LUẬN VĂN Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà
EU dành cho Việt Nam
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
1
CHƯƠNG I
CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG
VÀ HỆ THỐNG THUẾ QUAN CÁC
NƯỚC
nước khu v
ực Nam Mỹ, Đông Âu, Bắc Phi, Đông Nam Á có nền kinh tế
phát triển ở mức trung bình, với mức thu nhập GDP trên đầu người ở
khoảng từ 1.000 tới 10.000 USD/năm. Một số quốc gia còn lại tập trung ở
Châu Phi, Nam Á có nền kinh tế kém phát triển với mức thu nhập GDP
trên đầu người dưới 1.000 USD. Bức tranh phát triển không đồng đều của
nền kinh tế các nước trên thế giới là một thực trạng b
ắt nguồn từ nhiều
nguyên nhân trong đó có những nguyên nhân mang tính lịch sử từ hình
thành và phát triển của mỗi quốc gia từ hệ thống quan hệ sản xuất cho tới
lực lượng sản xuất.
Như chúng ta đã biết, mỗi quốc gia có những lợi thế so sánh riêng xuất phát
từ những nét đặc thù của vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con
người và cả mức độ phát triển của nề
n kinh tế như đã đề cập ở trên Chính
những lợi thế so sánh khác nhau của các quốc gia đã tạo nên nhu cầu phân
công lao động quốc tế nhằm thu được hiệu quả cao nhất cho mỗi quốc gia.
Quá trình phân công lao động quốc tế phát triển sâu sắc sẽ làm cho các nền
kinh tế của các quốc gia khác nhau ngày càng phụ thuộc vào nhau, dòng vốn
đầu tư, dòng hàng hoá trao đổi giữa các quốc gia tăng lên mạnh mẽ. Chính
những yêu cầu xu
ất phát từ thực tế này đã dẫn tới khái niệm mới thường
được sử dụng hiện nay là Toàn cầu hoá, một mức độ phát triển rất cao của
phân công lao động quốc tế. Toàn cầu hoá là quá trình tăng cường hợp tác
phát triển giữa các quốc gia cả song phương và đa phương trong lĩnh vực
kinh tế cũng như trong các lĩnh vực khác như xã hội, khoa học kỹ thuật, văn
hoá, an ninh Xu hướ
ng toàn cầu hoá đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của
Trên nguyên tắc này các bên giành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng
tương xứng nhau trong quan hệ buôn bán với nhau. Mức độ ưu đãi và điều
kiện nhân nhượng phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham gia. Bên
yếu hơn thường bị lép vế và thường bị buộc chấp nhận những điều kiện do
bên có thế lực kinh tế mạnh hơn đưa ra. Ngày nay các nước ít áp dụng
nguyên tắc này trong quan hệ
buôn bán với nhau.
Nguyên tắc “Đãi ngộ tối huệ quốc - MFN” Most Favoured Nation
TreatmentĐây là nguyên tắc không phân biệt đối xử “Non Discrimination”. Nghĩa là
các bên tham gia trong quan hệ kinh tế buôn bán sẽ dành cho nhau những
điều kiện ưu đãi không kém hơn những ưu đãi mà mình đã hoặc sẽ giành
cho các nước khác.
Nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:
+ Cách 1
: Tất cả những ưu đãi và miễn giảm mà một bên tham gia trong các
quan hệ kinh tế thương mại quốc tế đã hoặc sẽ giành cho bất kỳ một nước
thứ ba nào thì cũng giành cho bên tham gia kia được hưởng một cách vô
điều kiện.
+ Cách 2
: Hàng hoá di chuyển từ một bên tham gia trong quan hệ kinh tế
thương mại này đưa vào lãnh thổ của bên tham gia kia sẽ không phải chịu
mức thuế và các phí tổn cao hơn những thuế quan và những thủ tục phiền
toái hơn những thuế quan và thủ tục đang hoặc sẽ được áp dụng đối với
(GSP) dành cho các nước đang phát triển, tuy nhiên hệ
thống chung này
không mang tính cam kết và phạm vi áp dụng chỉ hạn chế ở một số mặt hàng
xuất khẩu thành phẩm và ban thành phẩm có xuất xứ từ các nước đang phát
triển. Nguyên tắc MFN được các nước áp dụng dưới các hình thức khác
nhau, nhưng nhìn chung có hai cách áp dụng như sau:
+ Áp dụng chế độ tối huệ quốc có điều kiện: Quốc gia được hưởng tối huệ
quốc phải chấp nh
ận thực hiện những điều kiện mà quốc gia và chính phủ
quốc gia cho hưởng đòi.
