TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT
NGHIỆP
HỆ THỐNG ƯU ĐÃI THUẾ QUAN PHỔ CẬP
CỦA NHẬT BẢN VÀ HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU
CỦA VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn : TS. Phạm Duy Liên
Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Huyền
Lớp : Nhật 1 - K38F
2. Thực trạng tiến triển động thái cơ cấu các mặt hàng xuất nhập
khẩu Việt - Nhật 36
II. Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của Nhật Bản giành cho hàng hoá xuất
khẩu của Việt Nam 39
III. Những tồn tại trong việc dành ưu đãi thuế quan phổ cập của Nhật Bản
đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua 44
IV. Xu hướng phát triển quan hệ buôn bán giữa hai nước trong thời gian tới 49
1. Thuận lợi 50
2 . Khó khăn 53
3. Triển vọng 57
Chương III: Các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả chế độ ưu đãi thuế
quan phổ cập của Nhật Bản 59
I. Các giải pháp ở tầm vĩ mô 60
1. Định hướng phát triển cơ cấu sản phẩm xuất khẩu hợp lý và có
hiệu quả cao. 61
2. Những công việc cụ thể mà Chính phủ cần và phải làm
sớm 65
3. Những giải pháp nhằm khai thác tốt thị trường Nhật Bản cho sự
phát triển tương lai nền kinh tế Việt Nam 66
II. Các giải pháp ở tầm vi mô 67
Kết luận 72
Tài liệu tham khảo 81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. GSP (Generalized System of Preferences): Hệ thống ưu đãi thuế quan
phổ cập
2. UNCTAD (United Nation Conference on Trade and Development): Tổ
chức thương mại và phát triển của Liên hợp quốc
3. MFN: Chế độ ưu đãi tối huệ quốc
và Philippin cũng tới 1%. Với những thuận lợi về vị trí địa lý , về truyền
thống và về tính bổ sung lẫn nhau của cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu giữa
hai nước thì tỷ trọng nói trên là khá nhỏ bé so với tiềm năng. Ngoài nguyên
nhân là các doanh nghiệp Việt Nam rất thiếu thông tin về thị trường Nhật
Bản, dẫn tới việc các doanh nghiệp Việt Nam không nắm bắt được nhu cầu
hàng hoá, thói quen tiêu dùng cũng như những quy định về quản lý nhập
khẩu của Nhật Bản; thì một nguyên nhân mà Khoá luận này muốn đề cập
đến đó là: Mặc dù Nhật Bản đã dành cho hàng hoá của Việt Nam chế độ ưu
đãi thuế quan phổ cập (GSP) nhưng diện mặt hàng có lợi ích thiết thực đối
với Việt Nam không nhiều. Những mặt hàng của Việt Nam (chủ yếu là
nông sản, giày dép ) khi nhập khẩu vào Nhật Bản vẫn phải chịu mức thuế
cao hơn mức thuế mà Nhật Bản dành cho Trung Quốc và các nước
ASEAN. Việc này đã hạn chế đáng kể khả năng tăng trưởng xuất khẩu của
Việt Nam vào Nhật Bản.
2.Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Không ngoài mong muốn tìm hiểu về những ưu đãi mà Nhật Bản giành
cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đặc biệt là chế độ ưu đãi GSP. Từ đó
thấy được những lợi thế cũng như những tồn tại trong việc giành ưu đãi
GSP, góp phần thúc đẩy hàng hoá xuất khẩu. Điều này phù hợp với đường
lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là khuyến khích xuất
khẩu tăng thu ngoại tệ với mục tiêu lâu dài là CNH - HĐH đất nước.
Mối quan hệ giữa Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập của Nhật Bản với
hàng hoá xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Nhật Bản chính là phạm vi
nghiên cứu của Khoá luận. Hàng hoá xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản
phụ thuộc rất nhiều vào những chính sách nhập khẩu của Nhật Bản trong
đó có chính sách ưu đãi về thuế. Thuế quan có ưu đãi hàng hoá mới xuất
khẩu được nhiều vì khi đó hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam có khả năng
cạnh tranh cao.
