Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới hiện nay đang ở trong thời kỳ có những chuyển biến mới mẻ, mau lẹ, đột biến cả
về kinh tế, chính trị, văn hóa và khoa học kỹ thuật. Những nhân tố quan trọng nhất quyết
định sự phát triển chính là những thành tựu to lớn về khoa học công nghệ, tin học, công
nghệ sinh học, vật liệu mới… Những đóng góp to lớn của những thành tựu này trong mọi
lĩnh vực của đời sống đã hình thành nên nền sản xuất hiện đại, mà trong đó lao động cơ
bắp của con người chỉ chiến một phần nhỏ.
Nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu
đưa đất nước phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nghị quyết
trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: “ Thực sự coi giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ là
quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước thời kỳ công nghiệp
hóa- hiện đại hóa đất nước. Xây dựng con người phát triển toàn diện - nhân tố phát triển
của xã hội thế kỷ 21 là mục tiêu cao cả mà cách mạng nước ta hướng tới.”
Việt Nam sẽ sớm chuyển sang giai đoạn mới của công nghiệp hóa trong những năm tới và
đòi hỏi nhiều nguồn lực cho phát triển. Phát triển nguồn nhân lực tương xứng với yêu cầu
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước đang là vấn đề trung tâm. Kinh nghiệm thành
công của các nước đang phát triển trong thế kỷ XX cho thấy vai trò thiết yếu của việc đầu
tư phát triển nguồn nhân lực một cách chiến lược. Điều đó có nghĩa là nguồn nhân lực
trong nước phải đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các công ty trong nước và nước
ngoài, của các ngành và nền kinh tế ở các mức độ phát triển khác nhau. Bên cạnh đó,
những thay đổi mạnh mẽ của môi trường kinh doanh thế giới đem lại những bối cảnh phát
triển mới cho những nước đang phát triển trong thể ký XXI với nhiều khó khăn và thách
thức hơn.
Con người, nguồn nhân lực đã trở thành mục tiêu của sự phát triển, là yếu tố cơ bản nhất
quyết định sự phát triển. Một câu hỏi đặt ra cho Việt Nam và các nước đang phát triển là:
“Làm thế nào để phát triển nguồn nhân lực và đầu tư bao nhiêu, đầu tư như thế nào cho
nguồn nhân lực là phù hợp?”.
Nhóm 15
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.2.1. Nhóm chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực.
Một người có sức khoẻ không đơn thuần là người đó không có bệnh tật. Sức khoẻ theo
định nghĩa chung nhất chính là trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần, là tổng hoà nhiều
yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.
Chúng ta có thể đánh giá tình trạng sức khoẻ qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Tuổi thọ bình quân.
- Chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động.
- Chỉ tiêu phân loại sức khoẻ.
- Chỉ tiêu dân số trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động và suy giảm sức khoẻ.
- Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế, bệnh tật: tỉ suất chết, tỉ suất dân số trong độ tuổi bị mắc
HIV/AIDS…
2.2.2.Chỉ tiêu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực.
Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực,
và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trình độ văn hoá cao tạo
khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào
thực tiễn. Những chỉ tiêu đó là:
- Tỉ lệ người lớn biết chữ.
- Tỉ lệ đi học chung.
- Tỉ lệ đi học ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kĩ thuật của nguồn nhân lực.
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó( nó biểu
hiện trình độ đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học), có khả
năng chỉ đạo quản lý một công việc chuyên môn nhất định. Do đó, trình độ chuyên môn
của nguồn nhân lực được đo bằng:
- Tỉ lệ cán bộ tổ chức.
- Tỉ lệ cán bộ cao đẳng, đại học
Nhóm 15
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Tỉ lệ cán bộ trên đại học.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khai thác hợp lý sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển, nhất là với những quốc
gia đang phát triển, có dân số đông và nguồn nhân lực dồi dào như nước ta hiện nay.
3.2. Nguồn nhân lực là đối tượng mà sự phát triển kinh tế xã hội phải hướng vào
phục vụ
Phát triển kinh tế xã hội cũng chính là nhằm mục tiêu phục vụ con người, làm cho cuộc
sống của con người ngày càng tốt hơn. Con người vừa là lực lượng tiêu dùng của cải vật
chất tinh thần của xã hội, nhưng cũng chính nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động
mạnh mẽ tới sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường. Nhu cầu của
con người là vô hạn và ngày càng phong phú, đa dạng. Chính vì vậy nó đã tác động không
nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế và xã hội.
B - Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
1.Quan điểm về đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn hiện tại để tiến hành
các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản mới, năng lực sản xuất mới, vì
mục tiêu phát triển.
