toàn cầu hóa và môi trường tự nhiên trung quốc và nhật bản - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA THƯƠNG MẠI-DU LỊCH-MARKETING
MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Đề tài:
TOÀN CẦU HÓA
VÀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
CỦA TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Quách Thị Bửu Châu
Thực hiện : Nhóm P2VN
Giảng đường : KDQT-K35
o0o
Năm học 2011 – 2012
DANH SÁCH NHÓM P2VN
TÊN MSSV LỚP-K35 NHIỆM VỤ MỨC ĐỘ
HOÀN
THÀNH
PHẠM THỊ KIM
NGỌC
3109102047
7
KD1
Nội dung 95%
TRẦN THỊ KIM
PHƯƠNG
*

3109102449
7
KD3
Nội dung,
thuyết trình

N
Nếu như khái quát, toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã
hội và trong nền kinh tế thế giới, là một quá trình tương tác và hội nhập, tạo ra bởi
mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân
ở góc độ môi trường, chính trị-luật pháp, văn hóa và kinh tế. Có rất nhiều làn sóng
hiện tại của toàn cầu hóa tương tự như những thực trạng trước khi bùng nổ của Thế
chiến thứ nhất vào năm 1914. Việc quản lý dòng chảy của vốn, lao động, hàng hóa, và
ý tưởng tạo nên làn sóng toàn cầu hóa hiện tại của mỗi quốc gia cần được quan tâm.
3
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản
Để tìm sự cân bằng giữa mặt lợi và mặt hại liên quan đến toàn cầu hóa, mỗi công dân
của mọi quốc gia cần phải hiểu các công trình toàn cầu hóa như thế nào và lựa chọn
chính sách phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.
Làn sóng toàn cầu hóa đã để lại nhiều hệ quả sâu sắc. Toàn cầu hóa có ý nghĩa rất lớn
đối với môi trường, chính trị-luật pháp, văn hóa và kinh tế. Tuy nhiên, việc khẳng
định toàn cầu hóa ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với những góc độ trên còn rất
nhiều tranh cãi. Toàn cầu hóa có thể là thuốc chữa tất cả các căn bệnh của thế giới hay
là nguyên nhân gây ra những căn bệnh đó. Các cuộc tranh luận về vấn đề liên kết giữa
môi trường tự nhiên và toàn cầu hóa cũng bị mắc kẹt trong vũng lầy của những nghi
vấn trên. Môi trường tự nhiên là địa bàn và đối tượng của toàn cầu hóa, còn toàn cầu
hóa là nguyên nhân tạo nên sự biến đổi của môi trường tự nhiên. Tuy nhiên toàn cầu
hóa cũng mang lại áp lực, đè nặng lên môi trường tự nhiên, sử dụng và khai thác quá
mức ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên của quốc gia. Vì vậy phải cân đối như thế
nào để có thể mang đến những cơ hội và hạn chế những thách thức mà toàn cầu hóa
tạo ra đối với việc đầu tư và phát triển của quốc gia.
Môi trường tự nhiên liên quan đến phát triển kinh tế và thúc đẩy toàn cầu hóa của
quốc gia. Môi trường tự nhiên cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái –
nền tảng cho cuộc sống của con người. Toàn cầu hóa tạo ra dòng vốn, mang đến trình
độ, công nghệ, khoa học kỹ thật và tạo ra điều kiện thuận lợi để phát triển môi trường
tự nhiên cũng như tận dụng những yếu tố tự nhiên này để góp phần thúc đẩy, phát

Nepal, ẤnĐộ, Pakistan, Afghanistan, Tajikistan, Kazakhstan, Kyrgyzstan và Lào.
Trung Quốc là quốc gia lớn thứ 4 thế giới về tổng diện tích (sau Nga, Canada và
Hoa Kỳ). Trung Quốc có đường bờ biển dài 18000 Km giáp với biển Hoàng Hải, Hoa
Đông, Biển Đông của Thái bình Dương.
