònh tham gia vào hoạt
động của doanh nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp.
• Theo quan điểm tài chính thì đầu tư là làm cho bất động một số vốn nhằm tạo
ra tiền lãi trong nhiều thời kỳ kế tiếp. Khái niệm này ngoài việc tạo ra các tài
sản có, còn bao gồm các chỉ tiêu khác không tham gia trực tiếp vào hoạt động
của doanh nghiệp ví dụ như: nghiên cứu, đào tạo nhân viên… Ngoài ra quan
điểm tài chính hiện đại còn xem đầu tư như là sự hy sinh giá trò chắc chắn ở
thời điểm hiện tại để đổi lấy khả năng không chắc chắn giá trò trong tương lai.
Khái niệm đầu tư này đề cập đến 3 yếu tố là yếu tố thời gian, yếu tố rủi ro, và
yếu tố lợi nhuận. Đầu tư ở đây được đề cập trên một bình diện rất rộng bao
gồm cả đầu tư tài chính và đầu tư thực. Giá trò trong khái niệm này có thể hiểu
là những giá trò có thể đònh lượng được( vốn, tài sản…) và cả những giá trò
không thể đònh lượng được (con người, hiệu quả xã hội…).
• Theo quan điểm kế toán thì đầu tư gắn liền với việc phân bổ một khoản chi
vào trong các khoản mục của bản cân đối kế toán.
Tuy có nhiều quan điểm về đầu tư nhưng có thể hiểu đơn giản “ đầu tư là
một hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lợi trong tương lai”. Hoạt

7
động bỏ vốn có thể thực hiện trong một thời gian ngắn ( đầu tư ngắn hạn) và cũng
có thể thực hiện trong một thời gian dài ( đầu tư dài hạn). Các đầu tư ngắn hạn
thường không tác động nhiều đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngược lại
những hoạt động đầu tư dài hạn làm ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và thay đổi cơ cấu kinh tế
nói chung.

• Đầu tư trực tiếp: là đầu tư mà người bỏ vốn và người quản lý sử dụng vốn là
một chủ thể. Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước hoặc đầu tư của nước
ngoàitại Việt nam, theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam.
• Đầu tư gián tiếp: là đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn không phải
là một chủ thể. Trường hợp cần quan tâm nhất là đầu tư gián tiếp bằng vốn của
nước ngoài. Đó là loại vốn hỗ trợ phát triển chính thức ( ODA), vốn của nhà
nước vay của nước ngoài với lãi suất ưu đãi.
• Đầu tư trong nước: là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt nam của
các tổ chức, công dân Việt nam, Việt nam đònh cư tại nước ngoài, người nước
ngoài cư trú lâu dài ở Việt nam. Đầu tư trong nước chòu sự điều chỉnh của luật
khuyến khích đầu tư trong nước.
• Đầu tư nước ngoài tại Việt nam: là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động
đầu tư theo quy đònh của luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam.
• Đầu tư ra nước ngoài: là loại đầu tư của các tổ chức hoặc cá nhân của nước này
hoặc nước khác.
• Đầu tư mới: là đầu tư để xây dựng các công trình, nhà máy, thành lập mới các
công ty, dòch vụ mới. Đặc điểm của loại đầu tư mới là không phải trên cơ sở
những cái hiện có phát triển thêm.
• Đầu tư theo chiều sâu: là loại đầu tư nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp, trang
bò lại, hiện đại hóa… các đối tượng hiện có.
• Đầu tư phát triển: là đầu tư trực tiếp nhằm tăng thêm giá trò tài sản, tạo ra năng
lực mới, hoặc cải tạo mở rộng, nâng cấp năng lực hiện có vì mục tiêu phát
triển, có tác dụng quan trọng trong việc tái sản xuất mở rộng.
• Đầu tư dòch chuyển: là đầu tư trực tiếp nhằm dòch chuyển quyền sở hữu giá trò
tài sản. Lúc này không có sự gia tăng giá trò tài sản. Loại này có ý nghóa quan

9
trọng trong việc hình thành, phát triển thò trường vốn, thò trường chứng khoán,
thò trường hối đoái… hỗ trợ cho đầu tư phát triển.

phát huy tiềm năng về vốn, tăng năng lực sản xuất và dòch vụ, tạo ra ngày càng
nhiều sản phẩm, dòch vụ cho xã hội; đầu tư góp phần nâng cao đời sống vật chất
tinh thần cho nhân dân, làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của đất nước; thông qua
các chỉ tiêu: giá trò gia tăng cho nền kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, đầu tư
tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, phát triển thêm nhiều ngành nghề,
phát triển đồng đều các vùng lãnh thổ.

