Ngân Hàng Khối 3-K34
17/11/2011
DANH SÁCH NHÓM
ĐỀ TÀI : TÀI SẢN ĐẢM BẢO HÌNH THÀNH TỪ VỐN VAY
NGÂN HÀNG KHỐI 3 – LỚP NH7 – K34
1. Đỗ Thị Mây (Nhóm Trưởng) 20
2. Nguyễn Vũ Bảo 03
3. Nguyễn Trọng Tài 31
4. Nguyễn Văn Tùng 41
5. Trịnh Việt Tiệp 35
2 | Trang
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
Họ và tên-STT Công việc
Mức độ hoàn
thành
Nguyễn Vũ Bảo-03 -Chỉ đạo ,phân chia công việc
-Tìm tài liệu , chịu trách nhiệm phần “Thực trạng
xử lí tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay”
-Lên slide phần “Thực trạng xử lí tài sản đảm
bảo hình thành từ vốn vay”
-Tổng hợp bài của toàn nhóm
-100%
-100%
-100%
-100%
Nguyễn Văn Tùng
-41
-Tìm tài liệu , chịu trách nhiệm phần “Thực trạng
xử lí tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay”
-Lên slide phần “Thực trạng xử lí tài sản đảm
bảo hình thành từ vốn vay”
chung về tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay”
-Lên slide phần “Nguyên lí chung về tài sản đảm
bảo hình thành từ vốn vay”
-100%
-100%
Mục lục
Chương 1 : NGUYÊN LÍ CHUNG VỀ TÀI SẢN ĐẢM
BẢO VÀ XỬ LÍ TÀI SẢN ĐẢM BẢO HÌNH
THÀNH TỪ VỐN VAY
1. Khái niệm
Tài sản thế chấp hình thành từ vốn vay là tài sản mà giá trị của nó do một phần
hoặc toàn bộ khoản vay Ngân hàng tạo nên được khách hàng sử dụng để đảm bảo
thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với Ngân hàng bằng cách
giao giấy tờ sở hữu tài sản và xác nhận cho Ngân hàng quyền phát mại tài sản khi
khách hàng không hoàn trả được nợ vay. Tài sản hình thành từ vốn vay gồm : Nhà
4 | Trang
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
cửa, công trình xây dựng ; Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, tàu biển, máy
bay ; Hàng hóa nhập khẩu.
2. Vai trò
Hình thức bảo đảm này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp không đủ tài
sản thế chấp, nhất là đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nó vừa góp phần
quan trọng giải quyết nhu cầu về vốn để mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp, vừa giúp Ngân hàng mở rộng phạm vi cho vay bằng nhiều
loại tài sản nhằm tăng lợi nhuận, đảm bảo các yếu tố về mặt pháp lý, hạn chế được
những quy định khắt khe của NHNN, giảm bớt được rủi ro tín dụng và duy trì mối
quan hệ khách hàng tiềm năng để cung cấp dịch vụ Ngân hàng.
3. Điều kiện
Điều 320 khoản 2 của BLDS năm 2005 qui định như sau: “Vật dùng để bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương
vốn vay làm tài sản đảm bảo phải là khách hàng có tín nhiệm đối với Ngân
hàng, có khả năng tài chính và nguồn thu nhập hợp pháp trong thời hạn vay vốn
để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, đồng thời khách hàng phải đưa ra
phương án đầu tư phương án sản xuất kinh doanh khả thi cho Ngân hàngà có
khả năng trả nợ và phù hợp với quy định của pháp luật. ngoài ra khách hàng
phải có, đảm bảo bằng mức vốn tự có tha gia dự án đầu tư và giá trị đảm bảo
tiền vay bằng các biện pháp thế chấp cầm cố, bảo lãnh bên thứ ba tối thiểu bằng
30% tổng vốn dự án đầu tư dự án.
5. Đối với tài sản hình thành từ vốn vay
6 | Trang
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
Thứ nhất: quyền sở hữu thuộc về khách hàng vay: đối với tài sản là quyền sở
dụng đất thì phải xác định được quyền sở dụng thuộc về khách hàng vay và
được thế chấp theo quy định của luật đất đai. Đối với tài sản của doanh nghiệp
nhà nước phải xác định được quyền quản lý, sử dụng tài sản là bất động sản gắn
liền với đất, thì khách hàng vay phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
khu đất trên đó mà tài sản được hình thành và hoàn thành các thủ tục về đầu tư
theo quy định của pháp luật.