Tài sản mới bao gồm tài sản vật chất (Nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, trí
năng, chuyên môn nghiệp vụ…).
Đầu tư phát triển bao gồm:
- Đầu tư tài sản vật chất (Tài sản thực)
- Đầu tư phát triển tài sản vô hình.
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội dung của đầu tư phát triển những
tài sản vô hình. Nó cũng là việc chi dùng vốn hiện tại, tiến hành các hoạt động làm tăng
quy mô và chất lượng nguồn nhân lực, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một quốc
gia.
2.Nội dung của đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng việc
phát triển mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia. Gia nhập WTO không lâu,
Việt Nam gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít thách thức trên con đường phát triển.
( hình thức tín chỉ), giúp sinh viên có thể chủ động hơn trong cách dạy và học. Trường đại
học Xây Dựng hay đại học Kinh Tế Quốc Dân là những ví dụ điển hình cho hình thức đào
tạo này.
2.1.2. Đầu tư cho việc đào tạo đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy học.
Đại hội Đảng cũng đã nhấn mạnh: “Coi đầu tư cho giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Vấn
đề là làm thế nào để có chất lượng giáo dục tốt đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Trước hết phải có một đội ngũ giáo viên nhiệt tình, giàu kinh nghiệm và có chuyên môn sư
phạm cao. Họ là những người hướng dẫn và truyền đạt kiến thức cơ bản cho mỗi học viên
tham gia khoá học. Nhà nước cần chú trọng hơn nữa trong việc nâng cao chuyên môn
nghiệp vụ của đội ngũ này, đặc biệt là đội ngũ giáo viên mới ra trường.
Nhóm 15
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phuơng pháp giáo dục hay còn gọi là phương pháp giảng dạy là cách thức sử dụng các
nguồn lực trong giáo dục như: giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật
chất để truyền đạt kiến thức cho người học.
Ở nước ta hiện nay đã hình thành và phát triển nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau
như
- Phương pháp giáo dục truyền thống: Giáo viên độc thoại, chủ động truyền đạt kĩ năng
còn người học tiếp thu kiến thức một cách thụ động. Giáo viên đọc, học sinh chép và hầu
như chỉ học lượng kiến thức mà giáo viên cho ghi, hoàn toàn không có sự sáng tạo.
- Phương pháp giáo dục hiện đại: Giáo viên là người thiết kế tổ chức còn bản thân học sinh
là người tự tìm hiểu kiến thức. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn còn học viên phải tự học
hỏi, tự tìm tòi qua sách báo và các phương tiện khác. Theo phương pháp này thì học sinh
chủ động hơn trong cách học, vì vậy tăng khả năng sáng tạo, tìm tòi của học sinh, sinh
viên.
Tuy nhiên ở nước ta thì phương pháp giáo dục truyền thống vẫn phổ biến hơn cả. Chúng ta
đã đang và dần dần thay chuyển đổi sang phương pháp học mới nhưng còn gặp nhiều khó
khăn và tồn tại không ít những bất cập. Phương pháp giảng dạy kiểu mới có nhiều ưu điểm
nhưng đòi hỏi sự hoàn thiện về cơ sở vật chất nên rất cần sự đầu tư nhiều hơn nữa của
thường xuyên; trung tâm học tập cộng đồng.
- Viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với
trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ.
Đầu tư cho giáo dục tại Việt Nam tăng dần hàng năm. Ngân sách dành cho giáo dục chiếm
một phần lớn trong tổng đầu tư của quốc gia. Điều đáng chú ý là ngân sách nhà nước dành
cho phát triển hệ thống trường đào tạo nghề tăng lên rõ rệt. Việt Nam ngày càng coi đào
tạo nghề là bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực và lực lượng lao động xã hội. Điều này
cũng phản ánh qua chiến lược Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa là phải đẩy mạnh giáo dục
đào tạo, trong đó có đào tạo kỹ thuật và dạy nghề. Các dự án ODA trong giáo dục đào tạo
cũng đã dành phần lớn cho giáo dục cơ bản, giáo dục đại học và đang được triển khai với
vốn vay từ các tổ chức tính dụng quốc tế như Ngân hàng thế giới (World Bank), ngân hàng
phát triển Châu Á (ADB).. để mở rộng và nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục đào
tạo của Việt Nam. Điển hình là các dự án tài trợ của ADB cho hệ thống giáo dục cơ bản.