3. Bố cục của đề tài và phương pháp nghiên cứu
Với cơ cấu 3 chương, chương I bằng việc nghiên cứu hệ thống ưu
Mong muốn của đề tài rất lớn, tuy nhiên do năng lực có hạn
cũng như chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế nên không tránh khỏi
những khiếm khuyết, rất mong sự đóng góp của thầy cô và các
bạn. Nhân đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới TS. Phạm Duy Liên
đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành khoá luận này và cũng cho
em gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô trong Khoa Kinh tế đối
ngoại Trường Đại Học Ngoại Thương Hà Nội đã trao cho em
nhưng kiến thức trong suốt thời gian học tập tại nhà trường và
cũng là hành trang cho em sau này.
Hà Nội, tháng 12 năm 2003
Sinh viên lớp Nhật I K38F
Đỗ Thị Huyền
CHƯƠNG I
HỆ THỐNG ƯU ĐÃI THUẾ QUAN PHỔ CẬP CỦA NHẬT BẢN
I. Khái niệm về Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập là kết quả của các cuộc đàm phán
liên Chính phủ, được tổ chức dưới sự bảo trợ của Hội nghị Thương mại và
Phát triển của Liên hợp quốc - UNCTAD (United Nation Conference on
Trade and Development) kể từ 1964 và chính thức được đưa ra áp dụng từ
tháng 6 năm 1972. Các nước đi tiên phong trong việc này là Liên Xô (áp
dụng từ năm 1965) và Úc (áp dụng từ năm 1966), Nhật Bản, EU, Nauy áp
dụng GSP từ năm 1971, Bungari, Hungari, Tiệp, áo, Phần Lan, Thụy Điển,
Thụy Sĩ, Tân Tây Lan áp dụng từ năm 1972 và Mỹ, Balan áp dụng từ năm
1976.
1. Khái quát chung về Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
Theo Hệ thống ưu đãi phổ cập, các ưu đãi thuế quan được áp dụng cho
hàng hoá xuất khẩu từ các nước đang phát triển, trên cơ sở không cần có đi
có lại và không phân biệt đối xử.
nước này xuất khẩu vào các nước dành ưu đãi. Người nhập khẩu nhờ đó mà
có thể chuyển mua hàng từ các nước không được ưu đãi sang mua hàng từ
các nước được hưởng ưu đãi này. Biểu thuế quan ưu đãi này giúp người
xuất khẩu thâm nhập được tốt hơn vào thị trường nước dành ưu đãi hoặc
giúp mở rộng thị trường đó. Hơn nữa, nếu sản phẩm là một trong số các
hàng đã có tiếng trên thị trường đó, người xuất khẩu có thể đàm phán với
bạn hàng để tăng giá. Như vậy, lợi ích về tài chính của việc giảm hay miễn
thuế quan sẽ được các bạn hàng cùng hưởng chứ không phải chỉ có một
mình người nhập khẩu hưởng.
Hiện nay Hệ thống GSP bao gồm 15 chế độ của 29 nước dành ưu đãi:
Mỹ, Nhật, Úc, New Zealand, EU (15 nước: Bỉ, Pháp, Hà Lan, Đan Mạch,
Hy Lạp, Đức, Ailen, Italy, Lucxembua, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Phần Lan, Áo, Thụy Điển), Thụy Sĩ, Na Uy, Canada, Nga, Balan, Hungari,
Cộng hoà Bungari, Séc, Slovackia, Cộng hoà Belarus.
Chế độ ưu đãi Phổ cập GSP được các cơ quan lập pháp của các
nước dành ưu đãi ban hành thành các văn bản pháp luật có hiệu
lực cho từng thời kỳ nhất định có thể là 1 năm, 10 năm hoặc vài
ba chục năm.
