kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh bắc giang - Pdf 24

Tóm lược
Chi phí sản xuất và thành sản phẩm là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất luôn gắn liền với việc sử dụng vật
tư, tài sản, mặt khác chi phí sản xuất là cơ sở tạo nên giá thành sản phẩm. Vì vậy, tiết
kiệm được chi phí sản xuất là điều kiện để hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường. Để hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả,
doanh nghiệp sử dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau trong đó kế toán luôn được coi
là công cụ quan trọng và hiệu quả. Đặc biệt là trong công tác quản lý chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm với yêu cầu đặt ra là làm sao, bằng cách nào để tiết kiệm
chi phí, phát hiện mọi khả năng tiềm tàng trong việc hạ giá thành sản phẩm, nâng cao
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hạch toán giá thành sản phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh
nghiệp, đồng thời nó cũng là mối quan tâm của các cơ quan chức năng của Nhà Nước
thực hiện công tác quản lý các doanh nghiệp trong cả nước nói chung và ở Bắc Giang
nói riêng.
Luận văn này nghiên cứu hệ thống hóa các quy định kế toán về chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm, các vấn đề về thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả
của công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất
hàng may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm
hoạt động sản xuất, đặc điểm sản phẩm, quy trình công nghệ, tổ chức bộ máy quản lý,
bộ máy kế toán, tổ chức công tác kế toán chi phí và tình giá thành sản xuất của các
công ty. Nhằm tìm ra các điểm chưa phù hợp trong công tác kế toán chi phí và tình giá
thành sản xuất và các biện pháp khắc phục, các giải pháp giúp doanh nghiệp tiết kiệm
chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả của công tác quan lý chi phí sản xuất tăng khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
i
Abstract
Production cost and finished product is one of indicators reflecting the business
performance of enterprises. Cost of production is always associated with the use of
materials, properties, on the other hand the cost of production is the basis to create
production costs. So, saving production costs as a condition for lowering production

1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài 9
1.1.1 Về lý luận 9
1.1.2 Về thực tiễn 11
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến kế toán chi phí và
tính giá thành sản phẩm 11
1.2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 11
1.2.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 12
1.3. Nhận dạng và xác lập vấn đề nghiên cứu khác biệt trong đề tài 12
1.4. Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 13
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu 13
1.4.2. Mục tiêu nghiên cứu 13
1.4.3. Nhiệm vụ nghiên cứu 14
1.5. Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu 14
1.6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 15
1.6.1 Phạm vi nghiên cứu 15
1.6.2 Giới hạn nghiên cứu 15
Chương 2 16
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
XUẤT SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 16
2.1. Các khái niệm, thực chất và nội hàm kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
16
2.1.1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất 16
2.1.1.1. Khái niệm 16
2.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất: 16
2.1.2. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm 19
2.1.2.1. Khái Niệm 19
2.1.2.2. Phân loại giá thành: 20
2.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 20
2.2. Một số lý thuyết về kế toán chi phí và tính giá thành sản xuất 21
2.2.1. Những quy định trong chuẩn mực kế toán chi phối đến kế toán chi phí và tính giá

3.3.1. Về Vĩ mô 55
3.3.2 Về vi mô 56
3.4. Phân tích thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các
công ty sản xuất hàng may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 57
3.4.1 Đặc điểm kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm 57
3.4.1.1 Đối tượng tập hợp chi phí 57
3.4.1.2 Đối tượng tính giá thành, Kỳ tính giá thành 58
3.4.1.3 Phân loại chi phí sản xuất 58
3.4.1.4 Phương pháp tập hợp chi phí 59
3.4.2 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các công ty sản xuất hàng
may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 59
3.4.2.1 Chứng từ sử dụng 59
3.4.2.2 Tài khoản sử dụng 60
3.4.2.3 Số kế toán sử dụng 61
3.4.2.4 Phương pháp hạch toán nghiệp vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm 61
3.4.2.3 Đánh giá sản phẩm dở dang 75
3.4.2.4 Phương pháp tính giá thành 76
Chương 4 79
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
XUẤT SẢN PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG MAY MẶC XUẤT
KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG 79
4.1. Các kết luận đánh giá chung và nguyên nhân thực trạng 79
4.2. Các phát hiện và vấn đề đặt ra cần tập trung xử lý thời gian tới qua nghiên cứu thực trạng
81
4.3. Các dự báo triển vọng về kế toán chi phí và tính giá thành sản xuất sản phẩm may mặc tại
các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 84
4.4. Các đề xuất về giải pháp về kế toán chi phí và tính giá thành sản xuất sản phẩm may mặc
tại các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thời gian
tới 85