Việt Nam đang tiến hành một dự án đặc biệt "Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ có hoàn cảnh
khó khăn" với khoản kinh phí lớn nhằm tạo mọi cơ hội, điều kiện cho những trẻ có hoàn
cảnh khó khăn được đi học.
2.2. Đầu tư cho công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ.
Chăm sóc sức khoẻ là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng quan
hệ với nhau thông qua giá dịch vụ. Tuy nhiên khác với một số ngành dịch vụ khác, chăm
sóc sức khoẻ có nhiều đặc điểm riêng:
- Chúng ta không thể lường trước được các chi phí y tế phải trả vì chúng ta không thể dự
đoán được thời kì mắc bệnh, đặc biệt thể trạng của mỗi người là khác nhau, do đó nguy cơ
mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cũng khác nhau.
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng thường không tự mình lựa chọn được mà
chủ yếu do các cơ sở y tế quy định.
Nhóm 15
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con người nên không
giống với các nhu cầu khác, khi có bệnh, mặc dù tài chính eo hẹp nhưng người ta vẫn phải
Nhóm 15
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Đảm bảo cho mọi người dân được tiếp cận một cách thuận lợi với các dịch vụ chăm sóc
chất lượng tại các bệnh viện.
- Đảm bảo tính hệ thống và liên tục trong điều trị chuyên môn, từ cấp cơ sở đến cấp TW,
phát triển cân đối hợp lý giữa bệnh viện đa khoa va chuyên khoa theo hướng chuyên sâu.
- Nâng cấp chất lượng dịch vụ, đầu tư vào các trang thiết bị mới, đáp ứng nhu cầu khám
chữa bệnh của người dân.
Theo vùng lãnh thổ hệ thống bệnh viện được phân bổ rộng rãi trên cả nước, bao gồm các
bệnh viện công lập, tư nhân. Nhà nước ngày càng khuyến khích việc hình thành và phát
triển các bệnh viện theo hướng đa dạng hoá các loại hình khám chữa bệnh, khuyến khích
thành lập các bệnh viện bán công, dân lập, tư nhân có vốn đầu tư nước ngoài nhưng bệnh
viện công lập vẫn giữ vai trò chủ đao.
2.2.2. Đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế chăm sóc sức khoẻ.
Trang thiết bị y tế là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả và chất lượng
của công tác y tế, do vậy cần được tăng cường cả về số lượng và chất lượng của các thiết
bị này; bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng cho
các hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khoẻ.
Việc đầu tư vào lĩnh vực này cần chú ý đến những nội dung sau:
- Trang thiết bị y tế là lĩnh vực chuyên dụng và rất đắt tiền đòi hỏi yêu cầu khắt khe về kĩ
thuật, vì vậy cần có kinh phí lớn thì mới có được sự đầu tư hiệu quả.
- Đầu tư phải trọng tâm trọng điểm nhằm đạt được hiệu quả, khoa học và kinh tế. Xây
dựng kế hoạch đầu tư theo chiều sâu, đổi mới công nghệ sản xuất trang thiết bị y tế trong
nước có ưu thế.
- Tạo môi trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu khoa học và công
nghệ thuộc các ngành, các địa phương tham gia sản xuất trang thiết bị y tế. Khuyến khích
dung sản phẩm trong nước, giảm dần nhập khẩu.
- Có chính sách khuyến khích ưu tiên đối với việc cử cán bộ đi đào tạo về nghiên cứu sản
xuất trang thiết bị trong nước.
Nghiên cứu vấn đề này chúng ta sẽ đề cập đến các nội dung cơ bản sau:
2.3.1. Đầu tư cải thiện điều kiện lao động.
Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố tự nhiên, xã hội và kinh tế được biểu hiện thông
qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi
trường lao động và sự sắp xếp bố trí chúng trong không gian và thời gian xác định. Sự tác
động qua lại giữa chúng trong mối quan hệ với người lao động tại chỗ làm việc tạo nên
một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động.
Trong phần này chúng ta sẽ đề cập tới 3 vấn đề, đó là bảo hộ lao động, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp.
- Bảo hộ lao động: là tổng hợp tất cả các hoạt động trên mặt luật pháp,kinh tế xã hội…
nhằm mục đích cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, đảm bảo an toàn sức khoẻ cho người lao động.
Nhóm 15
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nội dung chủ yếu của bảo hộ lao động là an toàn lao động, vệ sinh lao động và cả những
vấn đề về chính sách đối với người lao động ( vấn đề lao đông nghỉ ngơi, vấn đề lao động
nữ, vấn đề bồi dưỡng độc hại). Biết được điều này chúng ta cần có chính sách đầu tư đúng
đắn nhằm nâng cao công tác bảo hộ cho người lao động.