1.2 DỰ ÁN ĐẦU TƯ:
1.2.1 Khái niệm:

Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở
rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất đònh nhằm đạt được sự tăng trưởng về khối
lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dòch vụ nào đó trong
một khoảng thời gian xác đònh.
Khái niệm trên cho thấy rằng dự án đầu tư chủ yếu là những đề xuất cho
tương lai chưa phải đã thực hiện được trong thực tế. Nhiệm vụ chủ yếu của dự án
là đưa ra các đề xuất phù hợp với luật pháp, nâng cao hiệu qua của đối tượng đầu
tư. Những đề xuất này nhằm giải quyết những vấn đề sau:
- Lựa chọn sản phẩm dòch vụ .
- Lựa chọn công suất của dự án.
- Lựa chọn công nghệ thiết bò.
- Lựa chọn khu vực đòa điểm.
- Lựa chọn hình thức đầu tư, tổ chức quản trò thực hiện dự án.
- Phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư , an toàn đầu tư.
Để có những đề xuất đúng đắn ta cần xem xét các yếu tố sau đây:
• Đầu vào: bao gồm tiền vốn, đất đai, nguyên vật liêu, công nghệ thiết bò… có thể
gọi chung là tài nguyên và các nguồn nhân lực.
• Đầu ra: bao gồm các sản phẩm cụ thể (các vật phẩm), các sản phẩm trừu tượng
( các thông tin), các dòch vụ…


phụ thuộc về mặt kinh tế của dự án thứ hai

12
* Các dự án loại trừ lẫn nhau: hai dự án được gọi là loại trừ lẫn nhau nếu
các khoản thu nhập từ một dự án đầu tư nào đó sẽ biến mất hoàn toàn nếu dự án
khác được chấp nhận. Việc chấp nhận một dự án này cũng có nghóa là loại bỏ
hoàn toàn các dự án khác.
- Tiêu chuẩn hiện giá thuần (NPV): hiện giá thuần của một dự án là giá trò của
dòng tiền dự kiến trong tương lai được quy về hiện giá trừ đi vốn đầu tư dự kiến
ban đầu của dự án. Lãi suất chiết khấu được sử dụng để đánh giá giá trò hiện tại
của dòng tiền dự kiến trong tương lai phải tương xứng với mức độ rủi ro của dự
án.

n
CF
t
NPV =
=-
-
I
I+

-

t
=
=1
1 (
(
1
1+
+r
r
)


- Tiêu chuẩn tỉ suất sinh lợi nội bộ (IRR): Tỷ suất sinh lợi nội bộ đo lường tỷ
suất sinh lợi mà bản thân dự án tạo ra. IRR của một dự án là lãi suất chiết khấu
mà tại đó NPV của dự án bằng 0.

Trong đó:
IRR: tỷ suất sinh lợi nội bộ của dự án
R1: tỷ suất chiết khầu ban đầu để tính NPV1
R2: tỷ suất chiết khấu giả đònh để tính NPV2, với yêu cầu tạo ra giá trò âm cho
NPV2

Để thẩm đònh dự án trong trường hợp các dự án độc lập lẫn nhau dự án nào có
IRR lớn hơn tỷ suất sinh lợi nội bộ cho phép được quy đònh bởi cơ quan nhà nước
có thẩm quyền . Còn trong trường hợp các dự án loại trừ lẫn nhau nhà đầu tư chọn
dự án nào có IRR lớn nhất miễn là IRR lớn hơn tỷ suất sinh lợi nội bộ cho phép.

