tác động của quy chế kinh tế phi thị trường (nme) đối với thương mại quốc tế việt nam - Pdf 24

Nguyễn Phương Thảo
MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU
Để được gia nhập WTO, bên cạnh những nhượng bộ về cắt giảm trợ cấp,
mở cửa thị trường cho một loạt mặt hàng, mở cửa thị trường tài chính, Việt
Nam cũng phải chấp nhận bị giữ lại trong danh sách các nước bị coi là có
“nền kinh tế phi thị trường” trong vòng 12 năm (từ ngày 01/01/2007 đến
chậm nhất là ngày 31/12/2018) với mục đích áp thuế chống bán phá giá và
thuế đối kháng. Cam kết này có những tác động như thế nào đến các quan
hệ thương mại quốc tế của Việt Nam? Giải pháp nào để đối phó với vấn đề
này? Trong bài viết này sẽ đưa ra những phân tích, nhận định để giải quyết
các vấn đề vừa đặt ra.
B. NỘI DUNG
1. Khái niệm kinh tế phi thị trường (NME) và vấn đề Việt Nam
chấp nhận bị coi là một nước NME khi gia nhập WTO:
1.1. Khái niệm và đặc điểm của nền kinh tế phi thị trường:
Khái niệm kinh tế phi thị trường được sử dụng từ cuối những năm 1980,
đầu những năm 1990 để chỉ nền kinh tế các nước Trung và Đông Âu, Liên Xô,
Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác; theo đó, nền kinh tế phi thị trường
được hiểu là nền kinh tế tập trung, mà trong đó, các hoạt động kinh tế được dựa
trên kế hoạch hàng năm (thường do một cơ quan nhà nước soạn thảo).
Hiện nay WTO vẫn chưa hề có một quy định cụ thể để giải thích thế nào là
nền kinh tế phi thị trường, mà chỉ là các thành viên cũng như cộng đồng quốc tế
ngầm thừa nhận khái niệm được nêu tại Điều khoản bổ sung thứ hai vào đoạn
1.2 của Điều VI GATT 1947: “ một nước mà thương mại hoàn toàn mang tính
chất độc quyền hoặc hầu như độc quyền hoặc toàn bộ giá trong nước do nhà
nước định đoạt ” thì có thể bị coi là phi thị trường. Ngoài ra không hề có một
tiêu chí cụ thể nào để xác định thế nào là một nền kinh tế phi thị trường.
Chính bởi WTO vẫn chưa có quy định rõ ràng, nên vấn đề xác định thế nào
là một nền kinh tế phi thị trường sẽ do pháp luật của mỗi quốc gia thành viên tự
xác định. Chẳng hạn, theo Đạo luật Thuế quan năm 1930 của Hoa Kỳ, việc một

nước này yêu cầu điều khoản NME đối với Việt Nam chính là vì họ sợ sự nhập
khẩu ồ ạt hàng Việt Nam vào thị trường nước họ, giống như hàng Trung Quốc
trước đó.
• Nguyên nhân chủ quan:
Thẳng thắn nhìn nhận thì việc Việt Nam bị coi là một nước NME không
phải là không có những nguyên nhân xuất phát từ chính Việt Nam. Trước hết, có
thể nhận thấy rõ là trong những năm 1980 nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn là
nền kinh tế tập trung, sự điều tiết của Nhà nước là chủ đạo; cho đến nay, trong
các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta khẳng định rằng chúng ta đang thực hiện
“chuyển đổi sang kinh tế thị trường”, nghĩa là chúng ta vẫn chưa là nền kinh tế
3
thị trường, và theo đó, việc bị coi là nền kinh tế phi thị trường cũng không hoàn
toàn là “gán ép” vô lý như nhiều ý kiến đưa ra.
Đồng thời, từ Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định nước ta có “nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” với một số đặc trưng cơ bản là:
- Kinh tế vận hành theo quy luật khách quan của nó, đồng thời với sự
quản lý, điều tiết của Nhà nước;
- Vai trò của nhà nước là hoàn thiện cơ chế, chính sách phân phối và
phân phối lại nguồn lực.