- Tai nạn lao động: là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động do kết quả của sự tác động từ
bên ngoài của các yếu tố nguy hiểm gây chết người hoặc làm tổn thương chức năng hoạt
động của một bộ phận nào đó trên cơ thể.
Tai nạn lao động không chỉ ảnh hưởng đên điều kiện vật chất mà còn ảnh hưởng đến tinh
thần của người lao động, gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất của doanh nghiệp. Vì thế nhà
nước và doanh nghiệp cần có những biện pháp thích hợp để hạn chế tối đa việc xảy ra tai
nạn lao động.
- Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do ảnh hưởng và tác động thường xuyên kéo dài của
các yếu tố có hại phát sinh trong sản xuất lên cơ thể người lao động. Những người làm việc
trong môi trường độc hại, ô nhiễm thường mắc phải bệnh nghề nghiệp. Để hạn chế vấn đề
này nhà nước và các doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác bảo hộ cho người lao động và
nguồn nhân lực.
Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn đầu tư trong nước và vốn
đầu tư nước ngoài.Vậy yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thu hút vốn trong nền kinh tê?
- Năng lực tăng trưởng kinh tế: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thu hút vốn. Yếu
tố tăng trưởng ở đây được nhìn nhận như một yếu tố tạo sức hấp dẫn ngày càng lớn đối với
vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài. Vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu quả thì khả
năng thu hút nó càng lớn. Khi năng lực tăng trưởng được đảm bảo năng lực tích luỹ của
nền kinh tế sẽ gia tăng, khi đó quy mô nguồn vốn trong nước sẽ được cải thiện, đồng thời
đó cũng là tín hiệu tốt thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài.
- Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô: Đây là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành
vi đầu tư. Để thu hút được các nguồn vốn đầu tư nhằm ngày càng đáp ứng tốt hơn các yêu
cầu phát triển của đất nước phải đảm bảo nền kinh tế đó trước hết là nơi an toàn cho sự vận
động của nó và sau nữa là nơi có khả năng sinh lợi cao. Nhắc đến môi trường kinh tế vĩ mô
chúng ta phải đề cập đến các yếu tố:thuế và các công cụ tài chính, lãi suất và tỉ giá hối
đoái, ổn định giá trị tiền tệ
- Lãi suất và tỉ giá hối đoái: đây là yếu tố không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động thu hút vốn
đầu tư mà còn ảnh hưởng đến dòng chảy của các nguồn vốn và mức lợi nhuận thu được tại
một thị trường xác định.Lãi suất càng cao tiềm năng của các nguồn vốn đầu tư càng lớn.
Đối với tỉ giá hối đoái, thực tế cho thấy giá đồng nội tệ càng giảm khả năng thu lợi từ đồng
nội tệ càng lớn. Điều này sẽ khuyến khích các nhà sản xuất đầu tư vào hàng xuất khẩu, và
như vậy thì sức hấp dẫn vốn nươc ngoài sẽ càng lớn.
Thuế và các công cụ tài chính khác là một trong những chính sách quan trọng ảnh hưởng
đến khuyến khích đầu tư và tái đầu tư từ lợi nhuận. Ở nước ta ảnh hưởng của thuế thu nhâp
doanh nghiệp đến đầu tư chưa được thể hiện rõ nét, nhưng với các nước thu nhập cao trên
thế giới đây là yếu tố khá quan trọng khi các doanh nghiệp tiến hành đầu tư.
3.2.Các chính sách của nhà nước cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Các chính sách của nhà nước có ảnh hưởng lớn tới các hoạt động đầu tư nói chung và đầu
tư cho nguồn nhân lực nói riêng, bao gồm các chính sách đầu tư cho giáo dục, y tế, môi
trường, điều kiện làm việc…,chính sách thu hút vốn hiệu quả. Chính sách của nhà nước có
Nhóm 15
vực kinh tế, xã hội của đất nước. Trước những đòi hỏi và yêu cầu mới phát triển đất nước,
với vai trò là một trong những nhân tố quyết định nhất và là chủ thể thực hiện các sứ mạng
lịch sử của đất nước, một câu hỏi lớn thường đặt ra là làm thế nào để nguồn nhân lực Việt
Nam có đủ trình độ, năng lực và sức mạnh để đẩy nhanh công cuộc đổi mới nhằm phát
triển đất nước nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế có hiệu quả trong điều kiện khoa học-
công nghệ tiến nhanh, hình thành nền kinh tế tri thức và cạnh tranh khu vực và toàn cầu
ngày càng gay gắt. Được như vậy, cần phải có cách nhìn thẳng thắn và khách quan về
những đặc điểm thực trạng đầu tư phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam và có những
phương hướng và giải pháp đúng đắn, hiệu quả để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
nước ta.