Khí Hậu
Do đất nước rộng lớn, địa hình phức tạp, độ cao chênh lệch lớn nên khí hậu Trung
Quốc khá phức tạp, đa dạng, hơn nữa nằm trong khu vực bắc ôn đới, thuộc khí hậu
gió mùa lục địa, nên hầu hết các vùng có bốn mùa rõ rệt, mùa đông lạnh giá,mùa hè
nóng nực. Từ nam lên bắc lần lượt là các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, trung ôn đới,
hàn ôn đới,… Còn khí hậu vùng cao nguyên Thanh Tạng là vùng khí hậu theo đường
thẳng đứng.
Mùa đông, phần lớn lãnh thổ nghìn dặm băng giá, vạn dặm tuyết rơ, ngay khu Mạc
Hà nhiệt độ trung bình trong tháng riêng là -30
0
C, trong khi đó ở phía Nam đảo Hải
Nam trung bình là 20
0
C. Đặc điểm khí hậu Trung Quốc là về mùa đông đa số các
vùng lạnh giá, khí hậu miền Nam Bắc chênh lệch rõ rệt. Về mùa hè do ánh mặt trời
chiếu thẳng xuống Bắc bán cầu nên miền Bắc ngày dài hơn, về mùa đông mặt trời
chiếu tới hai miền Nam Bắc nên ngày gần như nhau. Trừ vùng cao nguyên Thanh
Tạng có địa hình quá cao ra, cả nước đều nóng ấm, khí hậu chênh lệch không nhiều.
Đa số các vùng do ảnh huởng dòng khí vùng biển ẩm, thổi vào lục địa nên mưa
nhiều, nhưng lượng mưa giữa các vùng và các mùa không đều nhau. Miền Đông
mưa nhiều, miền Tây ít. Từ Đông Nam tới Tây Bắc lượng mưa giảm dần đồng thời
mưa nhiều vào mùa hạ. Miền Nam mùa mưa kéo dài từ tháng 5 tới tháng 10. Miền
Bắc mùa mưa ngắn, tập trung vào tháng 7, tháng 8. Lượng mưa hàng năm cũng
không đều, năm nhiều, năm ít và chênh nhau rất lớn. Đa số các miền của Trung
Quốc nằm về phía Bắc vĩ tuyến bắc nên mùa đông thời gian mặt trời chiếu ngắn,
nhận được năng lượng mặt trời ít, càng về phía Bắc càng ít nên thời tiết càng lạnh.

loại khoáng sản, trong đó có 158 loại khoáng sản đã được khám phá rõ trữ lượng
(khoáng sản năng lượng 10 loại, khoáng sản kim loại màu đen 5 loại, khoáng sản
kim loại màu 41 loại, khoáng sản kim loại quý 8 loại, khoáng sản phi kim loại 91
loại, khoáng sản dạng khí khác 3 loại). Trung Quốc đã trở thành một trong những
ít nước có tổng lượng tài nguyên khoáng sản phong phú. Tính theo trữ lượng khám
phá rõ, 25 loại khoáng sản trong 45 loại khoáng sản chủ yếu Trung Quốc đứng ngôi
thứ 3 trở lên trên thế giới, trong đó 12 loại khoáng sản như nguyên tố đất hiếm,
7
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản
thạch cao, vanađi, titan, tantan, vônfram, graphit, sunfat natri ngậm nước, barit,
quặng magnesit và stibi… đứng đầu thế giới.
Tình hình phân bố tài nguyên khoáng sản Trung Quốc như sau: dầu mỏ và khí đốt
thiên nhiên chủ yếu phân bố ở miền Đông Bắc, Hoa Bắc và Tây Bắc. Than đá chủ
yếu phân bố tại miền Hoa Bắc và Tây Bắc. Sắt chủ yếu phân bố tại miền Đông Bắc,
Hoa Bắc và Tây Nam. Đồng chủ yếu phân bố tại miền Tây Nam, Tây Bắc và Hoa
Đông. Quặng chì và quặng kẽm phân bố khắp nước. Quặng vônfram, quặng thiếc,
quặng môlypđen, quặng stibi và quặng nguyên tố đất hiếm chủ yếu phân bố tại
miền Hoa Nam và Hoa Bắc. Quặng vàng và quặng bạc phân bố khắp nước, Đài
Loan cũng có nơi sản xuất quan trọng. Quặng phốtpho chủ yếu phân bố tại miền
Hoa Nam.