- Tiêu chuẩn chỉ số sinh lợi (PI): Là giá trò hiện tại của dòng tiền dự án đầu tư
so với đầu tư ban đầu.

Trong đó: PV là giá trò hiện tại của dòng tiền, I là đầu tư ban đầu.
Thẩm đònh dự án trong trường hợp các dự án độc lập lẫn nhau dự án nào co PI>1:
chấp nhận dự án và ngược lại. Tiêu chuẩn này có ưu điểm là trong trường hợp

14
nguồn vốn bò giới hạn thì doanh nghiệp không thể xếp hạng ưu tiên các dự án theo
NPV, thay vào đó doanh nghiệp có thể xếp hạng ưu tiên theo PI.

- Tiêu chuẩn thời gian thu hồi vốn (PP): thời gian thu hồi vốn của dự án là
khoảng thời gian thu hồi lại vốn đầu tư ban đầu. Một dự án có thời gian thu hồi vốn
nhanh sẽ hạn chế được nhiều rủi ro, tiêu chuẩn này được kết hợp với các phương

Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế bò hạn chế bởi yếu
tố về thu nhập bình quân đầu người, cho nên, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và
mở rộng đầu tư đòi hỏi nhà nước phải gia tăng tiết kiệm NSNN trên cơ sở kết hợp
chính sách thuế và chi tiêu.
Vốn ngân sách nhà nước được sử dụng để :
+ Đầu tư các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh… Các dự án
này đa phần không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng theo phân
cấp về chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển.
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào các lónh vực cần có sự tham gia của nhà
nước.
+ Chi cho công tác điều tra khảo sát, lập dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế xã hội vùng lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thò.
+ Cho vay của chính phủ để đầu tư phát triển
+ Vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của nhà nước để lại cho doanh nghiệp
nhà nước đầu tư.

* Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước: hình thành từ tiết kiệm của
doanh nghiệp, là số lãi ròng có được từ kết quả kinh doanh. Đây là nguồn tiết
kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển theo chiều rộng và
chiều sâu. Qui mô tiết kiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố trực tiếp
như: hiệu quả kinh doanh; chính sách thuế; sự ổn đònh kinh tế vó mô … Tiết kiệm
của doanh nghiệp hình thành nên vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà
nước. Nguồn vốn này được sử dụng để đầu tư cho các dự án phù hợp với quy

16
hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của nhà nước và quy hoạch phát triển
ngành.

* Các nguồn vốn khác: hình thành từ tiết kiệm của các hộ gia đình và tổ chức
đoàn thể xã hội, là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã phân phối và sử

nhận viện trợ thường xuyên phải đối mặt những thử thách rất lớn đó là gánh nặng
nợ quốc gia trong tương lai, chấp nhận những điều kiện và ràng buộc khắt khe về
thủ tục chuyển giao vốn, đôi khi còn gắn cả những điều kiện về chính trò. Mỗi tổ
chức, mỗi chính phủ đều có những phương cách và thông lệ riêng trong việc cung
cấp ODA nhằm để đạt được những mục tiêu chính sách riêng của họ. Với những
ràng buộc về chính trò không phải nước nào cũng có thể nhận được viện trợ hoặc
sử dụng có hiệu quả cao trong hoàn cảnh riêng của mình. Còn đối với điều kiện về
kinh tế, điển hình nhất là IMF và WB đều đưa ra cung cách áp đặt nước nhận tài
trợ phải tiến hành những chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo một khuôn
khổ rất cứng nhắc. Thực tế, cung cách đó đã mang lại những hệ quả tốt lẫn xấu
trong việc tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn này.
* Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI ): đây là nguồn vốn do các nhà đầu tư
nước ngoài đem vốn vào một nước để đầu tư trực tiếp bằng việc tạo ra những
doanh nghiệp. FDI đã và đang trở thành hình thức huy động vốn nước ngoài phổ
biến của nhiều nước đang phát triển khi mà các luồng dòch chuyển vốn từ các nước
phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để gia tăng khai thác về lợi thế so
sánh.
Khác với nguồn vốn ODA, FDI không chỉ đơn thuần đưa vốn ngoại tệ vào
nước sở tại, mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và
khả năng tiếp cận thò trường thế giới ... Tiếp nhận FDI lợi thế hiển nhiên mà thời
đại tạo ra cho các nước đang phát triển. Song, điều quan trọng đặt ra cho các nước
tiếp nhận là phải khai thác triệt để các lợi thế có được của nguồn vốn này nhằm
đạt được tổng thể cao về kinh tế. Bởi lẽ, FDI cũng có những mặt trái của nó.
Nguồn vốn FDI về thực chất cũng là một khoản nợ; trước sau nó vẫn không thuộc
quyền sở hữu và chi phối của nước sở tại. Ngày hôm nay, nhà đầu tư nước ngoài
đưa vốn vào và hết hạn họ lại rút ra, giống như các khoản nợ - có vay có trả. Vả