+ Áp dụng chế độ tối huệ quốc vô điều kiện.
Nguyên tắc MFN là nguyên tắc “không phân biệt đối xử “ nhưng thực tế nó
chính là nguyên tắc phân biệt đối sử giữa các nước trong quan hệ buôn bán.
Sự phận biệt đối sử này được thể hiện trên những mặt sau:
+Trình độ phát tri
ển kinh tế của các nước có sự chênh lệch lớn, áp dụng chế
độ ưu đãi chung trong quan hệ buôn bán với nước giàu và nghèo, sẽ dẫn tới
lợi ích kinh tế thu được của các nước này rất chênh lệch nhau, các nước
nghèo hơn sẽ bất lợi trong thương mại khi được sử dụng chế độ MFN như
các nước giàu khác. Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
Mỹ rất cao trong khi đó hàng hoá Việt nam với chất lượng chưa cao rất khó
cạnh tranh với các bạn hàng khác trên thị trường Mỹ.
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Parity - NP)Các công dân của các bên tham gia trong quan hệ kinh tế thương mại được
hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ như nhau (trừ quyền bầu cử, ứng cử và
tham gia nghĩa vụ quân sự). Điều này có nghĩa là mọi công dân, công ty
nước A khi sống và đặt trụ sở tại nước B thì được hưởng các quyền lợi và
nghĩa vụ như công dân và công ty của nước B và ngược lại trong trường hợp
nướ
c A và B ký kết hiệp định thương mại - kinh tế dựa trên nguyên tắc
ngang bằng dân tộc (NP).
CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CÁC NƯỚC TƯ BẢN PHÁT TRIỂN Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
6
Mỗi nước đều có chính sách ngoại thương riêng của mình, phù hợp với
đường hướng phát triển kinh tế của mình. Những chính sách ngoại thương
này thuộc hai xu hướng như sau:
- Chính sách mậu dịch tư do
- Chính sách bảo hộ mậu dịch
lần đầu tiên xuất hiện ở nước Anh “cái nôi” của chủ nghĩa tư bản. Nước Anh
lúc bấy giờ là cường quốc công nghiệp, sản xuất bằng máy thay thế lao động
thủ công đã khiến chi phí sản xuất thấp, hàng hoá dồi dào so với các nước
láng giềng chậm phát triển h
ơn như Pháp, Đức, Nga. Chính nhờ thực hiện
chính sách mậu dịch tự do đã giúp cho các nhà tư bản Anh xâm chiếm nhanh
chóng thị trường thế giới, khiến các nước này phải thi hành chế độ bảo hộ
mậu dịch để chống lại sự xâm lăng hàng hóa ồ ạt từ nước Anh. Nhưng sau
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
7
này nền kinh tế các nước phát triển mạnh thì chính sách mậu dịch tự do thay
thế cho chính sách bảo hộ mậu dịch.
+ Thực hiện chính sách mậu dịch tự do không đồng nghĩa với việc làm suy
yếu vai trò của nhà nước trong quan hệ thương mại quốc tế. Nguợc lại việc
tạo điều kiện tự do phát triển thương mại trên thị trường nội địa nhằm làm
suy yếu hoặc xoá bỏ chính sách bảo hộ mậu dịch ở các nước khác tạo cơ sở
để các nhà kinh doanh nội địa dễ dàng xâm nhập và phát triển thị trường
mới.
Tuy nhiên thực hiện chính sách mậu dịch tự do cung có nhiều nhược điểm
điển hình như sau:
+ Thị trường trong nước điều tiết chủ yếu bởi qui luật tự do cạnh tranh cho
nên nền kinh tế dễ r
ơi vào tình trạng khủng khoảng, phát triển mất ổn định.
+ Những nhà kinh doanh sản xuất trong nước phát triển chưa đủ mạnh thì dễ
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
8
+ Giảm bớt sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu với hàng hoá sản xuất trong
nước.
+ Bảo hộ các nhà sản xuất kinh doanh trong nước, giúp họ tăng cường sức
mạnh trên thị trường nội địa.
+ Giúp các nhà xuất khẩu tăng cường sức mạnh để cạnh tranh xâm chiếm thị
trường nước ngoài.