Tài nguyên khoáng sản chủ yếu bao gồm:
Tài nguyên than đá: trữ lượng than đá Trung Quốc đứng đầu thế giới. Cả nước có
trữ lượng than đá đã khám phá rõ là 1000 tỷ tấn, chủ yếu phân bố tại khu vực miền
Hoa Bắc và Tây Bắc, nhất là ở tỉnh Sơn Tây, tỉnh Thiểm Tây, Khu tự trị Nội Mông có
trữ lượng nhiều nhất.
Tài nguyên dầu khí: chủ yếu tàng trữ tại khu vực miền Tây Bắc, thứ đến khu vực
miền Đông Bắc, Hoa Bắc và thềm lục địa biển cạn ven biển ở khu vực miền Đông
Nam. Tính đến cuối năm 1998, Trung Quốc đã khám phá 509 mỏ dầu và 163 mỏ khí
đốt thiên nhiên. Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên đã khám phá rõ lần lượt
là 19,85 tỷ tấn và 1950 tỷ mét khối, đứng thứ 9 và thứ 20 trên thế giới. Trong đó,

Môi trường đất
Trung Quốc có đất đai rộng mênh mông, loại hình tài nguyên đất đai da dạng.
Ruộng đất, vùng rừng, đồng cỏ, hoang mạc, bãi lầy rải rác tại Trung Quốc với diện
tích lớn. Nhưng Trung Quốc có đất đồi nhiều, đồng bằng ít, ruộng đất và vùng rừng
chiếm tỷ lệ nhỏ. Tài nguyên đất đai các loại rải rác không đồng đều, ruộng đất chủ
yếu tập trung ở khu vực đồng bằng và vùng lòng chảo thuộc khu vực gió mùa miền
đông; đồng cỏ chủ yếu rải rác ở vùng cao nguyên và vùng núi ở đất liền; phần lớn
vùng rừng tập trung ở vùng hẻo lánh ở miền đông bắc và tây nam. Trung Quốc hiện
nay có diện tích vùng rừng 158 triệu 940 nghìn héc-ta. Vùng rừng thiên nhiên
Trung Quốc phần lớn tập trung rải rác ở khu vực miền đông bắc và tây nam, ở
vùng đồng bằng miền đông với dân số đông, kinh tế phát triển và ở khu vực miền
tây bắc rộng mênh mông, vùng rừng rất ít ỏi.
1.2. Sự Tác Động Qua Lại Của Toàn Cầu Hóa Và Tự Nhiên
1.2.1.Tự Nhiên Tác Động Đến Toàn Cầu Hóa
1.2.1.1. Tích cực
Phía Đông bờ biển dài 9000 Km tạo thuận lợi cho việc giao lưu quốc tế, và phát triển
các ngành kinh tế biển như khai thác hải sản, đóng tàu, vận tải biển,…Gần với các khu
vực kinh tế phát triển năng động như Hàn Quốc, Nhật Bản, khu vực ASEAn thuận lợi
cho việc giao lưu kinh tế và hợp tác phát triển.
9
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản
Lãnh thổ trãi dài với các cảnh quan thiên nhiên đa dạng tạo điều kiện để phát triển
tổng hợp các ngành kinh tế.
Vùng núi thấp và các phù sa màu mỡ như vùng Đông Bắc, Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa
Nam có cơ hội phát triển các ngành nông nghiệp tạo ra nhiều nông sản xuất khẩu đến
các nước. Bên cạnh đó giao thông vận tải phát triển thuận lợi cho việc thu hút nhà đầu
tư. Vùng núi cao, có các sơn nguyên xen lẫn với các bồn địa thuận lợi cho phát triển
lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc. Đi từ đông sang tây, địa hình Trung Quốc là những
bậc thang khổng lồ, làm thay độ dốc lòng sông, nước sông chảy xiết có giá trị lớn về
thủy điện.