Thứ hai: phải xác định danh mục, số lượng, giá trị, đặc điểm của tài sản. việc
xác định này dựa vào phương án đầu tư
Thứ ba: tài sản được phép giao dịch không có tranh chấp
đối với tài sản hình thành từ vốn vay mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm
thì khách hàng phải cam kết mua bảo hiểm trong suốt thời hạn vay vốn khi tài
sản đã được hình thanh đưa vào sử dụng.
Thứ tư: Là giao dịch hợp pháp, hợp đồng bảo đảm bằng TSHTTTL và phụ lục
của nó phải được công chứng, chứng thực khi có yêu cầu hợp lệ.
6. Quyền và nghĩa vụ các bên trong hoạt động cho vay bảo đảm tài sản
hình thành trong tương lai
a. Đối với khách hàng
- Được khai thác công dụng hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, trừ trường hợp
- Nghĩa vụ hoàn trả cho khách hàng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy
chứng nhận quyền sở hữu tài sản ( nếu có) sau khi khách hàng hoàn thành
nghĩ vụ trả nợ.
7. Quy trình cho vay có tài sản thế chấp hình thành từ vốn vay
a. Định giá tài sản thê chấp
Sau khi nhân viên tín dụng đã phân tích hồ sơ vay vốn của khách hàng, năng
lực vay nợ mục đích vay vốn, khả năng tài chính và uy tín. Tất cả đều phải phù
hợp với chính sách nhà nước và nằm trong mức độ rủi ro chấp nhận được của
ngân hàng, ngân hàng tiến hành giám định về hồ sơ tài sản và tiến hành định
giá tài sản thế chấp.
i. Giám định tính chất pháp lý của tài sản thế chấp
Tài sản phải đảm bảo đủ điều kiện do pháp luật quy định: tài sản thuộc sở hữu
hợp pháp của người đem thế chấp, không có tranh chấp, được phép giao dịch
theo quy định của phá luật.
ii. kiểm tra tính dễ chuyển nhượng của tài sản thế chấp
tài sản thế chấp hình thành từ vốn vay phải là tài sản dễ chuyển nhượng trên thị
trường, ngân hàng không chấp nhận các loại tài sản thuộc loại ứ đọng kém
phẩm chất, các tài sản đặc chủng hoặc dễ bị phá hủy do môi trường thời
gian….làm tài sản đảm bảo. cán bộ tín dụng phải có trách nhiệm khảo sát loại
tài sản mà khách hàng mang đến thế chấp để đảm bảo tính dễ chuyển nhượng
của tài sản.
iii. định giá tài sản thế chấp
Với TSTC hình thành từ vốn vay là nhà cửa, công trình xây dựng thì giá trị tài
sản căn cứ vào dự toán chi phí xây dựng do bên thế chấp xác định dựa trên các
quy định hiện hành của nhà nước hoặc phải phù hợp với mức giá trên thị
trường. với TSTC hình thành từ vốn vay là máy móc, thiết bị vận chuyển, vận
tải, tàu biển, máy bay…… thì giá trị tài sản được xác định căn cứ ghi trên hóa
đơn chứng từ hoặc hợp đồng mua bán giữa bên thế chấp và bên cung cấp thiết
bị. kiểm tra đối chiếu với mức giá của sản phẩm cùng loại trên thị trường. với
9 | Trang
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
( Cơ quan công chứng, cơ quan quản lý tài sản ).Đồng thời Ngân hàng trả lại giấy
chứng nhậnvề quyền sở hữu tài sản cho khách hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng của Ngân hàng rất đa dạng và phức tạp,
từ các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp tư nhânđến
các hộ gia đình; từ khu vực sản xuất vật chất đến các hoạt động du lịch.Vì vậy yếu
tố đầu tiên mà các Ngân hàng dựa vào để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng, từ đó
quyết định có cấp tín dụng hay không là sự hiểu biết nhất định về khách hàng. Do
đó trong quy trình cho vay ( có tài sản đảm bảo và không có tài sản đảm bảo ) dù
có những điểm khách biệt song một nội dung chung mà các Ngân hàng đều phải
đặc biệt quan tâm đến là tư cách đạo đức, khả năng lãnh đạo, năng lực hoàn trả của
doanh nghiệp vì đó chính là cơ sở quan trọng nhất để Ngân hàng bảo đảm an toàn
khoản tiền cho vay.