+ Giúp điều tiết thanh toán quốc gia, sử dụng hợp lý nguồ
n ngoại tệ thanh
toán của mỗi nước.
Nhược điểm: Nếu bảo hộ mậu dịch quá chặt thì:
+ Làm tổn thương tới sự phát triển thương mại quốc tế sẽ dẫn đến sự cô lập
kinh tế của một nước đi ngựơc lại xu thế của thời đại ngày nay là: Quốc tế
hoá đời sống kinh tế toàn cầu.
+ Bảo hộ quá chặt dẫn tới điều kiện để phát triển sự bảo thủ và trì trệ trong
các nhà kinh doanh nội địa, kết quả là thiếu động lực để thúc đẩy sự phát
triển và hoàn thiện kinh tế trong nước.
+ Nhiều nước bảo hộ quá chặt dẫn đến thiệt hại cho người tiêu dùng trong
nội địa bởi thị trường hàng hoá kém đa dạng, mẫu mã kiểu dáng chất l
Trong thập niên 50 và đầu những năm 60 hầu hết các nước chậm phát triển ở
Châu á, Châu Mỹ la tinh đều xây dựng chế độ đóng cửa kinh tế mà nội dung
chủ yếu của nó là thi hành chính sách tự lực cánh sinh để phát triển kinh tế.
Thi hành chính sách thay thế nhập khẩu tức là kinh tế chủ yếu theo hướng tự
đáp ứng nhu cầu trong nước. Chính sách đóng cửa kinh tế có những đặc
điểm như
sau:
+ Nền kinh tế phát triển theo hướng tự đáp ứng nhu cầu trong nước.
+Về ngoại thương, các nước chủ chương chỉ xuất khẩu những gì sau khi đã
thoả mãn những nhu cầu trong nước.
+Không khuyến khích nước ngoài đầu tư vốn, chủ yếu sử dụng hình thức
vay vốn để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu.
Nhưng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng nhi
ều nước chậm và đang
phát triển lựa chọn chiến lược đóng của kinh tế:
+Khi được giải phóng khỏi chế độ thuộc địa, nhiều nước chậm và đang phát
triển cắt đứt mối quan hệ kinh tế với các nước thực dân đế quốc chưa kịp
thiết lập mối quan hệ kinh tế mới với các nước khác trên thế giới. Do đó để
duy trì s
ự phát triển kinh tế của đất nước họ đã lựa chọn con đường tự lực
cánh sinh để thoả mãn nhu cầu trong nước.
+ Một số nước sau khi được trao trả độc lập vẫn tiếp tục nhận được những
khoản viện trợ của những nước khác, nhưng những hàng viện trợ này chủ
yếu là lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, thuốc men và phần lớ
n là vũ
khí đạn khí tài. Cho nên muốn thoát khỏi đói nghèo thì các nước đã chọn
chậm và đang phát triển.
+ Cải thiện tình trạng mất cân đối về thu chi tài chính quốc tế nhờ đẩy mạnh
xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại tệ, giảm bớt vay nợ nuớ
c ngoài.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Thế
giới (World Bank) khi nghiên cứu một nhóm nước có nền kinh tế đang phát
triển theo 2 khuynh hướng đóng cửa và mở cửa đã đưa ra kết luận: Nhóm
hướng ngoại có tốc độ tăng trưởng bình quân nhanh hơn 5% so với các nước
đi theo chiến lược nội.
+Thu hút đầu tư nước ngòai tạo điều kiện cho các nước chậ
m và đang phát
triển không nhưng gia tăng tốc độ phát triển mà còn tăng khả năng tiếp thu
trình độ khoa hoc và kinh nghiệm phát triển kinh doanh của các nước có nền
kinh tế phát triển.
+Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của các ngành xuất khẩu, các xí nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài mà còn tăng khả năng thu hút lao động giải quyết
công ăn việc làm giảm bớt nạn thất nghiệp.
+ Nhờ phát tri
ển xuất khẩu mà số lượng hàng hoá sản xuất không ngừng
tăng lên (do thị trường được mở rộng) mà chất lượng hàng hoá tăng (do phải
đáp ứng nhu cầu khắt khe của khách hàng nước ngòai đối với chất lượng sản
phẩm).