NVL : Nguyên vật liệu
NVL TT : Nguyên vật liệu trực tiếp
NVLC : Nguyên vật liệu chính
NVLP : Nguyên vật liệu phụ
XK : Xuất khẩu
SPHT : Sản phẩm hoàn thành
SPDD : Sản phẩm dở dang
vii
vii
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
1.1.1 Về lý luận
Trong những năm gần đây ngành dệt may việt nam đã có những bước phát triển
và tăng trưởng ngoạn mục. Hiện tại đây là một ngành quan trọng trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và là ngành xuất khẩu mũi nhọn có những đóng góp đáng
kể vào sự phát triển kinh tế đất nước. Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa hội nhập
hiện nay các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt là dệt may xuất khẩu có nhiều
cơ hội lớn nhưng bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với nhiều thách
thức không nhỏ. Trong điều kiện giá cả đầu vào tăng cao và sự cạnh tranh khốc liệt, để
duy trì sự tồn tại và phát triển sản xuất các doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến
công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Kế toán là một bộ phận
cấu thành quan trọng trong hệ thống thông tin của doanh nghiệp, là công cụ quản lý
kinh tế tài chính hữu hiệu của mọi loại hình doanh nghiêp. Để đáp ứng yêu cầu của sự
phát triển các doanh nghiệp đã mạnh dạn thực hiện nhiều chính sách đổi mới trong
phương thức quản lý, trong đó có việc đổi mới công tác kế toán nói chung và kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một nội dung quan trọng hàng đầu.
Quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm chí phí sản xuất góp phần hạ giá thành sản
phẩm là những biện pháp cơ bản giúp doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận, giúp đưa sản

nghiệp phải có một hệ thống kế toán phù hợp, cung cấp kịp thời các thông tin phục vụ
cho việc ra quyết định của nhà quản lý. Bên cạnh đó việc áp dụng một phương pháp
tính giá thành phù hợp cũng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc
đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Như vậy có thể thấy kế toán chi phí sản xuất và gia thành sản phẩm giữ một vai
trò đặc biệt quan trọng trong các doanh nghiệp sản xuất, vai trò đó thể hiện qua các
mặt:
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cho biết các thủ tục, chứng
từ, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, phương pháp tính giá thành sản phẩm
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cho biết thời điểm ghi nhận
chi phí sản xuất, các loại chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành
10
của doanh nghiệp. Có xác định đúng đắn giá thành sản phẩm mới có thể xác định được
giá bán sản phẩm và đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.2 Về thực tiễn
Kế toán chi phí sản xuất sản phẩm là một nội dung công tác kế toán quan trọng
đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu. Tiến hành khảo sát thực
tế công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của các công ty sản
xuất hàng may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ những điểm giống và
khác biệt giữa các công ty này về tổ chức công tác kế toán cũng như phần hành kế
toán chi phí và tính giá thành sản phẩm. Tôi thấy công tác kế toán xuất khẩu sản phẩm
may mặc của các công ty này vẫn còn những hạn chế cần được hoàn thiện:
Việc phản ánh các khoản chi phí sản xuất khi phát sinh hàng kém phẩm chất, chất
lượng. Chưa có quy chế bồi thường thiệt hại đối với sản phẩm hỏng, việc xây dựng
định mức chi phí sản phẩm hỏng chưa được quan tâm.
Việc tổ chức bộ máy kế toán chi phí sản xuất chưa thực sự hợp lý, ảnh hưởng đến công
tác theo dõi và quản lý chi phí của đơn vị.
Hệ thống báo cáo kế toán chưa được đầy đủ và kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý.
Việc nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một
trong những vấn đề quan trọng hiện nay nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các

