Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
LỜI NÓI ĐẦU
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 do Ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá VIII báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng đã xác định rõ tính tất yếu của xu thế hội nhập kinh tế cùng với
những cơ hội cũng như thách thức của hội nhập: "Toàn cầu hóa kinh tế là xu
thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc
đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế… Các nước đang phát triển, trong đó có nước ta, có cơ hội thu hẹp
khoảng cách so với các nước phát triển, cải thiện vị thế của mình; đồng thời
đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu không tranh thủ được cơ hội, khắc
phục yếu kém để vươn lên. Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là
một quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt
là đấu tranh của các nước đang phát triển bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật
tự kinh tế quốc tế công bằng, chống lại những áp đặt phi lí của các cường
quốc kinh tế, các công ty xuyên quốc gia…"
Đối mặt với những thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
Việt Nam cần có những chính sách, định hướng phát triển như thế nào để tận
dụng được cơ hội thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển, cải thiện vị
thế, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn? Đảng và nhà nước ta đã khẳng định tầm
quan trọng của "khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công
nghệ sinh họcô (Theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010) và
nêu rõ: "Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của
sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi
sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của đời sống hiện đại. Ứng dụng và
phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh
vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới,
phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, nâng chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an
mạng điện tử với việc kinh doanh điện tử sẽ là cơ hội lớn cho các nước đang
phát triển để tận dụng nhằm phát triển kinh tế của đất nước mình. Nếu không bắt
kịp với bước tiến này khoảng cách của các nước đó đối với các nước phát triển
sẽ còn gia tăng nhanh chóng. Do đó, phát triển TMĐT trở thành vấn đề có tính
chất sống còn đối với các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt nam. Xuất phát
từ lý do đó em chọn đề tài “Giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam –
Thực trạng và định hướng” làm đề tài cho khoá luận của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Những nội dung cơ bản về thương mại điện tử.
Chương II: Thực trạng giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam.
Chương III: Một số biện pháp để thúc đẩy sự phát triển thương
mại điện tử ở Việt Nam.
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
CHƯƠNG I
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
I. KHÁI NIỆM TMĐT
1. TMĐT là gì
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về “TMĐT” nhưng tựu trung lại
có hai quan điểm lớn trên thế giới xin được nêu ra dưới đây.
- TMĐT theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Luật mẫu về Thương
mại điện tử của ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế
(UNCITRAL): Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để
bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù
có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các
giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại như cung cấp hoặc trao
đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương
mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ
thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác
hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc
mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm
được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet.
Khái niệm về TMĐT do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên
Hợp quốc đưa ra là: TMĐT được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương
mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet.
Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩa hẹp
TMĐT chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thông qua
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện
thoại, fax, telex...
2. Phân loại
2.1 Phân loại theo đối tượng giao dịch
Giao dịch TMĐT diễn ra bên trong và giữa ba nhóm tham gia chủ yếu:
(1) doanh nghiệp; (2) Chính phủ; (3) người tiêu dùng. Cụ thể là:
a) TMĐT giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp: bao gồm trao đổi dữ
liệu, mua bán và thanh toán hàng hoá và lao vụ, chuyển giao chứng từ. Mục
đích cuối cùng là đạt được hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh. Đây là
loại hình TMĐT chủ yếu nhất, xuất hiện sớm nhất và là “mảnh đất” của trao
đổi dữ liệu điện tử, tức EDI.
b) TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng: điển hình là việc mua
hàng trên mạng. Nó ra đời và phát triển nhanh chóng cùng với sự xuất hiện
của World Wide Web. Mục đích cuối cùng là để người tiêu dùng có thể mua
hàng tại nhà mà không cần tới cửa hàng.
BIỂU ĐỒ SỐ 1. MÔ HÌNH GIAO DỊCH TMĐT
Doanh nghiệp Chính phủ
Doanh nghiệp Chính phủ
Người tiêu dùng
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
c) TMĐT giữa doanh nghiệp và Chính phủ: nhằm mục đích mua sắm
Chính phủ; thuận tiện cho quản lý (thuế, hải quan…) và cung cấp thông tin.