18
lại, trong các khoản vay nợ, thông thường mức lãi suất do hai bên thỏa thuận trước,
còn trong đầu tư trực tiếp, chủ đầu tư bao giờ cũng mưu cầu lợi nhuận tối đa. Hơn

Trong đầu tư thì mức lợi tức sau thuế thu được có ý nghóa quan trọng đối với
nhà đầu tư. Do vậy thông thường trước khi quyết đònh đầu tư thì các nhà đầu tư
thường quan tâm nhiều đến các chỉ số về hiệu suất sử dụng vốn và tỷ suất lợi
nhuận, cũng như sự thay đổi của chỉ số này trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Ngoài ra, các chính sách về giá cả, quảng cáo, chiến lược đa dạng hoá sản phẩm,…
cũng ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ số về doanh lợi hay hiệu suất sử dụng vốn.
Vì vậy, để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư người ta thường sử dụng một số
phương pháp như sau :
-
P
P
h
h
ư
ư
ơ
ơ
n
n
g
gp
p
h
h
a
a
ù

ï
a
at
t
r
r
e
e
â
â
n
nd
d
o
o
a
a
n
n
h
ht

: Vốn lưu đònh

Các nhân tố ảnh hưởng :
Phương pháp này xác đònh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được
biểu hiện bằng khối lượng công việc mà mỗi đơn vò tiền vốn hoàn thành nên. Các
chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn chủ sở hữu (Hv), hiệu suất sử dụng vốn cố đònh
(Hcđ), hiệu suất sử dụng vốn lưu động (Hlđ) càng lớn thì hiệu quả càng cao, như
vậy hiệu suất sử dụng vốn sẽ phụ thuộc vào 2 nhân tố sau :
* Doanh thu (M) : Chỉ xác đònh doanh thu thuần (không phụ thuộc vào
thuế gián thu như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trò gia tăng hay thuế xuất
nhập khẩu), khi doanh thu càng cao thì hiệu suất sử dụng vốn càng cao
* Vốn chủ sở hữu, vốn cố đònh hoặc vốn lưu động (V, Vcđ, Vlđ) : Do xác
đònh doanh thu thuần nên cần loại trừ các chỉ tiêu không có tác động đến
doanh thu thuần như đầu tư tài chính ngắn hạn, đầu tư tài chính dài hạn,
vốn đầu tư xây dựng cơ bản dở dang. -
-P
P
h
h
ư
ư

a
a
á
á
t
tl
l
ơ
ơ
ï
ï
i
in
n
h
h
u
u
a
a
ä
ä
n
n


Phương pháp này phản ánh một đồng vốn kinh doanh trong kỳ và một đồng
vốn của chủ sở hữu trong kỳ đã làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Từ đó lợi nhuận
càng lớn (PÇ) thì hiệu quả càng cao, như vậy hiệu suất sử dụng vốn sẽ phụ thuộc
vào 2 nhân tố sau :

* Lợi nhuận (P) : Lợi nhuận thu lại hàng năm (không kể thu nhập bất
thường)
* Tổng tài sản hoặc vốn chủ sở hữu (TTS hoặc Vsh): Tổng tài sản được
xác đònh gồm toàn bộ giá trò tài sản của doanh nghiệp trong kinh doanh;
đối với Vsh chỉ xác đònh bao gồm vốn cố đònh, vốn lưu động, vốn đầu tư
xây dựng cơ bản, quỹ phát triển kinh doanh do ngân sách Nhà nước cấp,
do có nguồn gốc từ ngân sách và do doanh nghiệp tự bổ sung.