hô hấp và phổi. Thiệt hại về con người cũng dẫn đến chất lượng lao động ngày càng
kém gây tác động nhiều đến các ngành sản xuất đòi hỏi nhiều nhân công.
Mưa axit cũng ảnh hưởng đến hơn một phần tư đất của Trung Quốc, bao gồm cả một
phần ba đất nông nghiệp, gây thiệt hại cây trồng và thủy sản.
Theo báo cáo mới đây, đến năm 2020, tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc sẽ tăng
gấp đôi do tăng trưởng kinh tế tăng gấp bốn. Trong năm 2003, tổng tiêu thụ năng
lượng của nước đông dân nhất thế giới này là 1,68 tỉ tấn, trong đó 67,1% là than,
22,7% dầu thô, 2,8% khí thiên nhiên và 7,3% năng lượng tái sử dụng. Theo thống kê,
hằng năm khoảng 2/3 khu vực ở Trung Quốc đã bị sụt giảm điện áp hoặc mất điện
thường xuyên. Nguồn cung điện thiếu là do không xây dựng đủ nhà máy điện trong
vòng vài năm qua, cũng như tiêu thụ điện năng tăng mạnh trong những ngành như
thép, nhôm, xi măng và công nghiệp hoá chất. Trong khi đó, kết quả khảo sát cho
thấy, trữ lượng năng lượng của Trung Quốc thấp hơn nhiều so với mức bình quân của
quốc tế. Thiếu hụt năng lượng và nhập khẩu năng lượng gia tăng sẽ cản trở tăng
trưởng kinh tế và đe doạ an ninh quốc gia và môi trường.
Hiện nay, có sự tương phản rất lớn về nguồn nước giữa phía Nam và phía Bắc của
Trung Quốc. Ở phía Nam thì lượng nước dồi dào, số lượng các hộ gia đình có thể sử
dụng nước sông từ 5% năm 1990 lên 55% 2005. Trong khi phía Bắc thì lượng nước
giảm dần do hiện tượng sa mạc hóa trở thành mối đe dọa nghiêm trọng ảnh hưởng đến
đời sống sinh hoạt của người dân, cũng như nhu cầu tưới tiêu phục vụ cây nông
nghiệp và công nghiệp.
11
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản
Đặc biệt, mưa nhiều và bão lớn đã khiến Trung Quốc đang phải trải qua những trận lũ
lụt tồi tệ nhất trong vòng ít nhất một thập kỷ trở lại đây và biến mùa hè năm 2005 tại
đây thành mùa chết chóc. Theo AFP, mưa lũ từng hoành hành các vùng phía Nam,
miền Trung và gần đây là vùng Đông Bắc Trung Quốc đã khiến 1,4 triệu ngôi nhà đã
bị phá hủy và thiệt hại ước tính lên đến 275 tỉ nhân dân tệ, tương đương 30 tỉ euro.
Tại miền Nam Trung Quốc, mưa như trút nước đã gây vỡ đê, sạt lở đất, cắt đứt hệ
thống đường bộ, đường sắt chạy qua khu vực này. Theo số lượng thống kê, đến nay tại

phế thải. Các thành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và
xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó. Khu vực giao nhau giữa
hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo.