- Thẻ giữ tiền (stored-value card): cho phép người dùng chuyển giá trị
tiền mặt vào một chiếc thẻ, thường được dùng trong vận tải công cộng, tại
trường đại học hoặc trạm xăng. Thẻ có loại phi trực tuyến (ví dụ để mua hàng
từ máy bán hàng tự động), có loại trực tuyến (ví dụ để mua hàng từ một
website), có loại dùng được cả hai chức năng trên. Cũng có thẻ cho phép nạp
thêm tiền, có thẻ chỉ dùng được một lần rồi bỏ. Một số thẻ có gắn thêm chip
máy tính và chúng được gọi là thẻ thông minh (smart card): chúng mang chức
năng của thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, ngoài ra còn lưu trữ các thông tin về chủ
nhân thẻ (mang thêm chức năng của chứng minh thư hoặc bằng lái xe).
- Ví tiền điện tử (e-wallet): là nơi để tiền mặt Internet, cho phép thanh
toán những khoản chi trực tuyến hoặc phi trực tuyến rất nhỏ. Mỗi lần mua
hàng, tài khoản trực tuyến của khách hàng bị trừ đi một khoản tương ứng. Ví
tiền điện tử có thể hoạt động giống kiểu thẻ giữ tiền, cũng có thể bằng cách tự
động truy nhập vào một tài khoản ảo mà người dùng tạo ra qua hệ thống máy
tính, tài khoản ảo này kết nối với tài khoản tín dụng hoặc ghi nợ của người
dùng.
- Ngân hàng điện tử (e-banking): là các nghiệp vụ, sản phẩm truyền
thống của ngân hàng trước đây như gửi tiền, thanh toán, cho vay, quản lý tài
khoản, quản lý tài chính… được thực hiện trên các kênh điện tử, khách hàng
không cần phải đến giao dịch trực tiếp tại quầy làm việc của ngân hàng.
c) Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI): là việc trao đổi dữ liệu dưới dạng có
cấu trúc (tức là các bên phải thoả thuận từ trước về khuôn dạng cấu trúc của
thông tin) từ máy tính này sang máy tính khác giữa các công ty hay tổ chức
một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người. EDI đang
được sử dụng rộng rãi trên thế giới, chủ yếu phục vụ cho mua và phân phối
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
hàng (gửi đơn hàng, xác nhận, hoá đơn…) nhưng cũng dùng cả cho các mục
đích khác như thanh toán tiền khám bệnh, trao đổi các kết quả xét nghiệm…
EDI được áp dụng từ trước khi có Internet: người ta dùng mạng giá trị
gia tăng (Value Added Network – VAN) để liên kết các đối tác EDI. Cốt lõi
hoá hữu hình nên sau đó cửa hàng vẫn phải dùng tới các phương tiện gửi hàng
truyền thống để đưa hàng tới tay khách.
3. Đặc điểm của TMĐT
3.1 Ở góc độ doanh nghiệp hay tổ chức
Nhìn nhận vấn đề từ phía doanh nghiệp hay tổ chức, việc tạo lập một
môi trường TMĐT gắn liền với những thay đổi cơ bản trong cách thức kinh
doanh cũng như việc mở rộng phạm vi kinh doanh. Có thể nói TMĐT tác
động mạnh mẽ tới các quy trình kinh doanh. TMĐT phụ thuộc chặt chẽ vào
công nghệ thông tin, chủ yếu là do các yêu cầu về chức năng, các lợi ích về
chi phí và tất nhiên là cả do sự thống trị của công nghệ thông tin trong thời
đại ngày nay. Thực tế này tạo ra một tầm nhìn quản lý chiến lược cao cho
doanh nghiệp, đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng cùng với việc chấp nhận
các thay đổi cơ bản để đạt được mục tiêu. Hơn thế, nó tạo ra sự phân phối lại
nguồn nội lực của doanh nghiệp bằng cách hình thành các nhóm chức năng
chéo (cross functional teams) để mang lại những thay đổi cần thiết. Nói một
cách ngắn gọn, với sự phân tích như trên, TMĐT có bốn đặc điểm:
- Tạo ra một tầm nhìn quản lý chiến lược cao cho doanh nghiệp
- Gắn bó chặt chẽ với những mục tiêu táo bạo
- Hàm ý một sự phân phối lại nội lực của doanh nghiệp
- Ảnh hưởng sâu rộng tới mọi thực thể bao gồm các cơ cấu nội bộ, các
đối tác kinh doanh và khách hàng.