Chính phủ Nhật thiết lập GSP từ ngày 01/08/1971 kể từ đó, Hệ thống đã
qua nhiều lần cải cách và chương trình GSP hiện hành được thực hiện đến
31/03/2011. Nhật Bản dành ưu đãi thuế quan thông qua GSP cho 149 quốc
gia và 15 vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam (xem bảng 1: Danh sách các
nước được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập của Nhật Bản )
3. Các quy định chung trong các chế độ GSP
Thông thường trong các chế độ GSP của các nước dành ưu đãi
thường quy định về các vấn đề cơ bản như sau:
- Những quy tắc chung về hệ thống GSP mà các nước đó dành cho
các nước được hưởng ưu đãi;
- Công bố những loại hàng hoá được hưởng ưu đãi, những laọi hàng
hoá không được hưởng ưu đãi, những loại hàng hoá thuộc diện ưu đãi có
Đông Nam Á: Campuchia, Lào, Miến Điện là các nước kém phát triển,
Việt Nam là nước đang phát triển.
Các nước kém phát triển được hưởng ưu đãi cao hơn các nước đang phát
triển cả về mức thuế ưu đãi và không bị hạn chế số lượng trần (Ceiling) và
một số các tiêu chuẩn khác. Có một số nước cho hưởng ưu đãi dành cho
toàn bộ các nước kém phát triển chế độ miễn thuế cho toàn bộ các loại sản
phẩm của nước đó hoặc là có quy chế đặc biệt cho các nước kém phát triển.
Hầu hết các nước đang phát triển thuộc nhóm 77 nước (cho tới nay có
khoảng 128 nước thành viên) đều được hưởng GSP. Có một số nước cho
hưởng ưu đãi mở rộng phạm vi ưu đãi ra ngoài khuôn khổ các nước thuộc
nhóm 77.
Các nước kém phát triển được hưởng ưu đãi cao hơn các nước đang phát
triển về mức thuế ưu đãi và không bị hạn chế về số lượng trần (ceiling) và
một số tiêu chuẩn khác thậm chí là cho các nước kém phát triển chế độ
miễn thuế toàn bộ các loại sản phẩm hoặc là có quy chế đặc biệt. Trong
năm tài chính 2003 (tháng 4/2003) Hệ thống GSP của Nhật có một số dự
thảo sửa đổi như mở rộng phạm vi điều chỉnh đặc biệt là hiệp định miễn
thuế và hạn ngạch cho các sản phẩm của các nước kém phát triển nhất.
(1) Mở rộng phạm vi của hiệp định miễn giảm thuế quan và hạn
ngạch cho các sản phẩm của các nước kém phát triển.
198 sản phẩm nông nghiệp và hải sản sẽ được bổ sung vào 298 mặt
hàng hiện có, đáp ứng đủ tiêu chuẩn của hiệp định. Biện pháp này sẽ làm
cho giá trị của những mặt hàng được miễn giảm thuế quan và hạn ngạch
chiếm tới hơn 90% tổng giá trị nhập khẩu từ các nước kém phát triển vào
Nhật bản.