1. Đầu tư phát triển giáo dục đào tạo
1.1.Xét trên tầm vĩ mô
Nhóm 15
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Biểu đồ 1: Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục qua các năm
(Nguồn: Nhandan.com.vn)
Theo biểu đồ 1, có thể thấy tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục có chiều hướng tăng
lên qua các năm: năm 1997 là 12,8%, năm 2003 là 16,2%, năm 2004 là 17,1%, và đạt 20%
vào năm 2007. Đặc biệt là chi phí của chính phủ Việt Nam tăng hơn gấp đôi từ 1998 đến
2003: năm 1998 là 11 nghìn tỷ đồng, năm 2001 là 19,7 nghìn tỷ đồng; năm 2003 là 27,2
nghìn tỷ đồng. Như vậy, có thể nói, đây là sự nỗ lực, cố gắng lớn của Chính phủ tăng các
chi phí dành cho giáo dục, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Trong đó một phần
lớn được ưu tiên đầu tư tăng cường cơ sở vật chất cho các trường. Chế độ, chính sách,
lương và phụ cấp của giáo viên những năm vừa qua cũng đã có sự cải tiến, điều chỉnh lên
mức cao nhất trong khu vực hành chính sự nghiệp, cải thiện đáng kể thu nhập, giúp họ
phấn khởi, yên tâm phục vụ sự nghiệp giáo dục. Các chính sách khuyến khích đối với sinh
viên giỏi, sinh viên nghèo vượt khó cũng đã được áp dụng như: chế độ học bổng cho các
đối tượng thuộc chính sách xã hội, học bổng cho các sinh viên học giỏi, thực hiện tín dụng
dụng tài chính giáo dục.
Nhà nước có chính sách cho cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn để trang trải các chi phí
tối thiểu cho học tập như học phí, sách vở và ăn ở. Với chính sách đổi mới mức thu học phí
và cho vay tín dụng đối với học sinh, sinh viên, nhà nước sẽ tiết kiệm được một phần ngân
sách để đầu tư cho các trường về cơ sở vật chất hoặc đầu tư trong những lĩnh vực đào tạo
cần có sự ưu tiên. Chỉ khi cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư tốt, giáo viên
có điều kiện nâng cao trình độ, khi đó mới có đủ điều kiện tối thiểu đáp ứng nhu cầu của
doanh nghiệp. Cần nhắc lại rằng, với mức đầu tư thấp như hiện nay, nhà trường không thể
có được những sản phẩm được đào tạo tốt, đáp ứng nhu cầu của thế giới việc làm. Suất đầu
tư trên một sinh viên thấp không những làm suy giảm chất lượng đào tạo mà còn kéo theo
một hệ lụy nữa là hiệu quả, hiệu suất đào tạo thấp và mất công bằng trong xã hội.
Với quan điểm GD&ĐT phải là “bạn đồng hành” của doanh nghiệp, Bộ GD&ĐT ủng hộ
và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp gặp gỡ, tìm đối tác liên kết đào tạo, tháo gỡ những
vướng mắc, điều phối sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường. Đào tạo nhân lực cho
những doanh nghiệp có vốn đầu tư trên 1 tỷ USD, nhà nước cam kết hỗ trợ các trường (bồi
dưỡng giáo viên, nâng cấp trang thiết bị, cho vay vốn…) đào tạo theo tiêu chuẩn của
doanh nghiệp, đồng thời doanh nghiệp cần thông báo sớm về nhu cầu đào tạo, tuyển dụng,
mức lương dự kiến trả cho người lao động sau khi tốt nghiệp.
Tổng chi ngân sách cho giáo dục đào tạo năm 2006 so với 2005 là tăng 33%. Đây là mức
tăng cao thể hiện sự quan tâm rất lớn cho giáo dục đào tạo, tạo nhiều điều kiện thuận lợi
cho ngành. Mặc dù tăng nhiều nhưng vẫn chưa đủ bởi khoảng hơn 10 tỷ dành cho bù đắp
phần lương mới.
Có thể nói chiếm một phần đáng kể trong việc tăng ngân sách là để giải quyết vấn đề tiền
lương, phần giải quyết nhiệm vụ khác còn lại không bao nhiêu. Trong khi đó, những mục
tiêu như phát triển giáo dục tiểu học, giáo dục vùng dân tộc hải đảo đã có kết quả to lớn
nhưng phần còn lại rất nặng nề và khó khăn đòi hỏi kinh phí nhiều; nhiệm vụ phát triển
ĐBSCL, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc cũng đặt ra những nhu cầu rất lớn về kinh phí.