+ Nhờ tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế mà các lợi thế của
một đất nước được khai thác có hiệu quả và kinh tế hơn. Công ty tài trợ
Công nghiệp Thái lan đã tính r
ằng, để tiết kiệm một đô la trong sản xuất
nguyên một bên là các ngành xuất khẩu và phục vụ xuất khẩu phát triển với
tốc độ nhanh nhờ được ưu tiên đầu tư và đổi mới trang thiết bị, còn một bên
là các ngành chỉ phục vụ nhu cầu nội địa thị bị coi nhẹ ít đầu tư về vốn, kỹ
thuật, năng xuất lao động thấp. Ngoài ra giữa các vùng trong một nước cũng
có sự phát triể
n chênh lệch: vùng thành thị, khu công nghiệp phát triển
nhanh theo phương hướng hiện đại, dân cư tập trung đông đúc, trong lúc đó
ở những vùng hẻo lánh cuộc sống chậm biến đổi dân cư ngày càng thưa thớt
đất đai không ai canh tác do nạn di dân ra thành thị. Do đó kinh nghiệm cho
thấy Chính phủ các nước đã sớm có chính sách di dân, phát triển vùng kinh
tế lạc hậu bằng các biện pháp ưu đãi cùng thực hiện song song chúng với
chính sách mở cửa kinh t
ế.
Chính sách mở cửa kinh tế là ưu tiên phát triển ngoại thương cùng với phát
triển mạnh mẽ kinh tế thị trường sẽ làm cho sự bất bình đẳng giữa các tầng
lớp cư dân diễn ra nhanh chóng trong lĩnh vực thu nhập. Tình hình này sẽ
làm cho mâu thuẫn về kinh tế gia tăng, xã hội rối ren, tính bình đẳng và dân
chủ của xã hội bị giảm sút.
III. CÁC BIỆN PHÁP THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN.
1. THUẾ QUAN
1.1 Khái niệm
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
ế quan có tác dụng tăng thu cho ngân sách quốc gia với chi phí rẻ hơn so
với nhiều loại thuế tiêu dùng, vì điểm thu thuế nhập khẩu ít hơn nhiều so với
các điểm của loại thuế tiêu dùng. Trong lịch sử xa xưa của Đế quốc La Mã
đã từng giàu có và hùng mạnh nhờ việc đánh thuế vào hoạt động buôn bán
hàng hoá bằng đường biển.
Thuế nhập khẩu có tác dụng giảm bớt n
ạn thất nghiệp vì sản phẩm thay thế
hàng nhập khẩu là do việc đánh thuế cao gây nên sẽ đòi hỏi mở thêm sản
xuất tạo thêm công ăn việc làm giải quyết bớt nạn thất nghiệp trong nội địa.
Thuế quan là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và gây áp
lực đối với các bạn hàng phải nhượng bộ trong đàm phán.
Thuế quan có thể có mấy loạ
i sau theo quan điểm mục đích đánh thuế:
+Thuế quan nhằm tăng thu ngân sách: vai trò của nó nhằm tăng thu nhập
cho ngân sách nhà nước, mức đánh thuế loại hình này thường là thấp. Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
13
+ Thuế quan bảo hộ nhằm đánh vào hàng xuất nhập khẩu để làm giảm giá
bán hàng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài và làm tăng giá hàng nhập khẩu
sao cho cao hơn hàng sản xuất trong nội địa. Nó có thể bao gồm thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu và thuế quá cảnh.
tháng 8/1971 và Mỹ bắt đầu áp dụng chế độ GSP vào năm 1976.
Nôi dụng chính của chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập là:
+Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩ
u từ các nước đang
hoặc kém phát triển.
+ GSP áp dụng cho các loại hàng công nghiệp thành phẩm hoặc bán thành
phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến. Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
14
+ Mục đích của việc áp dụng GSP là tạo điều kiện để các nước đang phát
triển thấy được khả năng tiềm tàng về mở rộng buôn bán phát sinh từ chế độ
GSP và tăng cường khả năng sử dụng chế độ này.
+ Tăng kim ngạch xuất khẩu của các nước được hưởng.
+ Thúc đẩy công nghiệp hoá các nước này.
+ Đẩy mạnh m
ức tăng trưởng kinh tế của những nước này.
+ Phổ biến thông tin về các quy định và thủ tục điều chỉnh buôn bán theo
chế độ này.
với Việt nam kể từ năm 1993 EU đã cho hưởng qui chế GSP đối với m
ặt
hàng dệt.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
15
2. CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN
2.1 Hạn ngạch (quota)Hạn ngạch là biện pháp quản lý của nhà nước qui định trực tiếp lượng hàng
hoá được phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu nhằm thực hiện mục tiêu bảo hộ.
Hạn ngạch nhằm thúc đẩy sản xuất trong nước, tăng thặng dư của người sản
xuất hàng hoá. Tuy vậy nó làm cho lượng hàng nhập khẩu nhỏ hơn lượng
hàng nhập trong thương mại tự
do đẫn đến tổng phúc lợi xã hội giảm, giá
của hàng hoá trong nước tăng nhưng thực tế giá của hàng hoá nhập khẩu
không tăng, tiêu dùng trong nước giảm, thăng dư của người tiêu dùng giảm.
Cơ chế quản lý bằng hạn ngạch có tác động không giống với thuế quan ở
chỗ nó cho biết trước số lượng hàng hoá được nhập khẩu hoặc xuất khẩu.
Điều tiế
t hệ thống kinh tế ngoại thương thông qua thuế quan sẽ làm tăng thu
ngân sách của chính phủ nhưng điều tiết bằng hạn ngạch chỉ làm tăng thu
- -
16
+ Dạng theo từng nước: Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế của từng nước mà
ta quy định danh sách những hàng hoá xuất hoặc nhập khẩu quản lý bằng
hạn ngạch. Ngoài ra còn có ca loại hạn ngạch cấp cho các loại hàng hoá xuất
hoặc nhập khẩu được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan.
2.2 Hàng rào kỹ thuật và các biện pháp bảo hộ khác.Hàng rào kỹ thuật: Ngoài các biện pháp điều tiết hoạt động ngoại thương
bằng hệ thống thuế quan và quản lý lượng hàng hoá xuất nhập khẩu bằng
hạn ngạch ngày nay do sức ép của tổ chức thương mại thế giới là phải tự do
hoá toàn cầu thì các nước công nghiệp phát triển còn bảo hộ sản xuất hàng
hoá trong nước bằng hình thức qui định về tiêu chuẩn kỹ
thuật của hàng hoá
nhập khẩu như bao gồm các quy định về mức độ an toàn kỹ thuật, an toàn
về vệ sinh thực phẩm, thuốc men, các quy diịnh về an toàn đối với môi
trường sống, các quy định về bao gói, nhãn hiệu… nhằm mục đính hạn chế
lượng hàng hoá nhập từ các nước khác tràn vào cạnh tranh gây khó khăn cho
các nhà sản xuất trong nước.
Các biện pháp bảo vệ mậu dịch khác:
+Hạn chế
xuất khẩu tình nguyện (VER- Voluntary Export Restraints) là
hình thức bảo hộ thì trường nội địa bằng hình cách nhà nước nhập khẩu đòi
hỏi các nước xuất khẩu phải giảm hàng xuất khẩu sang nước mình hoặc phải
nâng giá hàng xuất khẩu lên nếu không sẽ áp dụng các biện pháp cứng rắn
hơn (như thuế nhập khẩu, hạn ngạch, hoặc cắt các ưu đãi…)
+ Trợ giá hàng xuất khẩu, đảm bảo tín dụng hàng xuất khẩu hay nhà nước
thực hiện tín dụng xuất khẩu: Mục đính là nhà nước hỗ tr
ợ các doanh nghiệp
xuất khẩu nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh của hàng
hoá nước mình trên thị trường quốc tế. CHƯƠNG II
KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI
THUẾ QUAN PHỔ CẬP (GSP)
n có di có laị
và không phân biệt đối sử.
Hệ thống GSP là một hệ thống mà theo đó các nước phát triển, được gọi là
các nước cho hưởng, cho các nước đang phát triển, đựơc gọi là các nước
được hưởng, hưởng chế độ ưu đãi bằng cách giảm hoặc miễn thuế, Chế độ
ưu đãi được xây dựng trên cơ sở không có sự phân biệt đối sử và không đòi
hỏ
i bất kỳ nghĩa vụ nào từ phía các nước đang phát triển.
Trên cơ sở hệ thống GSP, mỗi quốc gia xây dựng một chế độ GSP cho riêng
mình với những nội dung, qui định, mức ưu đãi khác nhau tuy nhiên mục
tiêu của GSP vẫn được đảm bảo.
Chế độ GSP được các cơ quan lập pháp của các nước cho hưởng ưu đãi ban
hành thành các văn bản pháp luật có hiệu lực cho từng th
ời kỳ nhất định có
thể là 1 năm, 10 năm hoặc vài ba chục năm. Thí dụ năm 1971 Nhật bản hành
chế độ GSP của mình đến 31/3/2001. Năm 1971 EU và 1976 Mỹ công bố
chế độ GSP của họ có hiệu lực trong 10 năm sau và khi hết hạn họ lại công
bố cho 10 năm tiếp theo. Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
19
Thông thường trong các chế độ GSP của các nước cho hưởng ưu đãi thường
qui định về các vấn đề sau:
+ Thuế xuất GSP đánh vào hàng của các nước hưởng chế độ GSP của Nhật
+ Thuế xuất tạm thời phục vụ cho chính sách đIều tiết thương mại và đánh
vào các mặt hàng do chính phủ Nhật công bố.
Hệ thống GSP được thảo thuận trong phạm vi UNCTAD từ những năm 60
tới đầu những nă
m 70 đã được đưa vào áp dụng. Các nước đi tiên phong
trong việc này là Liên xô cũ (áp dụng từ năm 1965) và úc (áp dụng từ
năm1966), Nhật, EU, Na uy áp từ năm 1971; Bungary, Hunggary, Séc, áo,
Phần lan, Thuỵ sỹ, Thuỵ điển, Newzeland áp dụng từ năm 1972; Mỹ, Ban
lan áp dụng từ năm 1976.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
20
Tác dụng của GSP là tạo ra một lợi thế cho các nước đang phát triển và
chậm phát triển trong việc nâng cao sức canh tranh của hàng hoá do các
nước này xuất khẩu vào các nước cho hưởng ưu đãi nhờ có biện pháp giảm
hay miễn thuế cho các hàng hoá đó.
2. NƯỚC CHO HƯỞNG ƯU ĐÃI VÀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI GSP
Hiện nay có 16 chế độ ưu đãi khác nhau đang hoạt động tại 28 nước phát
triển bao gồm 15 thành viên của EU gồm:
1. Nhật 6. Hunggary 11. Canada
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) mà EU dành cho Việt nam
- -
21
Tại hội nghị trên đã đưa ra kiến nghị thành lập một nhóm chuyên gia Liên
chính phủ đễ đánh giá GSP trong năm 1995 và đưa ra các kiến nghị về đơn
gian hoá, hợp lý hoá và cải tiến quy chế xuất xứ hệ thống GSP.
3.NƯỚC ĐƯỢC HƯỞNG ƯU ĐÃI
Đến hết năm 2002 EU đã giành cho 144 nước và 36 vùng lãnh thổ được
hưởng. Tương tự ta thấy Úc: 56 nước và vùng lãnh thổ, Nhật: 183 nước và
vùng lãnh thổ….
Trong hệ thống GSP của tất cả các nước giành ưu đãi có hai loại đối tượng
nước được hưởng là: Các nước đang phát triển và các nước kém phát triển
(LDC) theo tiêu chuẩn của Liên hợp quốc. Theo tiêu chuẩn này các nước
Đông nam á: Campuchia, Lào, Miến điện là các nước kém phát triển, Việ
t
nam là nước đang phát triển.
Các nước kém phát triển được hưởng ưu đãi cao hơn các nước đang phát
triển cả về mức ưu đãI và không bị hạn chế số lượng trần (Ceiling) và một
số các tiêu chuẩn khác. Có một số nước cho hửơng ưu đãi giành cho các
nước kém phát triển chế độ miễn thuế cho toàn bộ các loại sản phẩm của
nước đó hoặc là có qui ch
ế đặc biệt cho nước kém phát triển.
Một số nước bị loại ra khỏi quy chế GSP với nhiều dạng khác nhau, thông
thường có hai cách là: nước trưởng thành và hàng trưởng thành. Lý do là các
nước cho hưởng lo ngại về sự cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu theo GSP
trình thông báo, không thể hoàn thành các thủ tục quy định cần thiết, không
đáp ứng được các yêu cầu của các nước cho hưởng ưu đãi đề ra và làm mất
cơ hội thực hiện các ưu đãi.
Thông thường khi ban hành chế độ ưu đ
ãi (GSP scheme) thì các nước cho
hưởng ưu đãi công bố danh sách các nước được hưởng GSP vào từng thời
kỳ hàng năm có công bố lại hoặc bổ xung các nước mới vào danh sách ưu
đãi hoặc loại bỏ nước nào ra khỏi danh sách đó.
Thí dụ: từ 1993 đến 1995 các nước đã bổ xung vào danh sách hưởng GSP
của các nước cho hưởng ưu đãi như sau:
+ Canada cho Nam phi hưởng ưu đãi GSP
+ Mỹ cho Albany, Séc và Slovakia, Nga, Kirgistan, Kazactan, Rumany,
Ucraina, Nam phi được hưởng GSP củ
a Mỹ. Nhưng loại Syria, Mauritania
ra khỏi GSP của Mỹ vì lý do quyền con người bị xâm phạm tại các nước này
hoặc do thu nhập GDP đầu người cao như tại Israel.
+Từ 1/4/1993 Nhật đưa Croatia, Slovenia, Séc & Slovakia vào danh sách
được hưởng GSP và từ 1/4/1995 đưa thêm Albany, Nga, Ucraina, Nam phi,
Latvia, Lithuania, Macedonia, Moldova, Turmenistan, Armenia, Belarus,
Estonia, Kazastan.
HÀNG HÓA ĐƯỢC HƯỞNG ƯU ĐÃI VÀ MỨC ĐỘ ƯU ĐÃI
4.1 Hàng hoá được hưởng ưu đãi
- Thị lợn, thịt bò là sản phẩm EU sản xuất nhiều cần bảo hộ cho nên
hai mặt hàng này không thuộc diện hưởng GSP và chịu thuế nhập khẩu rất
cao (gần 100%).
Hầu hết các biểu thuế nhập khẩu của các nước đều có ghi rõ mức thuế ưu đãi
dành cho các mặt hàng thuộc diện được hưởng GSP theo từng loại hàng hoá
với 6 - 8 chữ số hệ số để các doanh nghiệ
p dễ dàng xác định hàng hoá của
mình có được hưởng GSP hay không và mức thuế ưu đãi là bao nhiêu. Việc
làm này còn giúp định hướng được các dự án đầu tư lâu dài và xác định thị
trường tiêu thụ sản phẩm của các nhà kinh doanh cũng như nhà sản xuất.
4.2 Mức độ ưu đãi
Thường thì mức độ ưu đãi của đa số các mặt hàng được tính bằng khoảng
cách giữa thuế suất MFN và thuế suất GSP được công bố trong các biểu
thuế nhập khẩu của từng mặt hàng của nước dành ưu đãi.
Mức độ ưu đãi phổ biến đối với đa số sản phẩm được hưởng GSP là được
giảm 50% mức thuế
MFN.
Ví dụ:
Chế độ ưu đãi GSP Scheme của Nhật có 67 mặt hàng được giảm 50%
thuế suất so với thuế suất MFN.
Đối với GSP Scheme của Mỹ thì tất cả hàng hóa hưởng GSP đều được miễn thuế.
GSP Scheme mới của EU (từ năm 1995) phân chia hàng thuộc diện được
hưởng ưu đãi thành 04 nhóm với mức ưu đãi đối với từng nhóm:
Nhóm rất nhậy cảm : Giảm 15 % thuế MFN
Nhóm nhậy cảm : Giảm 30 % thuế MFN
Nhóm bán nhậy cảm : Giảm 65% thuế MFN
Nhóm không nhậy cảm : Miễn thuế
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thanh Hương A2CN9
trong đó qui định các tiêu chuẩn về xuất xứ
phải tuân thủ để được hưởng
thuế quan ưu đãi. Mục tiêu của quy tắc xuất xứ là để đảm bảo sản phẩm có
xuất xứ từ nước được hưởng ưu đãi về thuế quan trong GSP nhận được ưu
đãi đúng đối tượng.
Nội dung cơ bản của xuất xứ bao gồm:
Các tiêu chuẩn xuất xứ.
Đi
ều kiện gửi hàng.
Bằng chứng, chứng từ để chứng minh các điều kiện trên.
Ngoài ra còn các qui định bổ sung cũng phải được tuân thủ theo để được
hưởng thuế quan ưu đãi.
5.2 Các tiêu chuẩn xuất xứ
Tiêu chuẩn xuất xứ chỉ ra cách xác định nước xuất xứ của sản phẩm. Có 2
tiêu chuẩn xuất xứ được các nước cho hưởng sử dụng đó là: tiêu chuẩn “xuất
xứ toàn bộ ” và tiêu chuẩn “xuất xứ có thành phần nhập khẩu ”.