Tác động của toàn cầu hóa đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi
trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó. Toàn cầu hóa có thể
mang công nghệ môi trường đền các nước có môi trường bị ô nhiễm hay tài nguyên bị
cạn kiệt. Công nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lý, hoá học, sinh học
nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất độc hại phát sinh từ quá trình sản xuất và hoạt động
của con người. Công nghệ môi trường bao gồm các tri thức dưới dạng nguyên lý, quy
trình và các thiết bị kỹ thuật thực hiện nguyên lý và quy trình đó. Công nghệ sạch là
quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc
phát ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường. Nhờ vào toàn cầu hóa, Trung
Quốc có thể áp dụng các công nghệ gọi là sản xuất sạch. Sản xuất sạch cải tiến liên
tục quá trình sản xuất công nghiệp, sản phẩm và dịch vụ để giảm sử dụng tài nguyên
thiên nhiên, để phòng ngừa tại nguồn ô nhiễm không khí, nước và đất, và giảm phát
sinh chất thải tại nguồn, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường:
- Đối với quá trình sản xuất: Sản xuất sạch hơn bao gồm tiết kiệm nguyên vật liệu,
năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc, giảm lượng và độ độc của các dòng thải
trước khi đi ra khỏi quá trình sản xuất.
- Đối với sản phẩm: Sản xuất sạch hơn làm giảm ảnh hưởng trong toàn bộ vòng đời của
sản phẩm từ khâu chế biến nguyên liệu đến khâu thải bỏ cuối cùng.
Có thể áp dụng công nghệ sạch và sản xuất sạch đối với các quy trình sản xuất trong
bất kỳ ngành công nghiệp nào và bất kỳ sản phẩm công nghiệp nào. Đối với các quá
trình sản xuất, công nghệ sạch nhằm giảm thiểu các tác động môi trường tự nhiên và
an toàn của các sản phẩm trong suốt chu trình sống của sản phẩm, bảo toàn nguyên
13
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản
liệu, nước, năng lượng, loại bỏ các nguyên liệu độc hại, nguy hiểm, giảm độc tính của
các khí thải, chất thải ngay từ khâu đầu của quy trình sản xuất.
Toàn cầu hóa làm cho ngành du lịch Trung Quốc phát triển. Điều này cũng có thể tác

Nguyên nhân đằng sau sự gia tăng ô nhiễm
Môi trường bị ô nhiễm
Đô Thị Hóa Nhanh
• Tiêu dùng gia tăng nhanh chóng
• Sự di cư dân từ nông thôn lên thành phố
• Canh tác đất nông nghiệp với cường độ lớn (Ví dụ việc sử dụng phân bón hóa học nhiều)
Công Nghiệp Hóa Nhanh
• Tốc độ phát triển về sản xuất nông nghiệp-trung bình 12%/năm, Trung quốc đứng thứ 3 thế giới về sản
lượng nhà máy.
• Phụ thuộc lớn vào ngành Công nghiệp nặng (như sắt, thép, máy móc, hóa dầu…)
Ô Nhiễm Không Khí
• Khí thải từ động cơ xe
• Năng lượng truyền thống ( Đặc biệt là nhà máy điện than đá)
• Khí thải từ ngành công nghiệp nặng
Ô Nhiễm Nước
• Việc sử lý nước thải và chất thải rắn không phù hợp
• Nước thải công nghiệp, mưa axit
• Thuốc trừ sâu và phân bón tác động lớn đến lớp đất bề mặt
Ô Nhiễm Đất
• Chất thải xây dựng
• Chất thải kim loại
15
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản
• Chất thải khí
• Chất thải hóa học và hữu cơ
TOÀN CẦU HÓA
Mối Quan Hệ Giữa Toàn Cầu Hóa Và Ô Nhiễm Môi Trường
Ô Nhiễm Không Khí
Ô nhiễm không khí ở Trung Quốc là yếu tố lớn nhất bị tụt lại đằng sau những chương
trình môi trường của Trung Quốc thể hiện trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2001-

triển nhanh chóng theo xu hướng toàn cầu hóa. Trong thực tế, năm 2006, CO
2
thải ra
từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch của Trung Quốc tăng 9% so với thế giới chỉ tăng
17
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản
2% của lượng khí thải CO
2
cùng năm. Không có gì đáng ngạc nhiên, năm 2006 Trung
Quốc vượt Mỹ về việc thải ra khí CO
2
lớn nhất thế giới.
