LỜI MỞ ĐẦU
Sự ra đời của Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) được coi là một trong
những dấu mốc đặc biệt của thương mại quốc tế, một bước đi cần thiết trong quan hệ
thương mại giữa các nước phát triển và các nước đang (kém) phát triển, khi mà sự
chênh lệch trình độ giữa các quốc gia luôn là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới sự
cạnh tranh bình đẳng trong buôn bán quốc tế. Trong phạm vi bài tiểu luận dưới đây sẽ
tập trung làm rõ bản chất của Chế độ ưu đãi phổ cập (GSP) cũng như bước đầu đưa ra
một số nhận định, bình luận về việc áp dụng GSP trong quan hệ thương mại quốc tế.
NỘI DUNG
1. Khái quát về chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)
Ý tưởng sơ khai cho sự ra đời của Chế độ ưu đãi phổ cập (Generalized System
of Preferences – GSP) xuất hiện lần đầu tại Hội nghị thương mại và phát triển lần thứ
nhất năm 1964 khi các nước đang phát triển đề xuất một biện pháp đặc biệt mới, theo
đó các nước phát triển sẽ dành cho các nước đang phát triển những ưu đãi về thương
mại có lợi hơn so với các ưu đãi dành cho nước thứ ba khác; nhưng phải mãi đến năm
1968, tại phiên họp thứ 2 của UNCTAD, ý tưởng về chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập,
không phân biệt đối xử, không yêu cầu có đi có lại dành cho các nước đang phát triển
mới chính thức được ghi nhận. Tiếp đó, hệ thống GSP lần đầu tiên đã được EEC tiên
phong áp dụng vào 1/7/1971, theo sau là Nhật Bản (8/1971), Mỹ (năm 1976)…
1
Hệ thống GSP là một hệ thống mà các nước phát triển (được gọi là các nước
cho hưởng) cho các nước đang phát triển (DCs) và các nước kém phát triển (LDCs)
– các nước được hưởng, hưởng chế độ ưu đãi bằng cách giảm hoặc miễn thuế nhập
khẩu, tạo điều kiện cho nhiều thành phẩm và bán thành phẩm từ các nước đang phát
triển thâm nhập dễ dàng hơn vào thị trường các nước phát triển, có thể cạnh tranh
được với các sản phẩm cùng loại đến từ các nước phát triển khác. Mục tiêu của GSP,
theo GATT 1972, là nhằm hướng đến việc“tăng kim ngạch xuất khẩu, đẩy mạnh
công nghiệp hóa và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”
2
ở các nước được nhận ưu đãi này.
So với các đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển
hiểu bởi GSP ảnh hưởng trực tiếp tới thuế suất nhập khẩu-một phần quan trọng trong
chính sách ngoại thương của bất kỳ quốc gia nào, liên quan trực tiếp tới nền kinh tế
và sự thịnh vượng của quốc gia đó. Trong nhiều trường hợp, không thể loại trừ sức
ảnh hưởng của chính sách thuế tới các vấn đề chính trị cũng như hoạt động thương
mại trong nước và ngược lại. Xét một cách toàn diện khách quan, hệ thống GSP
mang tới lợi ích kinh tế cho các nước cho hưởng cũng như các nước được hưởng,
kích thích sự phát triển mở rộng của các quan hệ TMQT. Tuy vậy, ở một khía cạnh
khác ngoài kinh tế, GSP lại là công cụ mà các nước phát triển dùng để theo đuổi các
chính sách đối ngoại, mục tiêu chính trị của quốc gia mình. Cùng với không ít các
hạn chế khác, việc áp dụng GSP càng khó có thể đạt được kỳ vọng như mục tiêu ban
đầu, vấn đề tương thích của GSP với thực tiễn TMQT, theo đó, cũng cần được đặt ra.
