MỘT số tự KHÁNG THỂ THƯỜNG gặp TRONG BỆNH hệ THỐNG - Pdf 24

MỘT SỐ TỰ KHÁNG THỂ THƯỜNG GẶP TRONG BỆNH HỆ THỐNG
(Common autoantibodies in systemic atoimmune diseases)
Ths. BSNT. Nguyễn Văn Đĩnh
Bộ môn Dị ứng – MDLS, Đại học Y hà Nội
TT Dị ứng – MDLS, Bệnh viện Bạch Mai
I. Tổng quan:
Bệnh tự miễn chiếm khoảng từ 3-5% dân số[4]. Bệnh tự miễn là do có sự hình thành các
kháng thể tự miễn kháng lại các thành phần mô cơ quan bao gồm nhân tế bào, bào tương,
màng tế bào…gây tổn thương các cơ quan theo các cơ chế khác nhau. Bệnh tự miễn chia
làm 2 nhóm chính: Bệnh tự miễn đặc hiệu cơ quan và bệnh tự miễn hệ thống. Sự lưu
hành các kháng thể tự miễn trong các bệnh lý tự miễn là rất đa dạng và phức tạp về cả
cấu trúc, nguồn gốc, vai trò trong sinh bệnh học của bệnh tự miễn. Các kháng thể tự miễn
hay gặp: ANA, dsDNA, ssDNA, ScL – 70, Ro/SSA, La/SSB, ANCA, kháng thể kháng
phospholipid…Việc tìm hiểu về sự lưu hành và vai trò của các kháng thể tự miễn trong
cơ chế bệnh sinh bênh tự miễn từ đó tìm hiểu giá trị chẩn đoán và tiên lượng của các
kháng thể này là rất quan trọng trong thực hành lâm sàng và nghiên cứu trong chuyên
ngành dị ứng và miễn dịch lâm sàng.
II. Định nghĩa và đặc điểm của tự kháng thể[2]
2.1 Tự kháng thể là globulin miễn dịch trực tiếp kháng lại các kháng nguyên nội sinh do
qua trình rối loạn miễn dịch sinh ra gây tổn thương cơ quan đặc trưng (bệnh tự miễn cơ
quan) hoặc nhiều cơ quan khác nhau (bệnh tự miễn hệ thống). Các kháng nguyên nội sinh
bao gồm:
+ Protein: các enzyme nội bào, receptor, các cấu trúc protein…
+ Glycoprotein: beta 2-glycoprotein I trong hội chứng kháng phospholipid
+ Axit nucleic: DNA, RNA
+ Phospholipid: cardiolipin
+ Glycophingolipid: ganglioside
2.2 Kháng thể tự miễn có thể được phát hiện trong huyết thanh và trong các dịch khác
của cơ thể nhưng dịch màng phổi, màng tim, màng bụng, dịch não tủy và dịch khớp. Điều
này phụ thuộc vào loại cấu trúc là mục tiêu của tự kháng thể. Các tự kháng thể cũng có
thể gắn hoặc lắng đọng trực tiếp tại các mô cơ quan: da, cầu thận…

mặc nhiên được thừa nhận bao gồm:
gắn lên bề mặt tế bào và phá hủy tế bào;
gắn lên các thụ thể trên bề mặt tế bào và làm thay đổi hoạt tính sinh học của tế bào mà
không gây ly giải tế bào;
hình thành phức hợp miễn dịch và lắng đọng tại mô;
dịch chuyển các kháng thể nội bào lên bề mặt tế bào;
Thâm nhập vào tế bào sống;
gắn với các phân tử ngoại bào.
1. Gắn lên bề mặt tế bào và ly giải tế bào (cytotoxicity: cơ chế gây độc)
– Gây độc tế bào qua trung gian bổ thể
– Gây độc tế bào qua trung gian tế bào phụ thuộc kháng thể
– Thực bào thông qua hệ thống tế bào thực bào đơn nhân
2. Gắn lên các thụ thể bề mặt tế bào không gây ly giải tế bào
– Điều biến các thụ thể bề mặt tế bào bởi tự kháng thể
– Phong tỏa các thụ thể bề mặt tế bào bởi tự kháng thể
– Kích thích các thụ thể bề mặt tế bào bởi tự kháng thể.