Ngoài ra, việc đổi mới phương pháp giảng dạy cũng đòi hỏi đầu tư phương tiện; thực hiện
chỉ thị hoàn thiện đội ngũ cán bộ giảng dạy... cũng đòi hỏi chi phí lớn.
Tháng 8/2007, tại Hà Nội đã diễn ra lễ khởi động dự án Giáo dục Trung học cơ sở (THCS)
hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách.
Các loại hình cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:
- Cơ sở giáo dục mầm non công lập bao gồm các trường, lớp giáo dục mầm non do ngân
sách nhà nước đảm bảo cho đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên và kinh
phí hoạt động. Cơ sở giáo dục mầm non công lập được xây dựng chủ yếu ở các xã có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ở miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa trong
danh mục được Thủ tướng Chính phủ quy định.
- Cơ sở giáo dục mầm non bán công bao gồm: Các cơ sở giáo dục mầm non do Nhà nước
đầu tư cơ sở vật chất ban đầu, các cơ sở giáo dục mầm non ở vùng nông thôn trước đây do
hợp tác xã nông nghiệp đầu tư nay do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trực tiếp quản
lý và hoạt động trên cơ sở tự quản lý về tài chính, nhân lực hoặc được ngân sách địa
phương hỗ trợ cần thiết để bảo đảm chất lượng giáo dục. Cơ sở giáo dục mầm non bán
công được xây dựng chủ yếu ở vùng nông thôn không thuộc diện nêu trên và ở các địa bàn
có mức sống thấp của thành phố, thị xã, thị trấn;
- Cơ sở giáo dục mầm non dân lập bao gồm các trường, lớp mầm non do tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế được phép thành lập, đầu tư bằng vốn ngoài ngân
sách nhà nước. Khuyến khích việc lập trường, lớp mầm non dân lập, tư thục ở thành phố,
thị xã, thị trấn, khu công nghiệp và những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển;
Nhóm 15
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Cơ sở giáo dục mầm non tư thục bao gồm các trường, lớp mầm non do cá nhân hoặc một
nhóm cá nhân được phép thành lập và đầu tư.
Về chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo biên soạn và
hướng dẫn thực hiện. Chương trình phải phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi
trước tiểu học; tạo cơ sở để trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm
mỹ và hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách; là cầu nối giữa mẫu giáo với lớp
một.
Về chế độ chính sách đối với giáo viên mầm non, giáo viên hợp đồng được hưởng chế độ
tiền lương, các khoản phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, học tập, bồi dưỡng
Nhóm 15
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phát triển vững chắc: có 256 trường mầm non; số trẻ trong độ tuổi ra nhà trẻ đạt 48,56%,
mẫu giáo đến trường đạt 93%; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở các độ tuổi giảm; 100% trẻ trong
các trường được học theo đúng chương trình quy định; đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
Mầm non được củng cố, bảo đảm về số lượng, chuẩn hóa về trình độ đào tạo. Từ nguồn hỗ
trợ của tỉnh, cộng với học phí được thu theo thỏa thuận với cha mẹ học sinh, mức thu nhập
của giáo viên ngoài công lập đã đạt khoảng 450.000 đ/tháng đến 800.000đ/tháng. Giáo
viên mầm non nghèo được hỗ trợ xây dựng nhà ở từ quỹ “Vòng tay đồng nghiệp”. Việc
xây dựng trường, lớp, mua sắm trang thiết bị cho giáo dục Mầm non cũng được đầu tư
đáng kể. Kết thúc năm học 2006- 2007 đã có 136 trường mầm non được xây dựng kiên cố,
90% trường có đủ nước sạch. Việc xây dựng các trường đạt chuẩn quốc gia được các địa
phương hưởng ứng mạnh mẽ, đã có 57 trường đạt chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, vẫn tồn tại
lớp lẻ, lớp ghép, có nơi còn học nhờ nhà dân, ảnh hưởng tới chất lượng nuôi dạy và chăm
sóc trẻ. Chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên ngoài công lập thuộc ngành học này
chênh lệch quá lớn so với giáo viên trong biên chế nhà nước.