3.2 Ở góc độ công nghệ thông tin
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
Nhìn nhận vấn đề từ phía sự phát triển của công nghệ thông tin, TMĐT
còn mang nhiều đặc điểm khác. Đầu tiên, nó có một định hướng ứng dụng
mạnh mẽ, nghĩa là việc sử dụng các phương tiện kinh doanh điện tử hiện đại
thúc đẩy và hiện thực hoá những cải tiến quy trình kinh doanh. Sự thúc đẩy
này là hoàn toàn tự nhiên, tất cả các bộ phận đều có lợi (đưa các bộ phận xích
lại gần nhau và phá vỡ nhiều rào cản). Rất nhiều doanh nghiệp đã nhận ra tầm
quan trọng của đối tác trong quá trình thực hiện các mục tiêu kinh doanh; điều
Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax,
bằng khoảng 0,5% thời gian giao dịch qua bưu điện. Chi phí giao dịch qua
Internet chỉ bằng 5% chi phí giao dịch qua Fax hay qua bưu điện chuyển phát
nhanh; chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng 10%-20% chi phí
thanh toán theo lối thông thường. Trong hai yếu tố cắt giảm này, yếu tố thời gian
đáng kể hơn, vì việc nhanh chóng thông tin hàng hoá đến người tiêu dùng (mà
không phải qua trung gian) có ý nghĩa sống còn trong cạnh tranh kinh doanh.
- TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa
các nhân tố tham gia vào quá trình thương mại. Thông qua mạng, các đối
tượng tham gia có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau nhờ đó sự hợp
tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục; tạo điều kiện
tìm kiếm các bạn hàng mới, cơ hội kinh doanh mới trên bình diện toàn quốc,
khu vực và thế giới.
Xét trên bình diện quốc gia:
- Trước mắt TMĐT kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông
tin và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế. Nhìn rộng hơn, TMĐT
tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá (digital economy).
Lợi ích này có một ý nghĩa đặc biệt đối với các nước đang phát triển, có thể
tạo ra một bước nhảy vọt, tiến kịp các nước trong một thời gian ngắn nhất.
Ngoài ra, nó còn có những lợi ích:
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
Hoạt động trực tuyến: TMĐT tạo ra môi trường để làm việc, mua sắm,
giao dịch... từ xa nên giảm việc đi lại, “ nhiễm, tai nạn".
Nâng cao mức sống: Nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp tạo áp lực
giảm giá do đó khả năng mua sắm của khách hàng cao hơn, nâng cao mức
sống của mọi người.
Lợi ích cho các nước nghèo: Những nước nghèo có thể tiếp cận với các
sản phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn thông qua Internet và TMĐT.
Đồng thời cũng có thể học tập được kinh nghiệm, kỹ năng... được đào tạo qua
mạng.
- Tóm lại, TMĐT đưa lại những lợi ích tiềm tàng, giúp doanh nghiệp
thu được thông tin phong phú về thị trường và đối tác, giảm chi phí tiếp thị và
giao dịch, rút ngắn chu kỳ sản xuất, tạo dựng và củng cố quan hệ bạn hàng,
tạo điều kiện dành thêm phương tiện cho mở rộng quy mô và công nghệ sản
xuất.
2. Hạn chế của TMĐT
Có hai loại hạn chế của TMĐT, một nhóm mang tính kỹ thuật, một
nhóm mang tính thương mại.
Theo nghiên cứu của CommerceNet (commerce.net), 10 cản trở lớn
nhất của TMĐT tại Mỹ theo thứ tự là:
1. An toàn
2. Sự tin tưởng và rủi ro
3. Thiếu nhân lực về TMĐT
4. Văn hóa
5. Thiếu hạ tầng về chữ ký số hóa (hoạt động của các tổ chức chứng
thực còn hạn chế)
6. Nhận thức của các tổ chức về TMĐT
7. Gian lận trong TMĐT (thẻ tín dụng...)
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
8. Các sàn giao dịch B2B chưa thực sự thân thiện với người dùng
9. Các rào cản thương mại quốc tế truyền thống
10. hiếu các tiêu chuẩn quốc tế về TMĐT
Bất chấp các khó khăn, hạn chế này TMĐT vẫn phát triển rất nhanh
trong các năm qua. Theo thống kê của Emarketer.com vào tháng 6.2002, tại
Mỹ số lượng giao dịch chứng khoán qua mạng tăng từ 300.000 năm 1996 lên
25 triệu năm 2002. Theo Korean Times, tại Hàn Quốc số lượng giao dịch tăng
từ 2% năm 1998 lên 51% năm 2002. Theo IDC (2000) số lượng khách hàng
tham gia giao dịch chứng khoán qua mạng năm 2004 đạt 122.3 triệu so với
76.7 triệu năm 2002.