2.1 Ảnh hưởng tích cực của GSP trong quan hệ thương mại quốc tế
Hơn 40 năm kể từ thời điểm Chế độ GSP đầu tiên được khởi xướng vào năm
1971 bởi EEC cho tới nay, GSP phổ biến trong kinh doanh xuất nhập khẩu như một
cơ chế truyền thống để tăng cường trao đổi thương mại giữa các nước phát triển và
đang phát triển. Khi các rào cản thuế quan tại các nước phát triển được đơn phương
cắt giảm hay hủy bỏ (thuế suất thấp hơn thuế theo MFN), lẽ dĩ nhiên, các nước được
hưởng ưu đãi này có quyền hy vọng vào lợi nhuận tăng lên do hàng hóa nước mình
có thể xuất khẩu thuận lợi hơn sang các thị trường mới, cạnh tranh được với hàng hóa
cùng loại khác tại chính nước phát triển. Thật vậy, nhiều số liệu thống kê cho thấy
GSP thực sự có tác dụng trong việc thúc đẩy giao lưu thương mại; khả năng thu hút
FDI đầu tư vào DCs cũng tăng lên
4
. Một nghiên cứu gần đây khi tiến hành theo dõi
hoạt động nhập khẩu song phương của hơn 183 quốc gia trong giai đoạn từ năm
3
Source: “GSP: Still Open to Political Use” - Prabhash Ranjan and Aparna Shivpuri; Economic and Political Weekly
Vol. 40, No. 3 (Jan. 15-21, 2005), pp. 195-198.
4
at.97.
sự đe dọa từ khủng bố. Những thay đổi trong quan điểm chính trị của Mỹ với nhiều
DCs, LDCs (các lí do phi kinh tế như chính trị, nhân quyền…) cũng được cho là
nguyên nhân chính dẫn tới việc một nước bị rút khỏi danh sách ưu đãi GSP
7
. Và,
những lí do này luôn được hợp thực hóa dưới nhiều hình thức, mà tiêu biểu là việc
đơn phương đặt ra các điều kiện ràng buộc DCs, LDCs cần đáp ứng để được hưởng
ưu đãi
8
. Các DCs, LDCs không có quyền trao đổi, thỏa thuận về những điều kiện này
vì đặc trưng của GSP là chế độ ưu đãi một chiều. Sẽ là sai lầm nếu đánh giá GSP chỉ
là sự hỗ trợ đơn thuần mà các nước phát triển dành cho các DCs, LDCs trong quan hệ
TMQT. Trên cơ sở có sự áp đặt ý chí thông qua Chế độ GSP, các nước phát triển
củng cố sự chi phối của mình tới các nước đang phát triển, về lâu về dài từng bước
điều chỉnh tình hình chính trị, kinh tế của các nước đang phát triển theo hướng thuận
lợi nhất. Hơn thế nữa, với thuế suất hấp dẫn từ Chế độ GSP, các nước đang phát triển
5
/>6
/>7
/>8
Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam cũng chưa được hưởng GSP của Mỹ với lí do chưa có nền kinh tế thị trường, thực chất đằng sau sự khước từ
này của Mỹ là do sự khác nhau trong quan điểm chính trị giữa hai nước vẫn chưa thể giải quyết.
3
có xu hướng tập trung ưu tiến xuất khẩu hàng hóa sang các nước phát triển (có đến ¾
kim ngạch buôn bán quốc tế trong thời kỳ đầu ra đời GSP của DCs đều là được thực
hiện với các nước tư bản phát triển). Điều này làm tăng sự lệ thuộc kinh tế của các
nước nhỏ vào các nước phát triển, những biến động tiêu cực trong tình hình kinh tế
của các nước phát triển nếu xảy ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới DCs; sự lệ thuộc kinh tế,
theo đó, cũng sẽ kéo theo sự lệ thuộc về chính trị. Mối quan hệ thương mại hình
thành trên cơ sở những mưu tính chính trị khiến GSP trở nên khó dự đoán, thiếu ổn
vậy, đối mặt với nhiều thay đổi trong tình hình TMQT, các nước phát triển cần có
những chiến lược đúng đắn, phù hợp hơn khi xây dựng, sửa đổi Chế độ GSP sẵn có
để có thể tiếp tục duy trì lợi thế của GSP so với các công cụ thuế quan hấp dẫn khác.
9
Caglar Ozden and Eric Reinhardt (2005), The Perversity of Preferences: GSP and Developing Country Trade Policies, 1976-2000,
Journal of Development Economics, 78 (1), October, 1-21.
4