Toàn cầu hóa và môi trường kinh tế Châu Mĩ - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA: THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
BỘ MÔN: QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
TOÀN CẦU HÓA VÀ
MÔI TRƯỜNG KINH TẾ
CHÂU MỸ
DANH SÁCH NHÓM:
NGUYỄN HOÀI AN KD2
PHÙNG NGUYỄN TRÂM ANH KD2
TRẦN CÔNG TẠO KD2
CHU THIÊN KIM KD3
GIẢNG VIÊN: TS. QUÁCH THỊ BỬU CHÂU
------
Tháng 11 – 2011
Toàn cầu hóa và môi trường kinh tế châu Mỹ
LỜI MỞ ĐẦU

Theo Thomas L.Friedman - Chuyên gia bình luận hàng đầu của Mỹ về quan hệ quốc tế, kỷ
nguyên “Toàn cầu hóa” là kỷ nguyên tiếp nối sau thời kỳ “Chiến tranh lạnh”. Có thể nói, đây là
“Làn sóng Toàn cầu hóa thứ ba” trên thế giới. Rõ ràng ta nhận thấy, có 2 xu hướng hoàn toàn
đối lập giữa “Toàn cầu hóa” và “Chiến tranh lạnh”. Nếu như “Chiến tranh lạnh” là sự phân chia
biệt lập, rạch ròi giữa các quốc gia thì “Toàn cầu hóa” là sự hội nhập. Nếu như “Chiến tranh
lạnh” dựng nên bức tường chia rẽ mọi người thì “Toàn cầu hóa” là một Website liên kết mọi
người lại với nhau. Nếu như “Chiến tranh lạnh” là những hiệp định chính trị thì “Toàn cầu hóa”
là những thỏa thuận thương mại. Thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh: Một nửa thế giới ra khỏi cuộc
chiến, cố gắng sản xuất và cải tiến cho những chiếc xe Lexus sang trọng , nửa thế giới còn lại
vẫn cố gắng tranh giành xem ai là chủ của một cây Oliu nào đó. Cây Oliu có ý nghĩa quan
trọng, nhưng nếu cứ khư khư giữ lấy nó thì con người sẽ cố chấp tận diệt các cộng đồng khác.
Chiếc xe Lexus chính là động lực thúc đẩy con người tồn tại, cải tiến, làm giàu trong hệ thống
Toàn cầu hóa ngày nay.

Tác động của Toàn cầu hóa đến môi trường Kinh tế:
1. Nước Mỹ:
a) Sơ nét về quá trình toàn cầu hóa ở Mỹ:
Kể từ cuộc Đại suy thoái những năm 1930 và Thế chiến II, Hoa Kỳ đã tìm cách giảm rào
cản thương mại và phối hợp hệ thống kinh tế thế giới. Hoa Kỳ ngày càng mở cửa thương mại
như một phương tiện không chỉ thúc đẩy lợi ích kinh tế mà còn là một chìa khóa để xây dựng
các mối quan hệ hòa bình giữa các quốc gia. Hoa Kỳ thống trị thị trường xuất khẩu của thời kì
sau chiến tranh Thế giới thứ II và có những tiến bộ vượt bậc về việc phát triển khoa học – công
nghệ, máy móc thiết bị. Đến những năm 1970, khoảng cách về sản lượng xuất khẩu giữa Hoa
Kỳ so với các nước khác được thu hẹp dần.
Giai đoạn 1980 – 1990, cán cân thương mại của Mỹ bị thâm hụt. Nước Mỹ phải đối mặt với
những cuộc cạnh tranh gay gắt từ những nước khác. Lúc này, xu hướng tự do hóa thương mại
bị lung lay tại Mỹ khi mà Quốc hội nước này nhen nhóm thực hiện các chính sách bảo hộ mậu
dịch trong nước.
Mặc dù vậy đến những năm 1990, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thúc đẩy tự do hóa thương mại trong
các cuộc đàm phán quốc tế, phê chuẩn Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), hoàn
thành Vòng đàm phán Uruguay của đàm phán thương mại đa phương, và tham gia trong các
hiệp định đa phương để thiết lập quy tắc quốc tế nhằm bảo vệ sở hữu trí tuệ và thương mại dịch
vụ viễn thông tài chính và cơ bản.