Ở Đăknông,
năm học 2003 – 2004, trong khi tỷ lệ trẻ được đến lớp mẫu giáo tại vùng kinh
tế - xã hội phát triển là 47% thì ở các vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tỷ lệ này chỉ
là 19%. Toàn tỉnh chỉ có 29 trường mẫu giáo, mầm non với tổng số 322 phòng học. Tuy
nhiên, có tới 61 phòng mượn, 119 phòng học tạm và 142 phòng học cấp 4. Các lớp mẫu
giáo phải nhờ cơ sở vật chất của các trường tiểu học hoặc mượn hội trường. Cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ việc chăm sóc và giáo dục trẻ của hầu hết các cơ sở giáo dục
mầm non vừa đơn điệu, lại xuống cấp.Giai đoạn
2005 – 2007, xây dựng thêm 200 phòng
học mới để thành lập thêm 41 trường mầm non; Cấp bổ sung thiết bị đồ chơi cho 32
trường; Tổ chức bồi dưỡng cho 30 cán bộ quản lý và chuẩn hóa trình độ cho trên 90% giáo
viên; Huy động 8% trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ; 45% trẻ trong độ tuổi mẫu giáo đến
trường... Toàn tỉnh có 65,4% trẻ từ 3 – 5 tuổi, 87,5% trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo. Đội ngũ
chiếm 97% (toàn quốc dưới 30%); 15 trường tiểu học đạt chuẩn mức II và vào năm học
mới 2008-2009 có thêm 7 trường đạt chuẩn mức II. Tỷ lệ phòng học kiên cố tính đến hết
năm học 2007-2008 là trên 90%; số phòng học có bàn ghế đạt chuẩn (1-2 chỗ ngồi) 90%;
phòng học có bảng chống loá, điện chiếu sáng 100%; số trường có phòng Tin học 48...
Tại Hà Nội, đến năm 2005: phát triển 100% trường tiểu học và 50% trường trung học tổ
chức học sinh học tập và hoạt động cả ngày trong trường; phổ cập bậc trung học ở 12 quận
nội thành; đảm bảo giáo viên các bộ môn ở các cấp học, ngành học đáp ứng yêu cầu đồng
bộ tập thể sư phạm nhà trường..." Hoàn thành quy hoạch chi tiết mạng lưới trường học của
các quận, huyện; xây dựng cơ sở vật chất theo hướng kiên cố hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá.
Tiếp tục đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường nề nếp kỷ cương, ngăn chặn, khắc phục các
hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục... Năm học 2002-2003, thành phố đã huy động
được 1.361.632 học sinh đến trường (không kể khối dạy nghề), tăng 31.737 học sinh so
với năm học trước. Trong đó, học sinh tiểu học phổ thông cao nhất 422.517, học sinh giáo
dục trẻ khuyết tật thấp nhất 2.250 học sinh.”
Tại Tiền Giang, từng bước sẽ đầu tư máy vi tính cho các trường chuẩn quốc gia với
chương trình vui để học, học để vui. Tiền Giang đặc biệt quan tâm đến việc đổi mới
phương pháp giảng dạy và thời gian học tập của học sinh. Ðó là từng bước tổ chức giảng
dạy cấp tiểu học theo nhóm môn (thay kiểu dạy cũ là một thầy phụ trách một lớp, dạy
nhiều môn). Tỉnh đã thực hiện đại trà xong việc học sinh tiểu học học hai buổi/ ngày; đồng
thời cho trẻ tiếp cận học tiếng Anh ở bậc học này hai tiết học/ tuần. Sở Giáo dục và Ðào
tạo Tiền Giang kiến nghị Bộ cho phép bắt đầu dạy tiếng Anh cho trẻ lớp 1 và 2 dạy nghe
và nói, lớp 3 dạy viết nhằm hình thành các phản xạ ban đầu cho trẻ khi tiếp cận tiếng Anh.
Lộ trình của Tiền Giang học sinh học xong tiểu học là phải có chứng nhận trình độ ngoại
ngữ bằng A, trung học cơ sở bằng B. Một điểm sáng đáng ghi nhận nữa là Tiền Giang đã
tập trung đầu tư đưa công nghệ thông tin vào trường học, cũng như nâng cao trình độ tin
Nhóm 15
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
học cho giáo viên một cách căn cơ, đầy đủ và hiệu quả cao. Do đó, hiện nay tỉnh đã áp
dụng thành công việc giảng dạy bằng giáo án điện tử trong các trường học một cách hiệu
ĐH, trường CĐ, trong đó có 155 ĐH, Học viện, trường ĐH; 170 trường CĐ (gồm cả các
trường thuộc khối an ninh quốc phòng). Có 54 trường ĐH, CĐ ngoài công lập.Tổng số
sinh viên CĐ, ĐH năm 2006 – 2007 là 1.415.563 (tăng 10,21% so với năm 2005 – 2006).