(2) Mở rộng phạm vi của hệ thống ưu đãi chung GSP
118 sản phẩm nông nghiệp vừa mới được bổ sung vào 221 mặt hàng
hiện có đủ tiêu chuẩn của GSP. Một sản phẩm công nghiệp cũng sẽ được
bổ sung thêm. Hơn nữa thuế suất của 28 mặt hàng công nghiệp trong GSP
cũng sẽ giảm và 3 mức giá trần của các nhóm sản phẩm công nghiệp sẽ
Adécbaidan Etiôpi Môrixơ Xoadiland
Bahama
Falkland islands and
Dependencies
Mêxico Siri
Baranh Fiji Micronnesia Tãdikitxtan
Bănglađét
Pôlynêsia thuộc
Pháp
Mônđôva Tanzanhia
Bácbađốt Gabông Môngcổ Thái lan
Bêlaruts Gambia Môngserát Tôgô
Bêlidê Grudia Maroc Tokelau islands
Bênanh Gana Môdămbích Tonga
Bécmuđa Gibranta Myanma Trinidát và Tôbago
Butan Grênađa Mammibia tuynidi
Bôlivia Guatêmala Nepan Thổ nhĩ kì
Bốtxoana Ghinê Nicaragua Tuốc mê nixtan
Braxin Ghinê Bitxao Nigiê Turks and Caicos
islands
Quần đảo Vơgin
thuộc Anh
Guyana Nigêria Tuvanlu
Brunây Haiti Niue Uganđa
Bungari Honđurát Oman Ucraina
Buốckina Phaxo Hungari Pakixtan Urugoay
Burunđi ấn độ palau uzebekistan
Cămphuchia Inđônexia Panama Vanuatu
Crôatia Lithuania Quần đảo
Salômông
Séc Cộng hoà
Mácxêđônia
Sômali
Đôminica Mađagatxva Nam Phi
(Nguồn:Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập của Nhật Bản năm 2003 của
Bộ Thương mại Nhật Bản xuất bản tháng 4 năm 2003) 2) Hàng hoá được hưởng ưu đãi
Phạm vi sản phẩm được hưởng ưu đãi tuỳ thuộc vào chính sách của
mỗi nước dành ưu đãi. Không phải tất cả các sản phẩm đều được hưởng ưu
đãi GSP. Thông thường các nước đó công bố danh mục hàng hoá có gắn
mã phân loại sản phẩm hài hoà - HS (Hamonised System Code) được
hưởng và không được hưởng GSP (gọi là danh mục thuận và danh mục từ
chối) và danh mục hàng hoá có giới hạn trần (ceiling). Các danh mục hàng
hoá này được xem xét lại theo định kỳ thường là hàng năm và được công
bố công khai cho các doanh nghiệp qua báo chí và tổ chức xúc tiến thương
mại của các nước, đồng thời có gửi cho các đầu mối về GSP ở các nước
dành ưu đãi cũng như các nước hưởng ưu đãi.
Các mặt hàng được hưởng ưu đãi thường là các sản phẩm nếu nhập khẩu
vào thị trường các nước cho hưởng ưu đãi sẽ không làm ảnh hưởng đến sản
xuất trong nước hoặc là hàng nông sản chưa chế biến, nguyên liệu cho công
nghiệp, hàng chế biến ở mức độ thấp và hàng thủ công.
Các mặt hàng không được hưởng GSP thường là các mặt hàng
tạo nguồn thu thuế lớn cho ngân sách hoặc là những sản phẩm
bảo hộ cao để sản xuất trong nước không bị tổn hại do nhập khẩu
gây ra.
Bước 1: Xác định phân loại hàng hoá trong Biểu thuế quan
Cần phải xác định chính xác phân loại hàng hoá trong Biểu thuế quan
của nước nhập khẩu (số mã) của loại hàng hoá mà người xuất khẩu dự kiến
xuất khẩu đến thị trường nhất định.
Những sản phẩm được hưởng ưu đãi theo một chế độ GSP đều được quy
định trong biểu thuế nhập khẩu (HS) được áp dụng từ 01/01/1988 thì tất cả
các nước kinh tế thị trường dành ưu đãi đã áp dụng hệ thống này. Một số
các nước đang phát triển cũng đã áp dụng hệ thống HS, còn một số đang
chuẩn bị vận dụng. Cần phải biết được 4 con số đầu của biểu thuế quan
của từng sản phẩm để điền vào ô số 8 của giấy chứng nhận xuất xứ (mẫu
A) khi xuất khẩu sang Nhật.