8. Vấn đề xử lý TSTC hỡnh thành từ vốn vay trong hoạt động của ngân
hàng thương mại.
a. Thời điểm phỏt sinh xử lý tài sản thế chấp
Xử lý TSTC núi chung và tài sản thế chấp hỡnh thành từ vốn vay lầ biện phỏp núi
riờn để thu hồi cỏc khoản nợ mà khỏch hàng khụng cú khả năng trả nợ khi đến hạn
thanh toỏn. Đối với trường hợp khỏch hàng khụng trả được nợ khi đến hạn, Ngõn
hàng vẫn tiếp tục xem xột khả năng trả nợ của khỏch hàng, ngõn hàng xem xột gia
hạn cho khỏch hàng nếu nhận thấy khỏch hàng vẫn cũn khả năng mục tiờu của
ngõn hàng khụng phải bắt nợ khỏch hàng mà là giỳp ngõn hàng trả được nợ.
Ngân hàng có thể cấp thêm vốn cho khách hàng để tiếp tục duy trì sản xuất nếu dự
án còn khả thi và nguyên nhân không trả được nợ là do khách hàng thiếu vốn để
sản xuất kinh doanh.
Chính vì vậy, việc xử lý TSTC chỉ nên áp dụng sau khi đã thẩm định, phân tích kỹ
khả năng tồn tại để tiếp tục sản xuất, kinh doanh của đơn vị vay. Nếu xét thấy nhu
cầu thị trường vẫn chấp nhận được các sản phẩm và dịch vụ mà đơn vị đó cung
ứng với giá đảm bảo kinh doanh thì tốt hơn hết là Ngân hàng không nên xử lý
TSTC để thu nợ, mà nên tiếp tục gia hạn, hoặc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ đối với
Chấm dứt TSTC : Thế chấp tài sản chấm dứt trong trường hợp nghĩa vụ được bảo
đảm bằng thế chấp đã được thực hiện, việc tài sản thế chấp được huỷ bỏ hay được
thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác và trường hợp TSTC đã được xử lý.
Khi thế chấp chấm dứt, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã đăng ký việc thế chấp
xác nhận việc giải trừ thế chấp.
12 | Trang
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
c. Yêu cầu về xử lý TSTC.
Dù là xử lý TSTC hình thành từ vốn vay hay TSTC là tài sản của người đi vay thì
cũng luôn là một vấn đề khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có sự thận trọng lựa
chọn chính sách và taọ môi trường cho các giải pháp xử lý. Để đảm bảo tính khả
thi cao của giải pháp xử lý, cần đảm bảo các yêu cầu sau:
Một là: Các giải pháp phải có tính dân chủ và xã hội hoá cao; Dưới sự chỉ đạo của
Chính phủ, các giải pháp có sự thống nhất từ luật pháp, cơ chế, chính sách đến tổ
chức thực hiện đòi hỏi phải thu hút được sự hợp tác đầy trách nhiệm của các doanh
nghiệp, các tổ chức tín dụng, các nhóm khách hàng cũng như của nhân dân.
Hai là: Cần có các giải pháp vĩ mô của Chính phủ để tạo ra thị trường lưu thông nợ
và tài sản nhằm đưa tài sản và tiền vốn bị kẹt vào sử dụng sinh lợi, tạo đà đẩy
nhanh tiến trình lành mạnh hoá hoạt động tài chính của các khoản vay có thế chấp.
Ba là: Các giải pháp xác định được phạm vi,mục tiêu lâu dài để áp dụng và động
viên thu hút sự tham gia xử lý ở phạm vi rộng.