Một nghiên cứu mới cho biết sự thất bại của Trung Quốc trong kiểm soát lượng khí
thải nitơ có thể làm ảnh hưởng tới cố gắng của nước này trong việc giảm mức độ
sulphur dioxide (SO
2
) trong môi trường. Sự phát thải khí nitơ và sulphur là nguyên
nhân chính gây nên đất chua và ô nhiễm môi trường. Theo các nhà khoa học, tổng khí
thải lưu huỳnh dioxít (SO
2
), thành phần chính trong mưa axít, cao hơn 80% mức cho
phép và vẫn đang tăng. Trẻ em ở các thành phố của Trung Quốc cũng đang phải hít
thở bầu không khí độc hại tương đương với việc hút hai gói thuốc mỗi ngày.
Ô Nhiễm Nước
Như chúng ta thấy, nguyên nhân chính dẫn đến giảm chất lượng nước xuất phát từ
chất thải từ sinh hoạt của những khu vực đông dân cư. Ở Trung Quốc, năm 2005, 90%
trong số 400 đoạn sông xung quanh thành phố lớn không đáp ứng các tiêu chuẩn nước
sạch.
Mưa axít làm hư hại một diện tích lớn cây cối và lâu lâu lại có những thông tin về
những vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng do những chất gây ung thư mà các

phục tình trạng sa mạc hóa khoảng 1.700 km vuông mỗi năm như hiện nay.
- Cũng theo China Daily, lưu vực sông Hoàng Hà, con sông lớn thứ hai ở Trung Quốc,
hiện được xem là một trong những nơi bị xói mòn nghiêm trọng nhất thế giới, với
62% diện tích bị ảnh hưởng.
19
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản
Theo xu hướng toàn cầu hóa, Trung Quốc quá tập trung vào việc tăng trưởng GDP
nóng mà không chú ý đến vấn đề phát triển bền vững, thể hiện qua việc các vấn đề ô
nhiễm môi trường vẫn chưa có những giải pháp rõ ràng. Do đó, Trung Quốc đang phải
trả một cái giá khá cao cho sự phát triển của mình, bao gồm ô nhiễm, khí thải gây hiệu
ứng nhà kinh, mất đi sự đa dạng sinh học, sự suy thoái của hệ sinh thái và nguồn tài
nguyện bị cạn kiệt một cách nhanh chóng, chẳng hạn như:
- 5 trong 10 thành phố ô nhiễm nhất thế giới là ở Trung Quốc
- Ô nhiễm không khí ở các thành phố Trung Quốc cao gấp 5 lần so với mức khuyến cáo
của Tổ chức Y tế Thế giới.
- 40% đất Trung Quốc bị ảnh hưởng nghiêm trọng do sự xói mòn đất và 25% lãnh thổ
Trung Quốc bị sa mạc hóa. Những tác động này gây ra việc giảm năng suất nông
nghiệp và di cư từ nông thôn đến các khu vực đô thị.
- Chính quyền địa phương lơ là trong việc giải quyết vấn đề thiếu nước nghiêm trọng ở
phía Bắc.
Mấy thập niên qua, kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương (TBD) phát triển vượt
bậc, thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên, thế nhưng mô hình phát
triển thiếu bền vững đã kéo theo nhiều hệ lụy, trong đó những hệ lụy về môi trường
không phải là nhỏ. Trong một báo cáo được công bố mới đây, Chương trình Môi
trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã chính thức kêu gọi các nước châu Á tiến hành một
"cuộc cách mạng công nghiệp xanh".Môi trường thành nạn nhân khi quá trình toàn
cầu hóa.