Vì vậy, trước hết nên bắt đầu bằng cách xác định tên của sản phẩm dự
định xuất khẩu có tương ứng với mã số của mặt hàng đó trong Biểu thuế
quan của nước nhập khẩu hay không. Nếu gặp khó khăn gì trong việc xác
định đúng danh mục hàng dự kiến xuất khẩu thì phải tìm đến sự giúp đỡ từ
phía cơ quan Hải quan nước nhập khẩu hoặc qua người nhập khẩu để có
được sự giúp đỡ của Hải quan nước nhập khẩu.
Bước 2: Xác định phạm vi ưu đãi của sản phẩm
- Cần phải làm rõ xem sản phẩm xuất khẩu có thuộc diện ưu đãi trên
thị trường đó không.
- Phải kiểm tra sản phẩm quy định trong chế độ GSP với số mã và
tên sản phẩm trong Biểu thuế quan của nước dành ưu đãi.
Không phải tất cả các loại sản phẩm đều được hưởng GSP. Người xuất
khẩu phải làm rõ ngay vấn đề sản phẩm của mình co được hưởng ưu đãi tại
thị trường đó có không trước khi làm các việc tiếp theo. Khi làm việc này,
người xuất khẩu phải xác định danh mục hàng hoá trong khung của GSP,
xác định mức độ được quy định trong biểu thuế quan theo phân loại hàng
hoá bằng hệ thống HS và tên hàng hoá xuất khẩu ở đây có nằm trong quy
định được hưởng GSP hay không.
Các nước cho hưởng GSP thường có danh mục hàng hoá có thể được
xuất khẩu đã bị loại khỏi ưu đãi hay chưa.
Giới hạn về lượng đối với hàng nhập khẩu được ưu đãi thường áp dụng
đối với những sảm phẩm nhạy cảm nhất định và được quy định trong các
quy chế của Nhật bản hiện nay.
Nhật bản hàng năm có công bố danh mục giới hạn trần
(ceiling) theo năm tài chính của Nhật kết thúc vào 31/3 hàng năm
đối với hàng công nghiệp từ nhóm 2523 đến 9603 HS. Trong đó
126 nhóm hàng tính giới hạn theo từng năm một, có 66 nhóm
hàng tính theo tháng và 36 nhóm tính theo ngày. Để nắm được
mặt hàng nào giới hạn theo kiểu nào, các doanh nghiệp có thể tra
cứu trong danh mục hàng hoá bị giới hạn, được công bố hàng
năm bởi Chính phủ của nước dành ưu đãi hoặc thông tin về giới
hạn qua các trung tâm quản lý GSP của nước xuất khẩu và nhập
khẩu.
Bước 5: Thực hiện đầy đủ quy chế về xuất xứ
Cần phải đảm bảo chắc chắn là sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các tiêu
chuẩn về xuất xứ do các nước cấp ưu đãi đề ra. Mỗi nước đều có các tiêu
chuẩn riêng của mình.
Những quy định về xuất xứ là một phần quan trọng của mỗi chế độ
GSP. Các quy định này tồn tại để đảm bảo rằng ưu đãi về thuế quan theo
GSP chỉ dành cho những sản phẩm thực sự sản xuất ở nước được hưởng ưu
đãi. Vì vậy những quy định này có tính chất bắt buộc nhằm loại bỏ chế độ
GSP đối với sản phẩm từ nước thứ ba và đối với hàng qua cảnh hoặc các
sản phẩm chỉ chế biến ở mức thấp và không làm thay đổi bản chất của sản
phẩm được hưởng ưu đãi GSP.
Khi xem xét tiêu chuẩn về xuất xứ cần phải nắm vững cách quy định
của nước dành ưu đãi về tiêu chuẩn gia công chế biến và tiêu chuẩn tỷ
trọng. Đặc biệt phải biết chắc chắn hàng của mình được áp dụng theo loại
tiêu chuẩn nào.
Mọi chế độ GSP đều công bố các tiêu chuẩn về xuất xứ mà các sản