Tỉ lệ sinh viên/giảng viên bình quân trung của cả hệ thống giáo dục ĐH năm học 2006 –
2007 là 27,15 sinh viên/1 giảng viên. Khối các trường ngoài công lập, bình quân 31,1 sinh
viên/giảng viên.
Chế độ, chính sách, lương và phụ cấp của giáo viên những năm vừa qua cũng đã có sự cải
tiến, điều chỉnh lên mức cao nhất trong khu vực hành chính sự nghiệp, cải thiện đáng kể
thu nhập, giúp họ phấn khởi, yên tâm phục vụ sự nghiệp giáo dục. Các chính sách khuyến
khích đối với sinh viên giỏi, sinh viên nghèo vượt khó cũng đã được áp dụng như: chế độ
học bổng cho các đối tượng thuộc chính sách xã hội, học bổng cho các sinh viên học giỏi,
thực hiện tín dụng sinh viên, miễn học phí cho các sinh viên theo học tại các trường sư
phạm.
Bộ Tài chính đề xuất về giải pháp cân đối ngân sách nhà nước, nên nghiên cứu xây dựng
cơ chế đấu thầu đặt hàng của Nhà nước đối với đào tạo ĐH, theo đó Nhà nước sẽ ban hành
các tiêu chí, tiêu chuẩn và yêu cầu về giáo dục đại học để tất cả các cơ sở GDĐH đều được
tham gia vào quy trình tuyển chọn, đấu thầu, qua đó lựa chọn được những cơ sở có
phương án đào tạo tốt nhất, hiệu quả nhất để giao kinh phí NSNN cho đào tạo, không phân
biệt trường công lập hay ngoài công lập. Huy động các nguồn lực từ xã hội, vay tín dụng
nước ngoài để bổ sung nguồn vốn cho phát triển GDĐT, xây dựng cơ sở vật chất cho các
trường ĐH, CĐ. Riêng chính sách về đất đai, Bộ TC đề nghị, các địa phương có nhiều khu
công nghiệp, khu kinh tế thì khi quy hoạch đất làm khu công nghiệp, khu kinh tế phải dành
một phần diện tích đất cho việc xây dựng trường, cơ sở đào tạo, không thu tiền thuê đất.
Dự án xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội ở Hoà Lạc trên diện tích 1.000 ha với tổng mức
đầu tư khoảng 7.300 tỷ đồng; dự án xây dựng Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh ở
Thủ Đức trên diện tích khoảng 600 ha với tổng mức đầu tư khoảng 6.800 tỷ đồng; các
trường đại học trọng điểm và nhiều trường đại học công lập khác cũng được đầu tư hàng
ngàn tỷ đồng để nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật. Dự án giáo dục đại học nhằm mục tiêu
nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học công lập bằng nguồn vốn vay khoảng
100 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới đã bước vào giai đoạn cuối; các thư viện, phòng thí
nước ta còn thấp. Có những nghiên cứu đã đưa ra con số chi phí trung bình cho 1 sinh
viên trong 1 năm ở Việt Nam hiện nay ước tính ở mức trên dưới 400 USD trong khi ở các
nước khoảng từ 2.000 đến 10.000 USD/năm.
Trong vòng 6 năm (2001-2006), số trường dạy nghề tăng từ 156 trường lên 262 trường; số
trung tâm dạy nghề tăng từ 150 trung tâm lên 599 trung tâm và đã phát triển được hơn
1000 cơ sở dạy nghề khác trên phạm vi toàn quốc. Số lượng cơ sở dạy nghề tư thục tăng
nhanh, đã có một số cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài. Cùng với đó, quy mô đào
tạo nghề tăng nhanh, giai đoạn 2001-2006 đã dạy nghề cho 6,6 triệu người (tăng bình quân
hàng năm 6,5%), trong đó dạy nghề dài hạn đạt 1,14 triệu người (tăng bình quân 15%/năm;
dạy nghề ngắn hạn đạt 5,46 triệu người (tăng bình quân gần 6%/năm). Quy mô dạy nghề
trong những năm qua tăng nhanh đã nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 13,4% năm
2001 lên khoảng 20% năm 2006, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cơ cấu lao động. Cơ cấu ngành nghề trong đào tạo nghề từng bước được điều chỉnh theo cơ
cấu ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Các cơ sở dạy nghề đã mở thêm nhiều
nghề đào tạo mới mà thị trường lao động có nhu cầu. Bên cạnh việc đào tạo các nghề phục
vụ cho các khu công nghiệp, khu chế xuất các cơ sở dạy nghề đã tổ chức đào tạo các nghề
Nhóm 15
25