Ở Trung Quốc, việc chuyển giao công nghệ tiên tiến nhưng do không đáp ứng được
yêu cầu về kinh phí cũng như chuyên gia nên hậu quả là quy mô triển khai bị gặp vấn
đề nên môi trường lại chịu những tổn thất nặng nề.Hiện trạng thế giới năm 2004” chủ

ban sơ nằm ở trung tâm của một Di sản Thế giới. Chính phủ Trung Quốc cũng đã
đồng ý thu hẹp lại khu dự trữ thủy sản quan trọng nhất trên sông Dương tử, vì thế một
kế hoạch thủy điện mới có thể sẽ được khởi động tại đây. (tụi này nghĩ nên rút gọn lại)
Vẫn biết biến đổi khí hậu là mối đe dọa môi trường nghiêm trọng nhất mà thế hệ
chúng ta đang phải đối mặt. Thế giới đang mất đa dạng sinh học ở mức báo động. Và
chính các dòng sông, hồ nước và đầm lầy lại đang phải đối mặt với những thay đổi
nghiêm trọng hơn bất cứ hệ sinh thái nào khác. Trong khi đó, chính vì xây đập và các
tác nhân khác, dân số các loài thủy sinh đã suy giảm một nửa kể từ năm 1970 đến
2000 và hơn 1/3 các loài cá nước ngọt đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
21
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản
1.3. Phản Ứng Của Quốc Gia Trước Toàn Cầu Hóa
Nhiệm kỳ 2, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 9 đã đề ra chính sách tiếp tục đầu tư
mạnh vào nông nghiệp, thúc đẩy sự phát triển toàn diện kinh tế nông thôn, nhằm gia
tăng thu nhập của người dân, xây dựng cơ cấu nông nghiệp, tăng cường vốn cho các
dự án cấp thoát nước sạch, trồng xen các loại cây bán nông nghiệp, điều chỉnh cơ cấu
doanh nghiệp thành thị, phát triển định hướng thị trường chế xuất và nâng cao giá trị
sản phẩm nông nghiệp.
Nông nghiệp nông thôn của Trung Quốc đang phải chịu những thách thức to lớn trong
quá trình hội nhập WTO. Đó là sức ép cạnh tranh mạnh, tình trạng nhiều ngành hàng
suy yếu bị đào thải, thất nghiệp tăng, mức thu nhập thấp, bất bình đẳng thu nhập tăng
gây ra nguy cơ bất ổn định về kinh tế, xã hội và môi trường. Để đối phó với những tác
động bất lợi của hội nhập, Trung Quốc đã tiến hành một loạt biện pháp điều chỉnh
chính sách trong khu vực nông nghiệp và nông thôn. Những hướng tập trung là:
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tăng thu nhập cho nông dân; nâng cao khả năng cạnh
tranh quốc tế của nông sản. Gia nhập WTO mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức
lớn cho nông nghiệp Trung quốc. Bước sang giai đoạn mới, thay đổi cơ bản về thương
mại nông sản, chính sách nông nghiệp của Trung quốc có những thay đổi mang tính
căn bản. Công cuộc điều chỉnh chính sách nông nghiệp Trung Quốc bao gồm những
nội dung chính sau:

kiểm soát khai thác đất hiếm tại tỉnh Giang Tây, Bộ quản lý đất đai và tài nguyên
Trung Quốc còn quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác quặng sắt tại tình Tứ
Xuyên.Tỉnh Tứ Xuyên còn có 2 kim loại quý khác bao gồm titanium và vanadium.
Titanium được sư dụng trong ngành hàng không vũ trụ và nhiều ngành khác trong khi
đó vanadium dược dùng trong sản xuất axit sulfuric.
Nhằm đối phó với thách thức lớn nhất trong 20 năm tới là thiếu các nguồn tài nguyên,
đặc biệt là năng lượng, chính phủ Trung Quốc phải tìm cách duy trì phát triển kinh tế.