- Bản thân là nhân viên kế toán vì vậy tôi phải thường xuyên nghiên cứu tài liệu
có liên quan đến kế toán. Khi thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ, tôi đã nghiên cứu các
tài liệu liên quan đến kế toán và các chuẩn mực, quy định kế toán chi phối đến kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Ngoài ra tôi còn nghiên cứu tài liệu kế
toán liên quan đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các công ty
khảo sát.
1.2.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Do chưa có điều kiện tiếp xúc và tìm hiểu về các nghiên cứu của các tác giả nước
ngoài về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, nên tôi chưa nêu trong luận
văn này.
1.3. Nhận dạng và xác lập vấn đề nghiên cứu khác biệt trong đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát thực tiễn công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc tại các công ty sản xuất hàng may mặc xuất
khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, nghiên cứu cho thấy một số nội dung trong công tác
kế toán của các công ty này cần được hoàn hiện, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn
12
thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc tại các doanh
nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nhằm đảm bảo
phù hợp với các yêu cầu, các quy định hiện hành và thực tế tại mỗi doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tôi lựa chọn đề tài “ Kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc tại các công ty sản xuất hàng may mặc
xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Với đối tượng nghiên cứu là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm,
đơn vị khảo sát là công ty CP may xuất khẩu Hà Bắc và công ty CP may xuất khẩu Hà
Phong là hai đơn vị tiêu biểu đại diện cho các công ty sản xuất hàng may mặc xuất
khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Luận văn đã hệ thống hoá, làm rõ những vấn đề lý luận về kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất
khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc
hoàn thiện hơn công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc

hoàn thiện trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các
công ty khảo sát. Các câu hỏi được đặt ra để giải quyết đề tài nghiên cứu là:
Tại các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang đã áp dụng đầy đủ các nội dung của chuẩn mực kế toán số 01 "Chuẩn mực
chung", chuẩn mực số 02 "Hàng tồn kho", chuẩn mực kế toán số 03 ”Tài sản cố định
hữu hình” và các chuẩn mực kế toán liên quan khác về các quy định trong việc hạch
toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hay chưa?
Việc tổ chức bộ máy kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất
khẩu đã phù hợp với công tác kế toán đáp ứng được yêu cầu thông tin của bên trong và
bên ngoài doanh nghiệp hay chưa?
Những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm may mặc tại các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất
khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang?
Những đề xuất cần thiết về kế toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm may mặc tại các doanh nghiệp may xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc giang?
Các định hướng nghiên cứu tiếp theo?
14
1.6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
1.6.1 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của luận văn, tôi chỉ đi sâu nghiên cứu về công tác kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo quan điểm của kế toán tài chính tại các danh
nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang áp dụng chế độ
kế toán theo QĐ15/2006 của Bộ Tài chính.
Thời gian nghiên cứu để viết luận văn: Từ tháng 06/2011 – tháng 09/2011.
Thời gian số liệu nghiên cứu: Số liệu của năm 2011 về kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm.
1.6.2 Giới hạn nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu có hạn do đó phạm vi của luận văn tập trung vào nghiên
cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc tại hai công ty may
xuất khẩu là Công ty Cổ phần may Xuất khẩu Hà Bắc và công ty Cổ phần may xuất

các khoản trích theo lương) và lao động vật hóa (nguyên vật liệu, nhiên liệu, khấu hao
tài sản cố định ) mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh trong một thời kỳ nhất định.
Theo chuẩn mực kế toán số 02 Chi phí sản xuất được định nghĩa như sau:
Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến
sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định và
chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển hóa nguyên liệu, vật
liệu thành thành phẩm
2.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất:
+ Phân loại chi phí theo yếu tố (nội dung kinh tế): Chi phí sản xuất được phân
thành 5 yếu tố :
Chi phí nguyên vật liệu : Bao gồm giá trị của nguyên vật liệu, nhiên liệu, phụ
tùng thay thế, công cụ dụng cụ xuất dùng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ báo cáo trừ
nguyên vật liệu xuất bán hoặc xuất cho xây dựng cơ bản.
16
Chi phí nhân công : Bao gồm toàn bộ chi phí phải trả cho người lao động về tiền
lương, tiền công, phụ cấp có tính chất lương và các khoản trích theo lương trong kỳ
báo cáo.
Chi phí khấu hao tài sản cố định : Là toàn bộ các khoản trích khấu hao tài sản cố
định của DN dùng trong sản xuất kinh doanh kỳ báo cáo.
Chi phí dịch vụ mua ngoài : Gồm các khoản chi phí phải trả cho công ty điện lực,
điện thoại, nước, vệ sinh và các dịch vụ khác. Đối với doanh nghiệp sản xuất chỉ tiêu
này có thể được kết hợp với chỉ tiêu chi phí khác bằng tiền.
Chi phí khác bằng tiền : Bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh khác, chưa
được phản ánh trong các chi tiêu trên đã chi bằng tiền trong kỳ báo cáo như tiếp khách,
lệ phí, hội nghị, thuê quảng cáo v.v
+ Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục (công dụng kinh tế và địa điểm)
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được xếp thành một số khoản mục nhất
định có công dụng kinh tế khác nhau để phục vụ cho yêu cầu tính giá thành và phân
tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành. Theo quy định hiện nay chi phí sản xuất