3. Gây tổn thương mô, tế bào qua trung gian phức hợp miễn dịch.
4. Dịch chuyển các kháng nguyên nội bào lên bề mặt tế bào
– Phản ứng chéo giữa kháng nguyên nội bào và kháng nguyên bề mặt tế bào
– Dịch chuyển các kháng nguyên nội bào lên bề mặt do sự tổn thương hoạc hoạt hóa tế
bào.
5. Sự xâm nhập của tự kháng thể vào trong tế bào sống
6. Gắn với các cấu trúc ngoại bào.
Thông qua các cơ chế trên mà các tự kháng thể gây tổn thương các tế bào, các mô, các cơ
quan trong bệnh lý tự miễn và gây biểu hiện lâm sàng.
III. Một số tự kháng thể thường gặp trong bệnh hệ thống[1],[2]
Sơ đồ tiếp cận các bệnh lý tự miễn
3.1 Kháng thể kháng nhân (Antinuclear antibodies – ANAs)[7].
Kháng thể kháng nhân là các tự kháng thể kháng lại histone, chuỗi kép, chuỗi đơn DNA,
phức hợp RNP và các thành phần khác của nhân tế bào. Xét nghiệm huỳnh quang miễn

kháng thể kháng nhân không cao. Do đó khí xét nghiệm có ANA dương tình thì cần phải
tiếp tục làm các xét nghiệm để xác định các kháng thể đặc hiệu. Sử dụng phương pháp
huỳnh quang miễn dịch xét nghiệm ANA không có giá trị trong theo dõi bệnh. Đối với
phương pháp ELISA, giá trị dự báo âm tính thấp hơn xét nghiệm ANA bằng phương pháp
huỳnh quang miễn dịch.
3.2 Kháng thể kháng chuỗi kép (dsDNA)[3].
Tự kháng thể kháng dsDNA nhận ra cặp base, bộ khung phosphat ribose của nó và cấu
trúc xoắn kép. Phương pháp ELISA là phương pháp phổ biến dùng trong xét nghiệm phát
hiện dsDNA và đã thay thể phương pháp miễn dịch phóng xa Farr (Farr
radioimmunoassay) và phương pháp nhuộm huỳnh quang miễn dịch bằng trùng roi
Crithidia luciliae.
Các tình trạng lâm sàng liên quan: Kháng thể kháng dsDNA xuất hiện ở SLE và hiếm
khi xuất hiện ở bệnh khác và ở người bình thường khỏe mạnh. Nếu không phải SLE mà
xuất hiện dsDNA thì thường với hiệu giá thấp. Kháng thể kháng dsDNA không xuất hiện
ở hầu hết các dạng lupus do thuốc nhưng có thể xuất hiện trong quá trình điều trị bằng
penicillamine, minocycline và thuốc kháng yếu tố hoại tử u (anti–tumor necrosis factor
agents). Kháng thể dsDNA thường đặc hiệu cho lupus có tổn thương thận.
Chỉ định: Kháng thể kháng dsDNA nên được xét nghiệm nếu nghi ngờ bệnh nhân SLE
và khi ANA dương tính. Ích lợi xét nghiệm kháng thể kháng dsDNA mang lại là cực kì
thấp nếu như bệnh nhân xét nghiệm ANA âm tính bằng huỳnh quang miễn dịch gián tiếp
trên tế bào Hep -2. Theo dõi hiệu giá kháng thể kháng dsDNA có thể có vai trò theo dõi
đợt cấp của SLE.
Phiên giải kết quả: Độ đặc hiệu của kháng thể kháng dsDNA cho SLE là 97% và có thể
đạt đến 100% khi mà hiệu giá kháng thể cao. Vì vậy nếu kháng thể kháng dsDNA dương
tính có vai trò quan trong cho chẩn đoán SLE. Kháng thể dsDNA xuất hiện khoảng 60 –
80% số bệnh nhân bị SLE. Do nồng độ kháng thể thay đổi theo thời gian vi vậy có thể
cao hoặc thấp hơn với khoảng bình thường do đó độ nhậy của kháng thể kháng dsDNA
mỗi lần riêng rẽ là khảng 50%. Nếu kháng thể kháng dsDNA âm tính không có vai trò
loại trừ SLE.