Rõ ràng là trong chính sách phát triển kinh tế của chúng ta thì vai trò điều
tiết của Nhà nước là rất lớn, điều này tạo ra cơ sở để các nước khác không thừa
nhận chúng ta là nền kinh tế thị trường.
1.3. Vài nét về cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về vấn đề NME:
Mặc dù tranh cãi rất nhiều trong quá trình đàm phán, nhưng cuối cùng Việt
Nam vẫn phải chấp nhận cam kết bị coi là NME trong vòng 12 năm (từ
01/01/2007 đến chậm nhất là 31/12/2018). Cam kết này được quy định chi tiết
tại đoạn 255 của Báo cáo của Ban công tác về việc Viêt Nam gia nhập WTO:
“Đại diện Việt Nam xác nhận rằng ngay cả khi gia nhập WTO, Điều IV của
GATT 1994, Hiệp định Thực hiện Điều IV của GATT 1994 (Hiệp định chống
bán phá giá) và Hiệp định về Trợ cấp về các biện pháp Chống trợ cấp(SCM) sẽ

tế thị trường chiểu theo luật quốc gia của nước nhập khẩu là Thành viên WTO,
các quy định tại tiêu mục (a) sẽ hết hiệu lực với điều kiện luật quốc gia của
nước Thành viên có quy định các tiêu chí về kinh tế thị trường tại thời điểm gia
nhập. Trong trường hợp, các quy định trong tiêu mục (a)(ii) sẽ hết hiệu lực vào
ngày 31/12/2018. Ngoài ra, nếu Việt Nam khẳng định được rằng các điều kiện
của nền kinh tế thị trường đã tồn tại tại một ngành cụ thể chiểu theo luật quốc
gia của nước nhập khẩu là Thành viên WTO, các quy định trong tiểu mục (a)
liên quan tới kinh tế phi thị trường sẽ không còn áp dụng cho ngành đó ”.
Như vậy, vấn đề NME sẽ chỉ tác động đến các doanh nghiệp Việt Nam
trong hai lĩnh vực là chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng. Và trong
thời gian này, nếu Việt Nam chứng minh được cho đối tác nào đó là chúng ta có
nền kinh tế thị trường chiểu theo các quy định của nước đó, thì đối tác đó sẽ
không được áp dụng quy định này. Hoặc là, khi một ngành sản xuất cụ thể nào
đó của chúng ta đảm bảo các điều kiện của nền kinh tế thị trường, thì các quy
định này sẽ hết hiệu lực với ngành đó.
2. Tác động của NME đối với quan hệ thương mại quốc tế của
Việt Nam:
2.1. Nguyên nhân của việc các nước NME thường bị áp thuế chống bán
phá giá và thuế đối kháng:
5
Sở dĩ cần phải làm rõ nội dung này bởi tác động của việc bị coi là NME đối
với Việt Nam cũng như các nước NME nói chung chủ yếu là liên quan đến vấn
đề bán phá giá và các biện pháp đối kháng.
Trước hết là tác động của NME tới vấn đề bán phá giá, chính là ở giá cả
hàng hóa. Chúng ta đều biết, căn cứ để xác định một mặt hàng bán phá giá là
dựa trên cơ sở các so sánh về giá cả. Trong khi đó, nếu là một nền kinh tế phi thị
trường thì vấn đề giá cả là do sự điều tiết (chủ quan) của Chính phủ, chứ không
phải dựa trên cơ sở tính toán hợp lý các chi phí sản xuất đầu vào – đầu ra (khách
quan). Do vậy mà sự so sánh về giá cả sẽ trở nên bất công bằng. Cho nên, theo
quy định tại Điều VI GATT 1994 cho phép nước nhập khẩu trong trường hợp

những tác động tích cực nhất định, chứ không hoàn toàn là bất lợi như quan
điểm của rất nhiều người.