việc phục vụ cho công tác tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
+ Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ
với đối tượng chịu chi phí thì chi phí sản xuất được chia thành:
Chi phí trực tiếp: là những chi phí có thể dễ dàng nhận ra và hạch toán một cách
trực tiếp vào quá trình sản xuất ra sản phẩm hay cung cấp dịch vụ. Chi phí trực tiếp là
chi phí bắt buộc phải ghi nhận.
Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan gián tiếp đến quá trình sản xuất,
cung cấp dịch vụ. Các chi phí gián tiếp có thể phân bổ tùy mức độ nhận thức và cách
hoạch định của mỗi doanh nghiệp.
+ Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất, chi phí sản xuất được chia thành:
Chi phí bất biến: là các khoản chi phí thường không thay đổi trong phạm vi giới
hạn của quy mô hoạt động, nhưng chi phí trung bình của một đơn vị hoạt động thì thay
đổi tỷ lệ nghịch với mức biến động của mức hoạt động. Chi phí cố định không thay
đổi về tổng số trong phạm vi phù hợp của mức độ hoạt động, nhưng nếu mức độ hoạt
động tăng vượt quá phạm vi phù hợp đó thì chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất
sẽ tăng vì phải đầu tư thêm máy móc thiết bị sản xuất.
Chi phí khả biến: Chi phí khả biến là các chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự
thay đổi của mức độ hoạt động. Tuy nhiên có loại chi phí khả biến tỷ lệ thuận trực tiếp
18
với biến động của mức hoạt động như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao
động trực tiếp nhưng có chi phí khả biến chỉ thay đổi khi mức hoạt động thay đổi
nhiều và rõ ràng như chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết
bị Biến phí rất đa dạng, tuỳ thuộc vào từng loại hình sản xuất- kinh doanh, từng phạm
vi, mức độ hoạt động, quy trình sản xuất của từng doanh nghiệp.
Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của chi phí
bất biến và chi phí khả biến. Yếu tố bất biến của chi phí hỗn hợp thường phản ánh chi
phí căn bản, tối thiểu để duy trì và luôn luôn ở tình trạng s¢n sàng phục vụ. Yếu tố khả
biến thường phản ánh chi phí thực tế hoặc chi phí sử dụng quá định mức.
2.1.2. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm
2.1.2.1. Khái Niệm

+ Theo phạm vi và các chi phí cấu thành
Giá thành sản xuất sản phẩm: Giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi
phí liên quan đến quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm như: chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm đã sản
xuất hoàn thành.
Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: Bao gồm giá thành sản xuất tính cho số sản
phẩm tiêu thụ cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong
kỳ tính cho số sản phẩm này.
2.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối liên hệ mật thiết với nhau, có
nguồn gốc giống nhau nhưng cũng có những điểm khác nhau :
Chi phí sản xuất được tính trong phạm vi giới hạn của từng kỳ nhất định (tháng,
quý, năm) không tính đến chi phí đó có liên quan đến số sản phẩm đã hoàn thành hay
chưa.
Giá thành sản phẩm là giới hạn số chi phí sản xuất liên quan đến khối lượng sản
phẩm, lao vụ hoàn thành. Giá thành sản phẩm liên quan đến chi phí sản xuất kỳ trước
chuyển sang, chi phí phát sinh kỳ này và số chi phí kỳ này chuyển sang kỳ sau.
Về mặt bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm là biểu hiện hai
mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về chất vì đều cùng biểu
hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp
20
đã bỏ ra, nhưng khác nhau về mặt lượng. Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn cho
chúng một thời kỳ nhất định, không phân biệt là cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành
hay chưa, còn khi nói đến giá thành sản xuất sản phẩm là xác định một lượng chi phí
sản xuất nhất định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định.
Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một trong những chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất luôn gắn liền với
việc sủ dụng vật tư, tài sản, mặt khác chi phí sản xuất là cơ sở tạo nên giá thành sản
phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau khi có sản phẩm dở

hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác.
21
Như vậy, chuẩn mực đã quy định rõ ràng về các yếu tố chi phí. Và với nghị định
164/2003-NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật thuế Thu nhập doanh nghiệp và thông
tư 128/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành nghị định 164/2003-NĐ-CP đã cụ thể hóa
nguyên tắc chi phí phải phù hợp với doanh thu. Theo đó thì chỉ có các khoản chi phí
hợp lý mới được trừ để tính thu nhập chịu thuế, đối với chi phí sản xuất cụ thể bao
gồm:
Chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ với mức trích khấu hao được tính vào chi phí hợp lý theo quyết định của Bộ
trưởng Bộ Tài chính về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ.
Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa sử dụng vào sản
xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ liên quan đến doanh thu và thu nhập chịu thuế
trong kỳ tính theo định mức tiêu hao vật tư hợp lý và giá thực tế xuất kho. Theo chuẩn
mực kế toán số 02 “ Hàng tồn kho”: khi bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đã
bán được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên
quan đến chúng được ghi nhận
Chi phí tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp; tiền ăn giữa ca theo quy định
của Bộ Luật lao động.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Điện; nước; điện thoại, tiền thuê thiết kế.
Các khoản chi phí sản xuất ngoài định mức tiêu hao hợp lý không được tính vào
chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm.
Nguyên tắc thận trọng:
Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế
toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;
Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;
Chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
Các khoản chi phí được ghi nhận ngay tại thời đểm phát sinh chi phí. Khi xuất

trình sản xuất ra sản phẩm như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh
trong quá trình chuyển hoá nguyên vật liệu thành thành phẩm.
23
Chi phí NVLTT sản xuất sản phẩm bao gồm chi phí NVL xuất kho và chi phí
NVL mua ngoài phụ vụ cho sản xuất sản phẩm. Chi phí NVL xuất kho chịu sự chi
phối bởi phương pháp tính giá xuất kho NVL sản phẩm cụ thể mỗi đơn vị áp dụng.
Phân bổ chi phí sản xuất:
Phương pháp trực tiếp: Phương pháp này áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên
quan trưc tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất chi phí riêng biệt.
Kế toán tổ chức ghi chép ban đầu theo đúng đối tượng từ đó tập hợp số liệu từ
các chứng từ kế toán theo từng đối tượng và ghi trực tiếp vào các tài khoản chi tiết
theo đối tượng.
Phương pháp phân bổ gián tiếp: Phương pháp áp dụng đố với chi phí sản xuất có
liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất không thể tổ chức ghi chép ban
đầu riêng theo từng đối tượng tập hợp chi phí.
2.2.1.3 Chuẩn mực kế toán số 03 (VAS 03): Tài sản cố định
Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn
tiêu chuẩn ghi nhận sau:
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm;
Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
TSCĐ hữu hình được phân loại theo nhóm tài sản có cùng tính chất và mục đích
sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, gồm: Nhà cửa, vật
kiến trúc; Máy móc, thiết bị; Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; Thiết bị, dụng cụ
quản lý; Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm; TSCĐ hữu hình khác.
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống
trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng. Phương pháp khấu hao phải phù hợp với
lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp.

khi có sự xung đột giữa các chuẩn mực cụ
thể và quy định chung thì thực hiện theo
các chuẩn mực cụ thể
Việc áp dụng các quy định chung
Các quy định chung được xây dựng
thành một chuẩn mực.Trường hợp có
sự xung đột giữa các chuẩn mực cụ thể
và chuẩn mực chung thì áp dụng theo
chuẩn mực cụ thể. Trường hợp chuẩn
mực kế toán cụ thể chưa quy định thì
thực hiện theo Chuẩn mực chung.
Thu nhập và chi phí
Việc đánh giá lại và trình bày lại số dư Tài
Thu nhập và chi phí
Không đề cập vấn đề này.
25

Trích đoạn Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của các công ty Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của các công ty Đặc điểm kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm Đối tượng tính giá thành, Kỳ tính giá thành Phương pháp hạch toán nghiệp vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status