HẠN CHẾ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
7. Thực hiện các đơn đặt hàng trong
TMĐT B2C đòi hỏi hệ thống kho hàng tự
động lớn
7. Sự tin cậy đối với môi trường kinh
doanh không giấy tờ, không tiếp xúc trực
tiếp, giao dịch điện tử cần thời gian
8. Số lượng người tham gia chưa đủ
lớn để đạt lợi thế về quy mô (hoà vốn và
có lãi)
9. Số lượng gian lận ngày càng tăng
do đặc thù của TMĐT
10.Thu hút vốn đầu tư mạo hiểm khó
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
khăn hơn sau sự sụp đổ hàng loạt của các
công ty dot.com
III. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN TMĐT
1. Hạ tầng cơ sở công nghệ
Để thành công trong kinh doanh điện tử, yêu cầu hàng đầu chính là
phải có một hạ tầng công nghệ thông tin ở mức độ phát triển nhất định, bao
gồm:
- Hạ tầng về mạng
- Hạ tầng an toàn bảo mật
- Môi trường ứng dụng server
- Công cụ quản lí dữ liệu và dung liệu
- Công cụ phát triển ứng dụng
- Hệ thống điều khiển và phần cứng
- Cơ sở quản lí hệ thống
Mức độ phát triển nhất định đó của hạ tầng công nghệ thông tin phải
luôn đáp ứng được nhu cầu ngày một nâng cao của việc kinh doanh TMĐT,
tức là nó phải đảm bảo các yêu cầu về tính linh hoạt, tính quy mô và tính an
tử không những phải có năng lực chuyên môn về kinh doanh nói chung và về
TMĐT nói riêng mà còn phải thành thạo ngoại ngữ, các kĩ năng cơ bản về
mạng. Rất nhiều công ty khi tham gia TMĐT đã lập ra phòng Công nghệ
thông tin với nhiệm vụ đưa doanh nghiệp tiếp cận được những mô hình công
nghệ và thị trường mới.
3. Hạ tầng cơ sở kinh tế xã hội
3.1 Chính sách và chiến lược quốc gia về TMĐT
Trước hết, Chính phủ từng nước phải quyết định xem xã hội thông tin
nói chung và Internet nói riêng là một hiểm hoạ hay là một cơ hội. Quyết
định đó không phải dễ dàng, ngay một nước hiện đại như Pháp cũng phải tới
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
năm 1997-1998 mới quyết định được và tuyên bố “đây là cơ hội” (sau một
thời gian dài chống lại Internet vì nó chiếm mất vị trí của mạng Minitel vốn
rất phổ biến trong nội bộ nước Pháp). Từ khẳng định mang tính nhận thức
chiến lược ấy mới có thể quyết định thiết lập môi trường kinh tế xã hội và
pháp lý cho nền kinh tế số nói chung và cho TMĐT nói riêng, cụ thể như
quyết định đưa vào mạng các dịch vụ hành chính, dịch vụ thu trả thuế, thư tín,
dự báo thời tiết, thông báo giờ tàu xe… và đưa các nội dung của nền kinh tế
số vào văn hoá và giáo dục.
Tuy vậy cần nhấn mạnh rằng, tri thức và công nghệ ngày nay đang phát
triển như vũ bão và những gì đúng cho một vài năm trước không nhất thiết
đúng cho thời điểm hiện tại. Sự lan toả và thâm nhập mạnh mẽ của công
nghệ thông tin vào mọi mặt hoạt động kinh tế xã hội trên toàn thế giới mang
tính quy luật tất yếu, khiến cho những ai nói “không” với nó sẽ vĩnh viễn tự
cô lập mình và bị loại khỏi tiến trình văn minh nhân loại. Vào những năm
đầu thế kỷ 21 này, câu hỏi đặt ra cho các Chính phủ và doanh nghiệp không
còn là “có chấp nhận TMĐT hay không?”, “triển khai TMĐT được gì, mất
gì?” mà phải là “chấp nhận và triển khai TMĐT như thế nào?”. Một khi mọi
đối tượng đều ý thức được tính tất yếu của TMĐT, việc triển khai sẽ được
tiến hành nhanh chóng và nhất quán với quyết tâm cao.
Internet đã trở thành một phương tiện thuận lợi cho các lực lượng chống đối
sử dụng nhằm kích động lật đổ Chính phủ và/hoặc gây rối loạn trật tự xã hội.
Kiểm soát và trấn áp các loại tội phạm trên mạng là vô cùng khó khăn, đòi hỏi
sự hợp tác chặt chẽ giữa các lực lượng, các quốc gia.