Một vài nghiên cứu ở nhóm bệnh nhân SLE chỉ ra rằng nồng độ kháng thể kháng dsDNA

3.4 Kháng thể kháng Ro (SS-A) và kháng thể kháng La (SS-B)
Kháng nguyên Ro (cũng được hiểu như là Sjögren syndrome A hoặc SS-A) và La (SS-B
hoặc Sjögren syndrome B) có chút ít khác biệt RNP. Phương pháp ELISA và immunoblot
thay thế dần cho phương pháp cũ là miễn dịch khuếch tán để phát hiện kháng thể kháng
Ro/SS-A và La/SS-B. Trên xét nghiệm ANA bằng IFF hình ảnh lên màu của kháng thể
kháng Ro/SS-A và La/SS-B là hình ảnh dạng đốm ở nhân tế bào. Khi sử dụng tế bào gan
hoặc thận bộ gặm nhấm thường được sử dụng trước đây thì kháng thể kháng Ro/SS-A và
La/SS-B không được phát hiện nên được gọi là lupus “ANA âm tính” nếu như những tự
kháng thể đó là trội trong hệ thống tự kháng thể. Sử dụng tế bào Hep-2 làm tăng khả năng
phát hiện Ro và La và từ đó làm giảm tỉ lệ lupus ANA âm tính.
Các tình trạng lâm sàng liên quan: Kháng thể kháng Ro/SS-A hiếm gặp ở nhóm người
khỏe mạnh và ở bệnh nhân mắc bệnh thấp khác ngoài hội chứng Sjögren và SLE. Kháng
thể kháng Ro/SS-A biểu hiện khảng 75% bệnh nhân bị hội chứng Sjögren nguyên phát
nhưng chỉ gặp 10-15% ở bện nhân viêm khớp dạng thấp và hội chứng Sjögren thứ phát.
Ở bệnh nhân SLE, kháng thể kháng Ro biểu hiện khoảng 50% ở bệnh nhân có triệu
chứng nhạy cảm ánh sáng, lupus bán cấp và tổn thương phổi kẽ. Sự truyền tự kháng thể
này từ mẹ sang con qua nhau thai xuất hiện và có vai trò quan trọng trong bệnh học của
lupus da sơ sinh và block tim hoàn toàn bẩm sinh. Kháng thể kháng La xuất hiện hầu hết
cùng với kháng thể kháng Ro, ở hội chứng Sjögren nguyên phát khoảng 40-50%, ở SLE
10-15%, block tim hoàn toàn bẩm sinh 90% và lupus da sơ sinh 70%.
Chỉ định: Kháng thể kháng Ro và La nên được xét nghiệm khi có biểu hiện lâm sàng
nghi ngờ hội chứng Sjögren nguyên phát hoặc lupus. Thậm chí khi ANA không được
phát hiện bằng phương pháp huỳnh quang miễn dịch thứ phát, xét nghiệm cho kháng thể
kháng Ro vẫn được chỉ định cho bệnh nhân nghi ngờ lupus da bán cấp hoặc bệnh nhân có
tình trạng nhạy cảm ánh sáng tái phát. Những bà mẹ của những đứa trẻ có biểu hiện lupus
da sơ sinh hoặc block tim bẩm sinh hoàn toàn nên xét nghiệm để tìm kháng thể kháng Ro
và La. Nhiều bà mẹ trong nhóm trên không biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng. Xét
nghiệm cũng được chỉ định cho những bệnh nhân lupus mang thai hoặc có ý định sinh
con để tầm soát yếu tố nguy cơ.
Phiên giải kết quả: Biểu hiện của kháng thể kháng Ro hoặc Ro và La có vai trò quan

(peripheral nuclear). Cả c-ANCA và p-ANCA đều có giá trị trong chẩn đoán và theo dõi
bệnh viêm mạch hệ thống, đặc biệt lần lượt ở các bệnh u hạt Wegener's và microscopic
polyangiitis. Bằng phương pháp ELISA, proteinase-3 là kháng nguyên đích chủ yếu của
c-ANCA trong bệnh u hạt Wegener’s, trong khi myeloperoxidase là kháng nguyên đích
của p-ANCA trong viêm đa vi mạch (microscopic polyangiitis). Ngoài ra ANCA còn gặp
trong một số bệnh lý tự miễn khác như viêm gan tự miễn type I (p-ANCA 50-90%), các
rối loạn viêm như Crohn’s disease, viêm loét đại trực tràng, xơ hóa đường mật nguyên
phát (PSC- primary sclerosing cholangitis)
Chỉ định:
• Nghi ngờ viêm mạch ANCA ( ANCA-asociated vasculitis)
• Chẩn đoán phân biệt viêm thận
• Nghi ngờ bệnh lý viêm ruột mạn tính
• Nghi ngờ xơ hóa đường mật nguyên phát
• Chảy máu phế nang
3.7 Kháng thể kháng phospholipid[2],[5].
Là các tự kháng thể kháng lại màng điện âm phospho hoặc màng tế bào thần kinh, có thể
kháng nguyên là phospho gắn với protein hoặc là phức hợp phospholipid-protein ví dụ
như: β2- glycoprotein I, prothrombin, protein C, protein S, thrombomodulin, annexin V,
và kininogen. Các kháng thể kháng phospholipid chủ yếu là IgG, IgM và một số ít là IgA.