Thứ nhất, trước khi có cam kết điều khoản về NME trong WTO, Việt Nam vẫn bị một số quốc
gia coi là nền kinh tế phi thị trường với thời hạn không xác định. Cam kết trong WTO đưa ra thời hạn tối đa cho
việc áp dụng quy chế này là 12 năm. Hết thời hạn này, dù có công nhận hay không thì các thành viên khác cũng
phải xóa bỏ các quy định NME đối với Việt Nam. Thậm chí, Việt Nam có cơ hội kết thúc sớm thời hạn này
nếu chứng minh được tính chất thị trường của nền kinh tế, phù hợp các tiêu chí quy định trong nội luật của nước
thành viên WTO.
Thứ hai, trong các vụ việc trước đây, Hoa Kỳ đã điều tra và kết luận tính chất phi thị trường của
toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, mặc dù các vụ kiện chỉ liên quan đến một ngành sản xuất nhất định. Điều này
làm hạn chế cơ hội của các ngành chứng minh những ưu thế sản xuất do điều kiện đặc thù về tự nhiên, lao
động của ngành mình. Tuy nhiên, theo cam kết trong WTO, nếu Việt Nam khẳng định được rằng các điều
kiện của kinh tế thị trường đã tồn tại trong một ngành cụ thể chiểu theo luật quốc gia của nước nhập khẩu là
thành viên WTO, các quy định trong tiểu mục liên quan tới kinh tế chưa phải là kinh tế thị trường sẽ không còn
áp dụng được cho ngành đó. Điều này có nghĩa một số ngành kinh tế của Việt Nam có cơ hội chứng minh
tính chất thị trường của mình ngay cả khi Việt Nam vẫn chịu quy chế phi thị trường. Đó là cơ hội quan trọng
cho các doanh nghiệp hạn chế rủi ro khi vướng vào các vụ kiện phá giá.
Thứ ba, quy định này sẽ là yếu tố khách quan thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế của Việt Nam
hoàn toàn sang kinh tế thị trường (đương nhiên vẫn có định hướng xã hội chủ nghĩa), xóa bỏ hoàn toàn sự ảnh
hưởng của cơ chế kinh tế tập trung quan liêu trước đây tới nền kinh tế nước ta.
2.2.2. Tác động tiêu cực:
Trong WTO có hai thành viên chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị
trường, đó là Trung Quốc và Việt Nam. Nhìn nhận những hậu quả mà Trung
Quốc đã phải gánh chịu về vấn đề này, chúng ta có thể thấy rằng, cả về lý luận
lẫn về thực tiễn thì Việt Nam không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực vô
cùng to lớn từ cam kết này.
Trước hết, sẽ vô cùng khó khăn và bất lợi cho Việt Nam khi phải đối phó
với các vụ kiện bán phá giá và trợ cấp Chính phủ. Bởi Việt Nam bị coi là NME
nên hầu hết các nước đi kiện thường không quan tâm đến việc liệu chúng ta có thực sự bán phá giá hay
không, có trợ cấp hay không, vì theo các phân tích nêu trên thì chỉ cần là nước NME, có sự tác động nhất định

tính từ năm 1994 đến tháng 12/2008 Việt Nam là bị đơn của 29 vụ kiện bán phá
giá, và chỉ trong 7 tháng đầu năm 2009 thì Việt Nam bị kiện 5 vụ bán phá giá,
nâng tổng số vụ bị kiện lên con số 34 vụ.
(3)
Theo đà này, thử tính xem con số sẽ
là bao nhiêu trong vòng 12 năm bị coi là NME nếu chúng ta không có những
giải pháp hợp lý?
Không chỉ là vấn đề số lượng mà còn cả về chất lượng, trong số 29 vụ bị
kiện tính đến tháng 12/2008 thì có đến 20 vụ chúng ta bị áp dụng các biện pháp
chống bán phá giá. Nguyên nhân của tình trạng này, một phần là do các nước
kiện có nhiều ưu thế hơn như đã phân tích ở trên, nhưng phần lớn là do chúng ta
vẫn còn bỡ ngỡ, thiếu hiểu biết khi tham gia vào thị trường toàn cầu.