Bốn là: Các giải pháp phải mang tính đa dạng, có khả năng kết nối, tôn trọng
quyền lựa chọn của các bên và xử lý được nhiều tình huống.
Năm là: Các giải pháp phải hướng tới việc tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước,
đặc biệt là của Ngân hàng Nhà nước, quy định các điều kiện bảo đảm tính an toàn
các nghiệp vụ và ổn định toàn hệ thống, khung giám sát và luật lệ cần được củng
cố lại.
Ví dụ: Tại ngân hàng Á châu: VAY MUA CĂN HỘ CÁC DỰ ÁN BẤT ĐỘNG
SẢN THẾ CHẤP BẰNG CĂN HỘ MUA
Đặc tính sản phẩm:
• Chứng từ chứng minh nguồn thu nhập.
9. Ý nghĩa của việc xử lý TSTC trong hoạt động tín dụng của NHTM.
Đối tượng kinh doanh của Ngân hàng thương mại là tiền tệ. Mục tiêu hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng là nhằm đạt được lợi nhuận. Đồng tiền không
được luân chuyển sẽ không đem lại cho Ngân hàng nguồn thu, do đó không đạt
được mục tiêu đề ra. Tuy vậy, hoạt động Ngân hàng luôn chứa đựng đầy các yếu tố
bất ngờ, rủi ro là không lường trước được, Ngân hàng thường xuyên phải đối mặt
với sự tồn đọng của các khoản vốn cho vay và đứng trước nguy cơ không thu hồi
được đủ giá trị ban đầu của nguồn vốn. Vì vậy, việc xử lý TSTC để thu hồi nợ có ý
nghĩa rất quan trọng không chỉ riêng đối với Ngân hàng, mà nó còn giúp khách
hàng giảm bớt gánh nặng nợ nần.
a. Đối với Ngân hàng.
14 | Trang
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
Xử lý TSTC sẽ giúp Ngân hàng thương mại khai thông nguồn vốn bị ứ đọng, tạo
điều kiện phát huy tác dụng của nó, mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Phát mại
TSTC sẽ giúp các Ngân hàng thu hồi được một phần lượng vốn đã mất do khách
hàng không trả được nợ và giảm chi phí do nguồn vốn cho vay không thu được lãi
nhưng vẫn phải trả lãi cho nguồn tiền gửi của dân cư, đồng thời có thể đầu tư các
nguồn vốn này vào các dự án khác mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng.
Xử lý TSTC cũng sẽ giúp các Ngân hàng thương mại giảm chi phí do việc phải bảo
quản, bảo dưỡng TSTC khi các tài sản này phải ngừng hoạt động để đưa vào diện
xử lý thu nợ. Đối với những NHTM mà khối lượng TSTC lớn do nhiều khách hàng
không trả được nợ, bán TSTC sẽ giúp các Ngân hàng thu hồi nợ, tránh rơi vào tình
trạng phá sản do không đủ khả năng thanh toán cho khách hàng gửi tiền. Xử lý
TSTC sẽ là một biện pháp tạo đà đẩy nhanh tiến trình lành mạnh hoá hoạt động tài
chính của các tổ chức tín dụng.
b. Đối với khách hàng.
Tâm lý khách hàng vay vốn Ngân hàng để muốn kinh doanh có hiệu quả, thu được
lợi nhuận để trả nợ vay cho Ngân hàng, không ai muốn bị rủi ro, dẫn đến phải bán
a) Các nguyên tắc xử lý tài sản đảm bảo
Ngân hàng quy định nếu bên vay không thực hiện được các nghĩa vụ của mình
đúng thời hạn,hoặc do bên vay vi phạm nghĩa vụ theo thoả thuận hoặc theo quy
định của phap luật trước thời hạn trong hợp đồng hoặc pháp luật quy định tài sản
bảo đảm phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản đảm
bảo sẽ được xử lý để thực hiện các nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
1. Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ
thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của các bên; nếu không
có thoả thuận thì tài sản được bán đấu gia theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ
thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của bên bảo đảm và các
bên cùng nhận bảo đảm; nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì
tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
3. Việc xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện một cách khách quan,
công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia
giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với các quy định tại
Nghị định 63
16 | Trang
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương