đánh giá tác động của chính sách giao đất giao rừng đến sinh kế của người cơ tu và tà ôi, huyện a lưới, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT
GIAO RỪNG ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI CƠ TU VÀ TÀ ÔI,
HUYỆN A LƯỚI, TỈNH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Mã số: DHH 2012-01-23
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Mỹ Vân
HUẾ - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT
GIAO RỪNG ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI CƠ TU VÀ TÀ ÔI,
HUYỆN A LƯỚI, TỈNH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Mã số: DHH 2012-01-23

Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài

Nguyễn Thị Mỹ Vân
HUẾ - 2014
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA
1. Nguyễn Tư Hậu
2. Nguyễn Hữu An
i

2.1.1. Hình thức giao rừng và thời gian triển khai các chương trình
2.1.2. Sự tham gia của người dân
2.1.3. Sự hiểu biết của người dân về chính sách GĐGR
2.1.4. Sự hưởng lợi của người dân khi tham gia quản lý bảo vệ rừng
2.2. Thực trạng việc giao đất lâm nghiệp để trồng rừng
2.2.1. Sự tham gia của người dân trong hoạt động trồng rừng
2.2.2. Lựa chọn cây trồng
2.2.3. Lý do trồng rừng
CHƯƠNG 3. TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH GĐGR
ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CƠ TU VÀ TÀ ÔI Ở HUYỆN A LƯỚI,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
3.1. Tác động của việc triển khai chính sách GĐGR đến các nguồn vốn sinh
kế của các hộ gia đình tộc người Cơ Tu và Tà Ôi ở huyện A Lưới
3.1.1. GĐGR tác động đến nguồn vốn con người của địa phương
3.1.2. Tác động đến nguồn vốn vật chất của hộ gia đình
3.1.3. Tác động đến nguồn vốn tự nhiên của người dân địa phương
3.1.4. Tác động đến nguồn vốn xã hội của cộng đồng
3.1.5. Tác động đến nguồn vốn tài chính của hộ gia đình
3.2. Tác động của việc triển khai chính sách GĐGR đến các hoạt động sinh
kế của người Cơ Tu và Tà Ôi
3.2.1. GĐGR góp phần làm đa dạng hóa các hoạt động sinh kế của người
dân
3.2.2. GĐGR và những thay đổi về phương thức sản xuất
3.2.3. GĐGR và những thay đổi về hoạt động sinh kế truyền thống của
cộng đồng
3.3. Tác động của việc triển khai chính sách GĐGR đến các nguồn tài
nguyên và hệ sinh thái địa phương
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
iii
Kết luận

Hình 10. Trình độ học vấn của người dân, theo tộc người
Hình 11. Trình độ học vấn của người dân, theo nhóm hộ
Hình 12. Các hình thức giao rừng tự nhiên, theo địa bàn xã
Hình 13. Sự hưởng lợi của người nhận rừng
Hình 14: Lý do tham gia trồng rừng tại địa bàn nghiên cứu
Hình 15. Các loại tài sản chính trong gia đình hiện nay
Hình 16. Tình hình an ninh lương thực của hộ gia đình được khảo sát
Hình 17. Diễn biến về diện tích cây cao su trên địa bàn huyện A Lưới
Hình 18. Đánh giá của người dân về sự thay đổi tài nguyên tại địa phương
vi
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Thông tin chung:
- Tên đề tài: Đánh giá tác động của chính sách Giao đất giao rừng đến
sinh kế của người Cơ Tu và Tà Ôi, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Mã số: DHH 2012- 01-23
- Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Mỹ Vân Tel.: 0903.549.549
E-mail:
- Cơ quan chủ trì đề tài: Đại học Khoa học Huế
- Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Nguyễn Tư Hậu, Nguyễn
Hữu An – Khoa Xã hội học, Đại học Khoa học Huế
- Thời gian thực hiện: 24 tháng (1/2012-12/2013)
2. Mục tiêu:
Mục tiêu tổng quát: đánh giá tác động của tiến trình giao đất giao rừng
đến sinh kế của hai dân tộc thiểu số Cơ Tu và Tà Ôi ở huyện A Lưới, tỉnh
Thừa Thiên Huế
Mục tiêu cụ thể:
1) Tìm hiểu tiến trình giao đất giao rừng tại địa bàn nghiên cứu.
2) Đánh giá tác động của chính sách giao đất giao rừng đến sinh kế của
người Cơ Tu và Tà Ôi trên địa bàn
3) Đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm quản lý tốt hơn nguồn tài

kế cho sinh viên chuyên ngành Xã hội học.
6. Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng
áp dụng:
- Kết quả nghiên cứu đã được đăng trong 2 tạp chí chuyên ngành cấp
Trung ương và 2 bài tham luận tại Hội thảo quốc gia về Biến đổi khí hậu năm
2012 và cấp tỉnh về Giao đất giao rừng năm 2013.
viii
- Những kết quả này là nguồn thông tin phản hồi rất có ích cho các nhà
quản lý, các nhà hoạch định chính sách trong việc điều chỉnh, bổ sung chính
sách GĐGR –một trong những chính sách quan trọng nhất của Việt Nam về
quản lý tài nguyên rừng. Các khuyến nghị được đề xuất trong đề tài là cơ sở
thực tiễn có giá trị để thay đổi phù hợp hơn với bối cảnh địa phương, đặc biệt
là ở các huyện miền núi nghèo như A Lưới.
Ngày tháng năm
Cơ quan chủ trì Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ và tên, đóng dấu) (ký và ghi rõ họ tên)
ix
INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1. General information:
Project title: Impact Assessment of Forest land allocation policy to
the livelihoods of the Co Tu and Ta Oi people in A Luoi district, Thua
Thien Hue Province
Code number: DHH 2012-01-23
Coordinator: Nguyen Thi My Van
Implementing institution: Hue University of Sciences
Cooperating institution(s):
Duration: from 01/2012 to 12/2013
2. Objective(s):
Overall objective: Assess the impact of the Forest land Allocation
process on the livelihoods of the Co Tu and Ta Oi people in Luoi District,

implemented, which proposed recommendations based on practicality of the
study area
5. Products:
- There are two papers published in professional journals and Ethnic
Studies Southeast Asian Studies.
- Supervising 04 undergraduate thesises related to forest land allocation
and livelihood for students in Sociology.
6. Effects, transfer alternatives of research results and applicability:
- The study results were published in two journals at the central level
and 2 presentations at the National Workshop on Climate Change in 2012 and
the provincial forest land allocation in 2013.
xi
- These results are the source of feedback is very useful for managers,
policy makers in the adjustment, additional land allocation policy- one of the
most important policies on management of Vietnam in forest resources
management. The recommendations proposed in this study is to base practical
value to change more in line with the local context, especially in the poor
mountainous districts in Vietnam.
xii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
CIFOR Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế
DFID Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
DTTS Dân tộc thiểu số
FAO Tổ chức Lương Nông của Liên Hợp Quốc
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GĐGR Giao đất giao rừng
KHKT Khoa học kỹ thuật
LSPG Lâm sản phi gỗ

của nhà nước trong quản lý rừng. Nhân loại đã nhận thức được rằng các giải pháp
“từ trên xuống” (top-down) trong quản lý rừng của nhà nước đã không phát huy
hiệu quả. Từ đó, các chính sách quản lý rừng của nhiều nước trên thế giới đã có
những thay đổi đáng kể. Phi tập trung hóa là một trong những định hướng quan
trọng trong quản lý rừng trên thế giới. Mặc dù vậy, sở hữu nhà nước về rừng vẫn
1
chiếm ưu thế. Hiện vẫn còn 86% diện tích rừng trên thế giới thuộc sở hữu công.
Châu Á, Châu Phi, Châu Âu là những khu vực có tỷ lệ rừng thuộc sở hữu công lớn
nhất thế giới với tỷ lệ tương ứng là 98%, 95% và 90% [FAO, 2011].
Bên cạnh đó, xu hướng phân quyền trong quản lý rừng đã được các nước
trên thế giới quan tâm và được định hướng trong các chính sách lâm nghiệp quốc
gia. Mỗi nước, tùy theo đặc thù về điều kiện của mình để tiến hành xây dựng các
chương trình lâm nghiệp quốc gia phù hợp. Một số nước chú trọng đến sự tham gia
của cộng đồng vào trong quản lý rừng và có nhiều thay đổi theo hướng có lợi cho
người nghèo như trường hợp Việt Nam, Lào và Bangladesh [Alam, 2009]. Ngoài ra
các nước còn thực hiện trao quyền sử dụng đất cho các cá nhân, hộ gia đình và các
tổ chức như ở Việt Nam, Trung Quốc và Philippine [Yasmi, 2010].
Bên cạnh sự phân quyền trong quản lý rừng, chính sách lâm nghiệp của các
nước cũng đã quan tâm nhiều hơn đến người dân miền núi. Hiện nay mối quan hệ
giữa sinh kế bền vững cho người dân miền núi và sự suy thoái tài nguyên rừng cũng
là một trong những chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Cuốn sách
“Rừng và lũ: Chìm đắm trong giả thuyết hay làm sáng tỏ bằng thực tế” được CIFOR
xuất bản năm 2005 đã đưa ra một cách nhìn mới, đúng đắn hơn về vai trò của rừng.
Từ việc nhìn nhận thực tế các trận lũ lịch sử ở Châu Á trong thời gian qua, nghiên
cứu đã chỉ ra những thói quen thường mắc phải là đổ lỗi cho người dân sống ở vùng
cao đối với những trận lũ thảm khốc trên toàn bộ các lưu vực sông, hoặc thổi phồng
các tác động tiêu cực mà người dân miền núi gây ra đối với môi trường. Những nhận
thức sai lầm này đã đẩy cuộc sống của người dân miền núi, vốn đã chịu nhiều thiệt
thòi, lại càng phải lún sâu hơn vào cảnh nghèo đói [CIFOR, 2005].
Tương tự, một nhóm tác giả khác đã chỉ ra mối quan hệ đặc biệt giữa rừng

và vĩnh cửu nhằm giảm thiểu tỷ lệ chặt phá rừng [UNDP, 2010].
Bên cạnh sự xuống cấp về tài nguyên rừng, các cuộc xung đột về kiểm soát
tài nguyên rừng cũng đang ngày càng gia tăng ở hầu hết các quốc gia, bất kể là
nước phát triển hay đang phát triển [Yasmi et al., 2010]. Một trong những vấn đề
quan trọng, gây tranh cãi nhiều nhất liên quan đến vấn đề xung đột trong quản lý
3
rừng là quyền hưởng dụng đất rừng. Nhiều nghiên cứu đã xác định rằng, đảm bảo
các quyền hưởng dụng đất rừng là một trong những điều kiện then chốt để hướng
tới quản lý rừng bền vững và là cơ chế quan trọng nhất để kiểm soát và quản lý
rừng ở cấp địa phương. Ngoài ra, đảm bảo các quyền hưởng dụng còn được xem là
nền tảng để đạt được sự công bằng xã hội, quyền con người và duy trì bản sắc văn
hóa cho người bản địa [FAO, 2010].
Tóm lại, tổng quan các nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu cho thấy, ở bất cứ
nơi đâu, rừng vẫn luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự sống của nhân loại. Trước
đây, người ta thường nhìn rừng dưới lăng kính kinh tế, vì vậy các chính sách đưa ra
chủ yếu với mục tiêu khai thác các lợi ích từ rừng mang lại mà không tính đến các
tác động của nó đối với các khía cạnh khác. Trong những thập niên vừa qua, khi
loài người đã chứng kiến sự suy thoái nghiêm trọng của tài nguyên rừng trên phạm
vi toàn cầu, cùng với những tác động của nó mang lại cho sự sống của nhân loại,
phương cách quản lý rừng của hầu hết các nước trên thế giới đã có nhiều thay đổi
theo hướng bền vững hơn, quan tâm đến quyền lợi của người dân sống gần rừng
hơn. Tuy nhiên, sự hưởng lợi của người nghèo vẫn luôn bị hạn chế. Mối quan hệ
giữa rừng và sinh kế của người nghèo vẫn còn nhiều vấn đề cần tranh luận.
Tiếp theo sẽ là phần tổng quan các nghiên cứu về chính sách GĐGR ở Việt
Nam được triển khai trên phạm vi cả nước trong suốt 20 năm qua, để từ đó rút ra được
những thành công và những hạn chế trong quá trình thực hiện.
1.2. Các nghiên cứu về chính sách GĐGR và sinh kế ở Việt Nam
Số liệu thống kê cho thấy trong vòng 15 năm từ 1976 đến 1990, Việt Nam đã
mất hơn 2,6 triệu ha rừng, chiếm khoảng 24% tổng diện tích rừng tự nhiên của cả
nước [Nguyễn Quang Tân và Thomas Sikor, 2012]. Sự suy kiệt rừng tự nhiên ở giai

chức, hộ gia đình và cá nhân.
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 đã quy định giao rừng cho tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân. Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 (thay thế
Luật năm 1991) đã bổ sung quy định giao rừng cho cộng đồng thôn bản và giao
5
rừng sản xuất là rừng trồng có thu tiền sử dụng rừng cho người Việt Nam định
cư ở nước ngoài.
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc hướng
dẫn thi hành Luật Đất đai.
- Công văn 592/BNN-LN ngày 29/3/2004 của Bộ NN&PTNT về việc tiếp
tục giao khoán quản lý bảo vệ rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh các đối tượng
rừng chưa đủ điều kiện để người dân hưởng lợi theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg
ngày 02/11/2001.
- Chỉ thị 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về rà
soát, quy hoạch 3 loại rừng.
- Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về việc hướng
dẫn thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng.
- Quyết định 106/2006/QĐ-BNN ngày 29/11/2006 của Bộ NN&PTNT về
việc ban hành quy chế quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn.
- Thông tư 70/2007/TT-BNN ngày 01/8/2007 của Bộ NN&PTNT về việc
hướng dẫn xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng
đồng dân cư thôn.
- Thông tư 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ NN&PTNT về hướng
dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân và cộng đồng dân cư thôn.
- Quyết định 112/2008/QĐ-BNN ngày 19/11/2008 của Bộ NN&PTNT về việc
ban hành Định mức kinh tế-kỹ thuật giao rừng, cho thuê rừng, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho mục đích lâm nghiệp gắn với việc lập hồ sơ quản lý rừng.

Hồng. Tỷ lệ nghèo đói cao nhất ở các vùng cao, vùng sâu vùng xa đó là vùng Đông
bắc, Tây bắc, Tây nguyên và các vùng dọc biên giới với Lào ở miền Trung Việt
Nam. Nhóm tác giả cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa tỷ lệ nghèo đói và diện tích
7
rừng. Những khu vực rừng tự nhiên lớn nhất nằm ở các vùng có ít người nghèo sinh
sống nhất nhưng tình trạng nghèo lan rộng và trầm trọng nhất. Đây cũng là nơi có
hiện tượng bất bình đẳng cao hơn mức trung bình của quốc gia. Từ những phát hiện
trên nhóm nghiên cứu đề xuất các chiến lược giảm nghèo của Việt Nam nên có
những chính sách quan tâm hơn đến sinh kế của nhóm người nghèo để họ có thu
nhập tốt hơn từ nguồn tài nguyên chủ yếu của họ đó là đất rừng.
Nghiên cứu của Bảo Huy (2006) về vấn đề hưởng lợi trong GĐGR tại Tây
Nguyên đã cho thấy một số hạn chế về cơ chế chính sách đã khiến cho sự hưởng lợi
của người dân sau khi nhận rằng đã không được đảm bảo. Tác giả cho rằng nếu
không có một cơ chế hỗ trợ cho người dân khi giao rừng thì không thể quản lý rừng
bền vững được. Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý rừng bền vững
gồm: (i) Hỗ trợ cộng đồng lập và thực hiện kế hoạch quản lý rừng 5 năm, hàng năm
và quy ước bảo vệ và phát triển rừng (ii) Phát triển khuyến lâm, (iii) Chế biến lâm
sản quy mô cộng đồngvà (iv) đào tạo cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp, khuyến lâm về kỹ
thuật, phương pháp tiếp cận có sự tham gia.
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã chỉ ra những bất cập về thủ tục trong quá
trình thực thi chính sách đã khiến cho hiệu quả của các chương trình không như
mong đợi. Điển hình như trong nghiên cứu của Đinh Đức Thuận [2005] cho thấy vì
các thủ tục quy định về sự hưởng lợi của người dân rất phức tạp, không rõ ràng nên
người dân không thực hiện được. Ngoài ra việc tiếp cận đến các văn bản pháp luật
của người dân cũng không phải dễ dàng, dẫn đến việc người dân vẫn khai thác gỗ
lén lút, bất hợp pháp. Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Quang Tân ở Đăk Lăk
cũng chỉ ra cơ chế hưởng lợi được đưa ra trong chương trình GĐGR tương đối khó
hiểu đối với người dân. Người dân không hiểu rõ ai/tổ chức nào sẽ giúp họ thực
hiện các quyền, hơn nữa các thủ tục hành chính cũng rất rườm rà, nhiêu khê. Để xin
giấy phép khai thác gỗ hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất mà người dân phải

nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, hộ gia đình, cộng đồng,
UBND các xã và các tổ chức khác. Trong các chủ thể này, cộng đồng chỉ được giao
quản lý 2,6% rừng tự nhiên và 1% rừng trồng [Bộ NN&PTNT, 2012].
9
Hình 1. Các chủ thể quản lý rừng tự nhiên ở Việt Nam
Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2012.
Thừa Thiên Huế cũng là một trong những tỉnh đi đầu cả nước về thực thi
chính sách GĐGR, vì vậy chủ đề này cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học trong và ngoài nước. Sau đây là một số công trình nghiên cứu điển hình về
lĩnh vực này:
Nghiên cứu về “Quản lý rừng cộng đồng và sinh kế của nông hộ ở thôn Thủy
Yên Thượng, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” do nhóm tác giả trường Đại học
Kinh tế Huế thực hiện năm 2010, nhằm đánh giá những thành công và hạn chế của
mô hình quản lý rừng cộng đồng ở Thủy Yên Thượng, huyện Phú Lộc. Đây là mô
hình thí điểm đầu tiên ở tỉnh Thừa Thiên Huế về giao rừng cho cộng đồng quản lý.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 9 năm triển khai mô hình, thu nhập của người dân
tăng lên gần gấp 2 lần so với trước, hoạt động khai thác rừng tự nhiên giảm mạnh,
tình trạng khai thác rừng trái phép giảm hẳn, rừng được quản lý tốt hơn, sinh kế của
người dân được cải thiện hơn [Bùi Dũng Thể và cs., 2010].
Luận văn thạc sĩ với tiêu đề “Effects of Forest Land Allocation on the
Livelihoods of the Local Co Tu Men and Women in Central Vietnam”, tạm dịch là
“Ảnh hưởng của giao đất giao rừng đến sinh kế của người Cơ Tu ở miền Trung Việt
Nam”, do một học viên người Phần Lan thực hiện vào năm 2012. Luận văn đã vận
dụng tiếp cận sinh kế bền vững để phân tích những thay đổi về điều kiện sống của
10

Trích đoạn TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status