2
Số liệu từ: http://ftu-forum.net/forums/showthread.php?t=6630
3
Số liệu từ: http://chongbanphagia.vn/beta/tonghopsolieu/20090514/so-lieu-cap-nhat-cac-vu-
kien-cbpg-lien-quan-den-viet-nam-tinh-tu-012009-den-n
8
Vấn đề còn trở nên khó khăn hơn nữa nếu như một sản phẩm của chúng ta
vừa bị kiện chống bán phá giá vừa bị kiện về các biện pháp đối kháng. Điều này
hoàn toàn có thể xảy ra, bởi, khi chúng tiến hành trợ cấp nội địa (loại trợ cấp này
không ảnh hưởng đến giá xuất khẩu nên không là đối tượng áp dụng các biện
pháp đối kháng), cả giá xuất khẩu lẫn giá trị thông thường của hàng hóa đều bị
ảnh hưởng. Tuy nhiên, vì bị coi là NME nên chi phí và giá cả nội địa của chúng
ta đều bị từ chối và chúng được thay thế bằng chi phí và giá cả nội địa của một
nước thứ ba thay thế. Và giá cả nội địa tại nước thứ ba này (luôn luôn) thấp hơn
giá xuất khẩu. Do đó, các nhà điều tra sẽ tự động coi giá nội địa là một phương
thức trợ cấp xuất khẩu vì chúng làm giảm giá xuất khẩu. Và vì thế, sản phẩm sẽ
đồng thời bị coi là bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu. Thực tế vụ Hoa Kỳ kiện
mặt hàng túi nhựa PE của Việt Nam hiện nay là một ví dụ cho vấn đề này.

thị trường sẽ phải đối mặt khi tham gia thương mại quốc tế, đặc biệt trong quan
hệ thương mại với những nước thường xuyên sử dụng công cụ chống bán phá
giá. Xác định rõ những khó khăn có thể sẽ gặp phải khi xuất khẩu ra thị trường
quốc tế để chuẩn bị sẵn các giải pháp đối phó. Như vậy, doanh nghiệp và Chính
phủ phải chấp nhận những thách thức nảy sinh từ việc bị coi là nền kinh tế phi
thị trường để chuẩn bị các biện pháp đối phó với tình trạng áp đặt thuế chống
bán phá giá và trợ cấp của các nước như Hoa Kỳ, EU và các nước khác đối với
hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Mục tiêu là bảo vệ lợi ích của các doanh
nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường các nước nói trên.
Theo đó, chúng ta “chờ” cho hết thời hạn 12 năm để mặc nhiên được công
nhận là kinh tế thị trường. Cách này thực sự không phải là giải pháp hiệu quả và
nó không phù hợp với chính sách phát triển của đất nước ta cũng như xu hướng
chung của kinh tế thế giới là chủ động, tích cực hội nhập.
Thứ hai, đẩy mạnh cải cách theo định hướng thị trường. Đồng thời tích cực
vận động các thành viên WTO sớm công nhận quy chế thị trường và không áp
dụng điều khoản trong Nghị định thư gia nhập WTO về kinh tế phi thị trường.
Đẩy mạnh cải cách kinh tế thị trường là cách đối phó tích cực và lâu dài nhất
trong trường hợp bị coi là kinh tế phi thị trường. Hướng đi này cũng phù hợp với
mục tiêu phát triển của Việt Nam trong những năm tới.
Thứ ba, với tư cách thành viên WTO, yêu cầu xem xét lại và sửa đổi các
điều khoản liên quan kinh tế phi thị trường trong Hiệp định Chống bán phá giá
của WTO. Tích cực vận động các nước công nhận kinh tế thị trường của Việt
Nam đồng thời nâng cao vai trò của mình trong các cuộc đàm phán sắp tới để có
tiếng nói quan trọng trong vấn đề kinh tế phi thị trường trong WTO. Tuy nhiên,
nếu nhìn vào kết quả của Trung Quốc trong thời gian qua thì có thể thấy giải
pháp này cũng không giúp chúng ta hoàn toan xóa bỏ được quy chế NME, bởi
Trung Quốc đến nay đã được hơn 50 quốc gia thừa nhận là có nền kinh tế thị
trường, song Hoa Kỳ - thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc, cùng với
Liên hiệp châu Âu và Nhật Bản vẫn không công nhận Trung Quốc là nền kinh tế
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status