Việc tiết kiệm năng lượng sẽ gặp khó khăn do thiếu động cơ kinh tế cũng như thiếu
luật liên quan đến tiết kiệm năng lượng. Do vậy, sự ra đời của luật năng lượng tái sinh
sẽ góp phần hỗ trợ cho chiến lược này.Trung Quốc có khả năng cải thiện nguồn điện
năng và giảm ảnh hưởng của việc thiếu hụt điện. Theo báo cáo chính thức, Trung
Quốc chi 13% GDP cho tiêu thụ năng lượng, gấp đôi tỷ lệ tương đương ở Mỹ. Ví dụ
đối với ngành nhà ở, chỉ 2,5%-5% những ngôi nhà mới xây đáp ứng tiêu chuẩn tiết
kiệm năng lượng. Theo ông Zhao Jiarong, Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu chiến
23
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản
lược năng lượng quốc tế thuộc Đại học nhân dân Trung Quốc, mỗi đơn vị tăng trưởng
kinh tế của Trung Quốc sử dụng tới 65% nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong khi ở
các nước phát triển chỉ có 25%. Vì vậy, tiết kiệm và ứng dụng kỹ thuật cao mới là
quốc sách cho chiến lược năng lượng của Trung Quốc. Quan chức chính phủ và các
chuyên gia đã kêu gọi thực hiện các biện pháp cụ thể để đạt được mục tiêu tiết kiệm
năng lượng và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Ông Zhao Jiarong nhấn mạnh: Các ngành như sản xuất điện, ngành thép, xăng dầu,
than, thông tin và xây dựng phải hợp tác tiết kiệm năng lượng. Theo đó, vốn được tiêu
thụ chủ yếu sẽ vẫn được dùng để chế tạo điện, dầu sẽ được dùng trong giao thông vận
tải, các thành phố nên dùng khí thiên nhiên cho việc sưởi ấm và các mục đích gia
dụng khác, chiến lược hàng đầu là tiết kiệm sử dụng xăng dầu.Đến thời điểm 2020,
Trung Quốc đặt kế hoạch tiết kiệm khoảng 1,4 tỷ tấn than tiêu chuẩn, tương đương
một nửa mức tiêu thụ năm ngoái ở Trung Quốc khi Trung Quốc đạt mục tiêu phát triển
toàn xã hội. Trung Quốc đặt ra mục tiêu tiêu thụ năng lượng sẽ đạt 3 tỷ tấn than tiêu

Như ở Thượng Hải, thường xuyên đầu tư hơn 3% doanh thu của địa phương trong
việc bảo vệ môi trường và có những bước tiến đáng kể đối với làm sạch không khí và
các vấn đề ô nhiễm nguồn nước. Khu vực nghèo hơn, ngược lại, tiếp tục nhìn thấy
môi trường của họ xấu đi, bất chấp sự cải thiện tổng thể của nền kinh tế Trung Quốc.
Họ không thể tin cậy vào sự hỗ trợ từ trung ương, và không có đủ kinh phí địa phương
để đầu tư cải thiện môi trường. Bên cạnh đó, khu nghèo hơn cũng có nhiều khả năng
bị thiếu nhân viên được đào tạo về lĩnh vực bảo vệ môi trường để có thể thực hiện
kiểm tra và thi hành pháp luật ở địa phương tốt hơn. Hơn nữa, các quan chức địa
phương ở các khu vực này thường đặt áp lực rất lớn về Văn phòng bảo vệ môi trường
đã hạn chế hoặc thậm chỉ bỏ qua các khoản phí tiền phạt do các doanh nghiệp gây ô
nhiễm môi trường.
Hợp tác với cộng đồng quốc tế
Một yếu tốt thứ ba của kế hoạch của Trung Quốc để cải thiện tổng thể môi trường là
tận dụng vào khả năng chuyên môn và nguồn lực từ cộng đồng quốc tế. Trung Quốc là
nước nhận lớn nhất từ hỗ trợ bên ngoài về môi trường như Ngân hàng Thế giới, Ngân
hàng Phát triển Châu Á, Quỹ môi trường toàn cầu, Nhật Bản cùng các tổ chức cộng
đồng phi chính phủ. Với sự hổ trợ đó, Trung Quốc thực thi các chính sách bảo vệ môi
25
Toàn Cầu Hóa Và Môi Trường Tự Nhiên Của Trung Quốc Và Nhật Bản

Trích đoạn CƠ HỘI CỦA NGÀNH THÁCH THỨC CỦA NGÀNH Online, Báo chí…
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status