Vào cuối những năm 1990, Mỹ vẫn cam kết thương mại tự do theo đuổi một vòng mới của
cuộc đàm phán thương mại đa phương, làm việc để phát triển các hiệp định thương mại tự do
hóa khu vực liên quan đến châu Âu, Mỹ Latinh, và châu Á, và tìm cách giải quyết tranh chấp
thương mại song phương với các quốc gia khác nhau. Một số cuộc khủng hoảng tài chính, đặc
biệt là làm rung chuyển châu Á vào cuối những năm 1990, đã chứng minh sự phụ thuộc lẫn
nhau tăng lên giữa các thị trường tài chính toàn cầu. Hoa Kỳ và các quốc gia khác làm việc để
phát triển các công cụ để giải quyết hoặc ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng đó.
b) Toàn cầu hóa mang lại cơ hội gì cho nền Kinh tế của Hoa Kỳ?
 Cơ hội đầu tư của những doanh nghiệp Mỹ ra nước ngoài trở nên thuận lợi hơn
Như chúng ta đã biết, thị trường lao động Mỹ có giá cả khá cao so với thị trường lao động ở
một số nước đông dân, lực lượng lao động nhiều như Ấn Độ, Trung Quốc, một số nước thuộc

hàng hóa của mình một cách thuận lợi
Khi toàn cầu hóa diễn ra, việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các nước ngày càng trở nên
rộng rãi và phát triển mạnh mẽ hơn. Để thúc đẩy việc trao đổi và mua bán với nước ngoài, hầu
hết các quốc gia đều gỡ bỏ hoặc giảm bớt những hàng rào thuế quan cho một số hàng hóa nhập
Trang 5
Toàn cầu hóa và môi trường kinh tế châu Mỹ
vào nước mình. Việc làm này của các quốc gia giúp cho những hàng hóa của Mỹ có thể dễ
dàng xâm nhập thị trường nước ngoài hơn, điển hình, ta có thể xem xét một số ví dụ sau đây:
Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ NAFTA nối kết 3 nền kinh tế lớn là Mỹ, Canada và
Mexico tạo ra một thị trường hàng hoá và dịch vụ lớn nhất thế giới. Trong khi triển khai,
NAFTA yêu cầu loại bỏ ngay lập tức các loại thuế quan của hơn nửa số lượng mặt hàng nhập
khẩu của Mỹ từ Mexico và trên 1/3 số lượng mặt hàng xuất khẩu của Mỹ sang Mexico.
NAFTA đã cam kết tất cả các bên chấm dứt những hạn chế đối với các nhà đầu tư nước ngoài
là thành viên của NAFTA, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức độ cao, và tự do hoá thương mại
dịch vụ. Tính đến 01 tháng 1 năm 2008, tất cả các thuế quan giữa ba nước đã được loại bỏ. Từ
1993-2009, thương mại tăng gấp ba lần từ 297 tỷ USD lên 1,6 nghìn tỷ USD.
Khi là thành viên của Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Tổ
chức Kinh tế Thế giới (WTO), cũng như những thành viên khác, Mỹ được hưởng những chính
sách mở cửa, Tự do hóa thương mại và đầu tư tập trung vào việc mở cửa thị trường, được cắt
giảm và dần dần dẫn đến loại bỏ hoàn toàn các rào cản thuế và phi thuế đối với thương mại và
đầu tư. Các biện pháp tự do hoá đã dẫn tới việc cắt giảm khá lớn các loại thuế suất.
Ví dụ: Để thực hiện lời hứa khi Trung Quốc gia nhập WTO, Trung Quốc cắt giảm thuế
quan nhập khẩu của một số sản phẩm điện tử, như máy tính xách tay và máy ảnh kỹ thuật số
50%, mang lại lợi ích các công ty đa quốc gia, bao gồm Hewlett-Packard Co (HP) và Dell Inc,
và kích thích doanh số bán hàng của họ trên thế giới phát triển nhanh nhất trong thị trường IT.
 Các công ty nước ngoài đầu tư mạnh mẽ vào thị trường Mỹ
Theo Cơ quan Nghiên cứu Phục vụ Quốc hội (CRS), các nhà đầu tư nước ngoài sở hữu
khoảng 10% tổng tài sản tài chính của nước Mỹ, bao gồm cổ phiếu công ty, trái phiếu và cổ
phiếu chính phủ. Họ cũng đầu tư trực tiếp vào các công ty thiết bị và thị trường bất động sản
của Mỹ. Vào năm 2006, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư gần 1,8 nghìn tỷ USD vào nền kinh

 Người Mỹ có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa với chủng loại đa dạng hơn và giá cả
thấp hơn
Toàn cầu hóa giúp cho hàng hóa của Mỹ vào thị trường các nước khác trở nên dễ dàng hơn
thì ngược lại cũng giúp cho các hàng hóa của nước ngoài xâm nhập vào thị trường Mỹ đa dạng
và phong phú hơn. Điều này thực tế có lợi cho người tiêu dùng Mỹ khi cơ hội có được sự lựa
chọn nhiều hơn cho các mặt hàng. Chính vì tính chất cạnh tranh để chiếm được thị phần tại Mỹ,
những mặt hàng này phải thực hiện cuộc chạy đua về giá, chất lượng (tuy nhiên không được vi
phạm luật chống phá giá)… để có thể cạnh tranh được với những sản phẩm của những hãng
khác. Chính vì vậy, người tiêu dùng tại Mỹ vẫn có thể có được những sản phẩm với giá thấp và
chất lượng cao.
Trang 7
Toàn cầu hóa và môi trường kinh tế châu Mỹ
Ví dụ như người tiêu dùng Mỹ sử dụng các mặt hàng may mặc của Trung Quốc và Việt
Nam do giá rẻ hơn. Những mặt hàng điện tử đa dạng, nhiều chủng loại của Samsung, Sony
cũng tràn ngập trên thị trường Mỹ thay vì chỉ có JVC. Người tiêu dùng Mỹ có thể thỏa sức lựa
chọn cho mình những mặt hàng phù hợp với nhiều mức giá, khiến cho việc mua sắm trở nên
phong phú hơn.
c) Toàn cầu hóa gây ra những thách thức gì cho nền Kinh tế Hoa Kỳ?
 Người lao động Mỹ có nguy cơ bị mất việc làm
Khi các doanh nghiệp Mỹ chạy đua trong việc tìm kiếm nguồn nhân công giá rẻ và đầu tư
tại các quốc gia đang phát triển thì hàng triệu lao động Mỹ rơi vào cảnh khốn đốn vì việc làm
của họ đã bị chuyển sang cho người lao động tại các nước khác. Trong số 15.000 nhân viên mà
Caterpillar Inc tuyển dụng trong năm 2010, có tới hơn một nửa là ở bên ngoài nước Mỹ. Xu
hướng trên lý giải tại sao tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ vẫn ở mức cao – 9,8% trong tháng 11/2010.
Xu hướng trên không giới hạn ở những công ty lớn nhất nước Mỹ. Giờ đây, dù trong lĩnh vực
công nghệ, bán lẻ hay sản xuất thì các doanh nghiệp đều thuê nhân công ngoại quốc ngay từ
đầu.Theo nhà kinh tế học Sachs, các tập đoàn đa quốc gia không có sự lựa chọn nào khác, nhất
là khi hiện tại, chất lượng lao động toàn cầu đã cải thiện. Ông nhận định nước Mỹ đang không
cung cấp đủ số lao động có trình độ cao trong khi các nước khác lại làm được: “Chúng ta đang
không đáp ứng được nhu cầu về giáo dục cho thanh niên. Trong một thế giới toàn cầu hóa, điều

minh ra chiếc máy ảnh kỹ thuật số đầu tiên trên thế giới vào năm 1975, Kodak lúc đó đã chần
chừ với ý tưởng giảm bớt sự phụ thuộc vào máy ảnh cơ khi đó đang thu lợi nhuận cao. Như
vậy, thay vì tập trung tiếp tục phát tiển công nghệ đổi mới sản phẩm khi biết những bí quyết
công nghệ của EK đã bị học hỏi và phát triển cao hơn thì EK lại chạy theo lợi nhuận trước mắt
trên thị trường film và máy ảnh cơ. Trong lúc đó các đối thủ của họ ở Nhật Bản là Canon và
Sony có cơ hội vươn lên về máy ảnh kĩ thuật số đặc biệt vào những năm 90 của thế kí XX. Như
vậy, một hãng máy ảnh của Mỹ đã từng rất lừng lẫy trong lĩnh vực nhiếp ảnh đã bị mất đi lợi
thế cạnh tranh vào tay Nhật Bản
 Sự đầu tư quá lớn của nước ngoài vào Mỹ có thể chi phối nền Kinh tế Mỹ
Nhiều chuyên gia lo ngại về tỷ lệ đầu tư trong nền kinh tế Mỹ của các chính phủ nước
ngoài, khoảng 16% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong năm 2005.Các nhà đầu tư nước ngoài sở
hữu hơn một nửa chứng khoán kho bạc của Mỹ. Và khi nhận được khá nhiều sự đầu tư của
nước ngoài vào Mỹ sẽ rất dễ khiến Mỹ trở thành con nợ và rất có thể nền kinh tế sẽ bị tác động
mạnh từ những chủ nợ này.
Khi đề cập tới các chủ nợ của Mỹ là nói tới nợ công. Đó là khoản nợ mà công chúng gồm
các cá nhân, tập đoàn, chính quyền bang và địa phương, chính phủ nước ngoài, mua từ chính
phủ liên bang Mỹ dưới dạng trái phiếu ngân khố Mỹ. Để đánh giá mức độ trầm trọng của việc
Trang 9
Toàn cầu hóa và môi trường kinh tế châu Mỹ
nợ nần, nợ liên bang thường được tính theo số phần trăm GDP - hay giá trị tổng số hàng hóa và
dịch vụ tạo ra trong một nước. Tại Mỹ, số % này tăng mạnh, từ 36% năm 2003 lên tới 62%
năm 2010. Nói một cách khác, Mỹ đã tiêu hơn nửa số tiền đang có vào việc trả nợ.
Dưới đây là các chủ nợ lớn của Mỹ:
• Trung Quốc
Số tiền Mỹ nợ Trung Quốc vào năm 2010 là 884 tỷ USD, số phần trăm nợ là 9,8%.
Từ năm 2005 đến 2010, Trung Quốc mua gần 500 tỷ USD tài sản ở Mỹ. Đầu năm 2011,
quan hệ tài chính giữa Mỹ và Trung Quốc đi tới một mốc quan trọng mới: Giá trị trái phiếu kho
bạc mà Trung Quốc nắm giữ lên tới 1 nghìn tỷ USD. Điều này có thể khiến một số người Mỹ
chạy vội tới ngân hàng để đổi USD sang nhân dân tệ. Song, đây chưa phải là tin tức xấu. Thực
tế, khi căng thẳng giữa Mỹ và chủ nợ đói trái phiếu nhất trở nên băng giá và nếu Trung Quốc

động cơn bão chính trị tại Mỹ. Các cuộc tranh luận gần đây đã nổ ra xung quanh việc đầu tư đa
dạng bởi nhà cung cấp thiết bị viễn thông Huawei, cũng như nhà sản xuất thép Anshan tại
Missisipi và việc chế tạo thành công máy bay hạng nhỏ Cirrus tại một công ty nhà nước của
Trung Quốc.
Một nguy cơ rõ ràng là các hành động phản ứng chống Trung Quốc sẽ chỉ gia tăng khi mà
các con số nói trên tăng nhanh và kết quả là sẽ hạn chế quan hệ với các công ty đến từ Trung
Hoa đại lục. Một chính sách đóng cửa như vậy sẽ rất bất lợi đối với các công ty Trung Quốc.
Nó cũng sẽ là một bi kịch cho cộng đồng Mỹ vì sẽ mất đi nhiều việc làm, sự cải tiến, thuế thu
nhập....
Việc ngăn cản sự đóng cửa trong đầu tư song phương sẽ đòi hỏi sự nỗ lực không mệt mỏi từ
hai phía. Quốc hội và Chính phủ Mỹ phải cùng nhau đưa ra một thông điệp rõ ràng có sự đồng
thuận của cả hai đảng rằng các nhà đầu tư Trung Quốc được chào đón tại Mỹ, vì sợ rằng các
nhà đầu tư này sẽ chuyển hướng vào các quốc gia khác
 Những sản phẩm của Mỹ vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt từ những sản phẩm
nước ngoài
Trong môi trường Toàn cầu hóa, nhất là khi tham gia các tổ chức kinh tế thế giới như WTO
hay NAFTA… Mỹ được nới lỏng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để hàng hóa dễ dàng
xâm nhập thị trường nước ngoài hơn, thì ngược lại, bản thân nước Mỹ cũng phải nới lỏng
những hàng rào này cho hàng hóa của những nước khác. Niềm tin của người Mỹ vào sự cạnh
tranh chính vì vậy trở nên suy yếu. Việc nới lỏng dần các quy định pháp lý về chống độc quyền
đã tạo điều kiện cho những con kình ngư sau khi sáp nhập thống trị toàn bộ thị trường. Mà trớ
trêu thay, những vụ hợp nhất, sáp nhập này lại vẫn thường được biện minh bằng thuyết “thị
trường tự do”. Ngoài ra, các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường Mỹ còn làm cho lãi
suất và giá cả tại Mỹ thấp hơn mức thông thường, gây ra một làn sóng tiêu dùng hàng hóa một
cách ồ ạt, bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu.
Trang 11
Toàn cầu hóa và môi trường kinh tế châu Mỹ
Giờ đây , những chiếc xe hơi của các hãng sản xuất của Mỹ như GM hay Ford sẽ phải cạnh
tranh quyết liệt và gay gắt hơn với những chếc xe hơi ngoại nhập như Toyota hay Honda của
Nhật Bản, xe hơi Hyundai của Hàn quốc,....Hay chiếc điện thoại Motorola hay iPhone của Mỹ

Toàn cầu hóa và môi trường kinh tế châu Mỹ
2. Brasil:
a) Toàn cầu hóa mang lại cơ hội gì đến nền kinh tế Brasil?