-
-P
P
h
h
ư
ư
ơ
ơ
n

ò
n
n
h
hd
d
ư
ư
ï
ï
a
at
t
r
r
e
e
â
â
n
nl


d
d
o
o
a
a
n
n
h
ht
t
h
h
u
u(
(
l
l
ơ
ơ
ï
ï
i

t
e
e
á
á
)
)

Phương pháp xác đònh mức sinh lời (lợi tức) trên doanh thu (doanh thu
thuần). Chỉ tiêu này rất đáng quan tâm nhưng nó sẽ có ý nghóa hơn nếu chúng ta so
sánh nó với mức lợi tức sau thuế của những năm trước. Các chỉ tiêu :

- Doanh lợi tiêu thụ : Pv

= P/M

cho thấy chúng ta phải tính toán được chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp. Trong
phạm vi nghiên cứu của đề tài này, qui trình thực hiện việc phân tích như sau :

Bước 1
: Dự báo nhu cầu của thò trường dựa trên chỉ số phát triển kinh tế
của khu vực, mức tăng dân số, mật độ dân số và kế hoạch chung
của toàn ngành.

Bước 2
: Dự báo mức đầu tư về số lượng và giá cả trong giai đoạn cần
nghiên cứu. Từ đó xác đònh tổng mức vốn đầu tư cần thiết.

Bước 3
: Dự báo được tình hình tài chính của doanh nghiệp trong tương lai
dựa trên các số liệu kế toán doanh nghiệp từ bảng tổng kết tài sản,
bảng kết quả kinh doanh, bảng phân tích chi phí quản lý, chi phí
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp những năm trước kết hợp
với các yếu tố có thể dự báo như nhu cầu thò trường, lợi thế cạnh
tranh, các chính sách kinh tế chính trò của Nhà nước … để ước tính
các chỉ tiêu tài chính cần thiết như : doanh thu, chi phí, vốn kinh
doanh, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản… .

Bước 4
: Xác đònh các nguồn vốn đầu tư có thể sử dụng được, từ đó xác
đònh cơ cấu vốn đầu tư hợp lý nhất (chỉ trọng chi phí vốn bình quân
thấp nhất) cho từng giai đoạn cụ thể. Phải có kết hợp với các yếu
tố về chính trò, kinh tế xã hội (nếu có). Dự báo mức lãi phải trả
hàng năm cho khoản vốn tín dụng dùng trong đầu tư.

Bước 5

− Đầu tư không phải là công việc thường xuyên nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc sử
dụng số vốn rất lớn để mua sắm tài sản cố đònh phục vụ cho hoạt động sản xuất
– kinh doanh – dòch vụ lâu dài của doanh nghiệp.
− Nguồn vốn được huy động trong công tác đầu tư của doanh nghiệp có thể bao
gồm nhiều loại khác nhau như : vốn ngân sách cấp, vốn tín dụng, vốn đầu tư
xây dựng cơ bản tự có, vốn liên doanh … Mỗi nguồn đều có đặc điểm và yêu
cầu quản lý khác nhau.
− Việc đầu tư được tiến hành trên phạm vi không gian rộng và trong thời gian
dài với giá trò lớn và yêu cầu chất lượng cao cũng như phải đảm bảo những qui
đònh của Nhà nước về đầu tư.

* Sự cần thiết nâng cao hiệu quả vốn đầu tư: Từ những đặc điểm nêu trên, trong công tác đầu tư của doanh nghiệp
phải đảm bảo các yêu cầu :
− Phản ánh và giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư một cách chặt chẽ
theo các đối tượng đầu tư , vốn đầu tư, đảm bảo hoàn thành đúng thời hạn để
đưa vào khai thác, sử dụng.
− Quản lý vốn đầu tư, đảm vốn được sử dụng đúng mục đích, đảm bảo kế hoạch.