Các phương pháp phát hiện: Phương pháp ELISA sử dụng phospholipid tinh khiết để
chẩn đoán β2- glycoprotein I, prothombin và kininogen. Radioimmunoassay: hiện nay
phương pháp này không còn được sử dụng rộng rãi nữa. Xét nghiệm đông (coagulation
tests)
Các tình trạng lâm sàng liên quan: Kháng thể kháng phospholipid là marker chân đoán
hội chứng kháng phospholipis (APS). Cardiolipin, β2- glycoprotein I, và LA là các kháng
thể có vai trò quan trọng nhất trong chẩn đoán các bệnh lý liên quan. Khi không phát hiện
được các kháng thể này thì việc xác định các kháng thể như: phosphatidylethanolamine
và phosphatidylinositol cũng có thể có giá trị lâm sàng. Theo tiêu chuân chẩn đoán APS
2006 (SAPORO) các kháng thể này phải dương tính ít nhất 2 lần sau 12 tuần. Hội chứng
APS thứ phát gặp chủ yếu ở bệnh SLE từ 22-69% tùy theo nghiên cứu. Có một nghiên

Kháng thể Jo-1 cũng có vai trò là yếu tố tiên lượng: Bệnh nhân viêm da cơ có kháng thể
Jo-1 thường biểu hiện tình trạng lâm sàng nặng hơn, tần suất tái phát nhiều hơn và tiên
lượng xấu hơn. Bệnh phổi kẽ biểu hiện ở trên 70% bệnh nhân viêm da cơ có kháng thể
Jo-1 lưu hành. Nồng độ kháng thể Jo-1 có thể dao động khi tình trạng bệnh hoạt động
hoặc lui bệnh sau điều trị thành công hoặc quá trình thoái lui.
Chỉ định: Khi nghi ngờ hội chứng anti – synthetase syndrome, chẩn đoán phân biệt viêm
cơ, chẩn đoán phân biệt các dạng viêm phế nang xơ hóa.
IV. Kết luận
Các kháng thể tự miễn nhìn chung có vai trò chủ yếu trong chẩn đoán mà ít có vai trò
trong theo dõi điều trị. Một bệnh có thể có nhiều tự kháng thể lưu hành và một kháng thể
có thể gặp trong nhiều bệnh. Bảng tổng hợp vai trò của các loại tự kháng thể trong tiếp
cận chẩn đoán bệnh lý tự miễn sau đây cho chúng ta có thể chỉ định xét nghiệm một cách
hợp lý và hiệu quả.
Tài liệu tham khảo:
1. Jonh Imboden, David Hellmann, Jonh Stone.,2007. Current Rheumatology Diagnosis
and Treatment, 2 nd ed. McGrawHill companies, USA.
2. Karsten Conrad, Werner Schöbler., 2007. Autoantibodies in Systemic Autoimmune
Diseases: A Diagnostic Reference, 2 nd ed. PABST SCIENCE PUBLISHER, 49525
Lengerich.281 pages
3. Kavanaugh AF, Solomon DH, and the American College of Rheumatology Ad Hoc
Committee on Immunologic Testing Guidelines. Guidelines for immunologic laboratory
testing in the rheumatic diseases: anti-DNA antibody tests. Arthritis Rheum. 2002;47:546.
[PMID: 12382306]
4. K. Michael Pollard., 2006. Autoantibodies and Autoimmunity, 1st ed. WILEY-VCH
Verlag GmbH & Co. KGaA, Weinheim, Germany. 635 pages.
5. Maria Laura Bertolaccini, Oier Ateka-Barrutia, and Munther A. Khamashta., 2010.
Antiphospholipid Syndrome Handbook, 1
st
ed. Springer London Dordrecht Heidelberg
New York. 98 pages.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status