 Những hàng rào kinh tế được dở bỏ, mở ra những cơ hội thị trường to lớn
Toàn cầu hóa phát triển kéo theo sự ra đời của nhiều liên minh kinh tế quốc tế ở nhiều cấp
độ khác nhau. Sự thành lập các liên minh này nhằm thiết lập quan hệ giữa các nước và quan
trọng hơn hết là dở bỏ dần những cản trở trong thương mại. Và để góp phần xúc tiến thương
mại của mình, Brasil đã gia nhập nhiều tổ chức kinh tế như WTO, MERCOSUR,G-20, …
Brasil là một trong những thành viên tích cực của MERCOSUR - Mục đích của khối này là
khuyến khích hợp tác, trao đổi kinh tế, thương mại trong khu vực và giữa MERCOSUR với
các khu vực khác (trước hết là với khu vực châu Á-TBD, trong đó có ASEAN). Giữa các nước
thành viên thì xóa bỏ các hàng rào thuế quan, hàng hóa trao đổi không bị đánh thuế.
 Brasil có thế mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Với nền kinh tế thị trường phát triển khá đầy đủ, kinh tế mở cửa, Brasil có thế mạnh thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bên cạnh đó, việc kháng cự tốt với cuộc khủng hoảng toàn cầu
cũng là một lợi thế. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và mức lãi suất thực gần 6% khiến thị
trường Brasil trở thành điểm đến hấp dẫn cho nhà đầu tư nước ngoài.
Brasil là quốc gia thu hút vốn FDI nhiều nhất trong số các nước Mỹ La Linh. Vào năm
2008, khu vực Mỹ La tinh và Caribe nhận 142,3 tỷ USD FDI, trong đó Brasil thu hút FDI đạt
45,7 tỷ USD. Dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp FDI tại Brasil đạt 11 tỷ USD trong 5 tháng
đầu năm 2009. Trong năm 2010, chỉ riêng Trung Quốc đã đầu tư 12,7 tỷ USD vào Brasil. 45%
vào khu vực năng lượng; 20% vào ngành công nghiệp khai thác quặng mỏ và 20% vào các hoạt
động nông nghiệp của Brasil. Năm 2011, Bộ trưởng Mỏ và Năng lượng Brasil Edison Lobao
cho biết Trung Quốc muốn cho công ty dầu khí quốc doanh Petrobras của Brasil vay 10 tỷ USD
để giúp khai thác các giếng dầu mới có trữ lượng lớn ở vùng biển nước sâu ngoài khơi Rio de
Janeiro.
Hiện tại, Chính phủ Brasil đang ra sức thu hút đầu tư vào phát triển các ngành công
nghệ cao như dầu mỏ và công nghệ thông tin. Hãng IBM (Mỹ) đã chọn Brasil làm nơi đặt
cơ sở nghiên cứu mới đầu tiên của họ trong 12 năm qua. Brasil hiện chiếm đến gần 50% tổng
mức đầu tư cho công nghệ thông tin tại Nam Mỹ. Và một trong những nguyên nhân giúp Brasil

THUỐC LÁ: Brasil là nước sản xuất thuốc lá lớn nhất thế giới
Thêm vào đó, Brasil hiện là nước khai thác quặng sắt xếp thứ 2 thế giới và đồng thời Brasil
cũng tiên phong về lĩnh vực nghiên cứu thăm dò dầu trong vùng nước sâu.
 Sự gia nhập của các công ty đa quốc gia từ nước ngoài tạo ra thị trường hàng hóa
đa dạng, nhiều chủng loại, giá thấp, thị trường lao động được cải thiện.
Như trong thị trường xe ô tô, Brasil đã vượt qua Đức để trở thành thị trường xe hơi lớn thứ
tư trên thế giới vào năm 2010. Tháng 12/2010, hãng xe Fiat của Ý công bố sẽ mở nhà máy thứ
2 tại Brasil, tổng vốn đầu tư 1,8 tỷ USD trong kế hoạch đầu tư 5,9 tỷ USD vào Brasil trong 3
năm tới. Hãng xe Hyundai của Hàn Quốc và Chery của Trung Quốc cũng đang mở nhà máy tại
Brasil. Tại Brasil, thương hiệu Fiat được ưa chuộng hàng đầu, chiếm đến 23% tổng doanh số
Trang 14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status