23

Thực hiện tốt các yêu cầu nêu trên thì công tác đầu tư của doanh nghiệp sẽ
đạt hiệu quả và có tác dụng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong kinh
doanh thì mục tiêu quan trọng nhất là tối đa hóa lợi nhuận, lợi nhuận là mục tiêu
hàng đầu mà tất cả các nhà đầu tư nào cũng phải quan tâm trước khi ra bất cứ một
quyết đònh gì về việc đầu tư.

24

CHƯƠNG II:

ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỘI TÀU CHỞ XĂNG DẦU
CỦA TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU VIỆT NAM

2.1 GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU VIỆT NAM:
Quyết đònh số 09/BTN của Bộ Thương nghiệp ngày 12/01/1956 thành lập
Tổng công ty Xăng dầu Việt nam ( Petrolimex) có ý nghóa rất quan trọng đối với
lòch sử ngành xăng dầu trong sự nghiệp khôi phục và phát triển kinh tế, ổn đònh đời
sống. Sự ra đời của Tổng công ty đã nhanh chóng góp phần vào việc cung ứng
xăng dầu cho nền kinh tế quốc dân, phát huy vai trò của thương nghiệp quốc doanh
và cũng là tiền đề, là dấu hiệu cho sự phát triển sau này của một ngành kinh tế
quan trọng - ngành xăng dầu Việt Nam.
Để đảm bảo cung cấp xăng dầu kòp thời, đầy đủ và đồng bộ cho sản xuất,
quốc phòng, đời sống, Tổng công ty đã tích cực chủ động phối hợp với Bộ Ngoại
thương đàm phán với nước ngoài về nguồn hàng và vận chuyển hàng về nước
trong từng thời gian cụ thể, kòp thời bổ sung hàng chục loại dầu nhờn phục vụ cho
các ngành kinh tế. Tổng công ty cũng chú trọng đến việc tăng cường cơ sở vật chất
kỹ thuật, công tác khoa học kỹ thuật của toàn ngành kết hợp với sắp xếp tổ chức
bộ máy một cách khoa học, đạt hiệu quả cao nhất.

Nẵng, Nhà Bè

Tổng số kho xăng dầu: 67 kho

Tổng sức chứa các kho xăng dầu: trên 980.000 m3

Nhà máy: 2 nhà máy dầu nhờn, 1 nhà máy cơ khí xăng dầu, nhiều nhà máy
sửa chữa tàu, xe vận tải

Kho LPG : 5 kho lớn và 7 kho nhỏ

Kho hoá chất: 2 kho
Hàng năm Tổng công ty nhập khẩu hàng triệu tấn xăng dầu chiếm khoảng
65% thò trường nội đòa với mức tăng trưởng hàng năm 5% - 7%.
Với hệ thống kho bể có sức chứa gần 1.000.000 m
3
được phân bố dọc theo
chiều dài đất nước đảm bảo cho dự trữ và cung ứng xăng dầu theo nhu cầu của thò
trường như: Tổng kho Xăng dầu nhà Bè (TP. Hồ Chí Minh) Tổng kho Xăng dầu
Đức Giang (Hà Nội), Cụm kho Xăng dầu B12 (Quảng Ninh), Cụm kho Xăng dầu
miền Trung (Đà Nẵng). Tại hầu hết các kho cảng đầu mối, việc tiếp nhận và giao
hàng được thực hiện và kiểm soát thông qua hệ thống vi tính. Thông qua hệ thống
phân phối gồm trên 1500 cửa hàng bán lẻ trên toàn quốc, Petrolimex hiện nay là
đơn vò cung cấp các chủng loại xăng dầu tốt nhất phù hợp với các tiêu chuẩn quốc
gia và quốc tế, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hoá của đất n-
ước.

Trích đoạn Lựa chọn hình thức đầu tư * Tiêu chuẩn tàu cần mua : PHÂN TÍCH TÀI CHÍN H KINH TẾ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status