Ngoài ra phải tính tới tác động cuốn hút thanh niên theo các lối sống
không phù hợp với bản sắc dân tộc, đặc biệt ở các nước châu Á. Đây là thách
thức quan trọng đối với nhiệm vụ phát triển của các xã hội hiện nay, vì toàn
cầu hoá cũng như sự bùng nổ của Internet là một thực tế buộc phải thích ứng.
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
Một khi các nền văn hoá khác nhau là thành viên của hệ thống Internet thì nhu
cầu về sự lành mạnh, trong sáng của thông tin là rất lớn, sao cho con người có
thể hành động theo xu thế toàn cầu hoá nhưng vẫn duy trì được giá trị văn hoá
quốc gia.
4. Hạ tầng cơ sở pháp lý
Hiện nay, mặc dù TMĐT đã phát triển đến giai đoạn thứ hai của nó
nhưng vẫn chưa có một hành lang pháp lý đầy đủ để điều chỉnh loại hình
thương mại này. Để tạo điều kiện cho TMĐT có thể hoạt động một cách đúng
đắn, cần có sự thừa nhận chính thức về tính pháp lí của TMĐT, của chữ kí
điện tử, của hợp đồng TMĐT, của thanh toán điện tử … Từ đó, một khung
pháp lí là rất cần thiết để điều chỉnh về hợp đồng và những tranh chấp của
hợp đồng.
Do TMĐT mang tính chất toàn cầu nên những văn bản pháp luật về
TMĐT cũng cần có sự thống nhất cơ bản để hoạt động kinh doanh được đơn
giản và hiệu quả. Tuy nhiên, các bộ luật cũng như những văn bản quy định về
hoạt động TMĐT hiện hành vẫn còn có những khác biệt rất cơ bản, một điều
tất yếu sẽ dẫn đến xung đột pháp lí. Trong tranh chấp giữa các bên ở những
quốc gia khác nhau, một vấn đề thường vướng mắc là việc kiện tụng xảy ra ở
đâu và áp dụng luật nào. Trong khi luật của nhiều nước Châu Âu quy định
luật áp dụng là luật của nước người bán (hay người cung cấp hàng) thì quy tắc
Rome II của Uỷ ban Châu Âu lại quy định luật áp dụng là luật nước người
telecom và Hà Nội Telecom đã làm thị trường thông tin di động trở nên thực
sự mang tính cạnh tranh và đã làm thay đổi bức tranh thị phần di động tại Việt
Nam.
Cạnh tranh đã góp phần làm giá cước viễn thông giảm rõ rệt, giúp
nhiều đối tượng có mức thu nhập khác nhau trong xã hội có thể tiếp cận các
dịch vụ viễn thông, mặt khác, cạnh tranh góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ thông tin di động nhanh chóng ứng dụng công nghệ mới.
- Internet
Trong thời gian vừa qua, một đặc điểm nổi bật là đi đôi với việc tiếp
tục phát triển các dịch vụ cơ bản (kết nối internet), đã có sự tăng trưởng mạnh
mẽ của các dịch vụ giá trị gia tăng trên nền Internet, đặc biệt là dịch vụ giải
trí. Sự tăng trưởng này xuất phát từ một số nguyên nhân: dịch vụ ADSL cho
phép người dùng tiếp cận băng thông rộng với chi phí hợp lý, các doanh
nghiệp không chiếm thị phần khống chế được tự ấn định mức cước, hệ thống
trung chuyển Internet quốc gia (VNIX) giúp chất lượng Internet được cải
thiện rõ rệt, loại bỏ các truy nhập vòng ra quốc tế, giảm thời gian truy nhập
của người sử dụng.
Dung lượng kết nối Internet quốc tế tiếp tục phát triển mạnh trong
những năm qua, tính đến tháng 12/2006, tổng dung lượng kết nối Internet
quốc tế của các IXP Việt Nam đã đạt 6.897 Mbps, gấp 6 lần so với thời điểm
tháng 12/2003 và gấp 3 so với thời điểm tháng 12/2004.
Sau hơn 2 năm kể từ khi bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam (tháng 7/2003),
đến hết năm 2006, số thuê bao ADSL của Việt Nam đã đạt trên 601708. Mặc
dù thị trường đã có 5 nhà cung cấp dịch vụ này, nhưng vẫn không đáp ứng đủ
nhu cầu. Các nhà cung cấp đã liên tục giảm giá và đưa ra những gói cước
khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng (doanh nghiệp, cửa
hàng Internet, gia đình). Mặc dù chất lượng ADSL chưa ổn định và gây nên
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Quỳnh Trang - Lớp 13C
sự phàn nàn từ phía người sử dụng, có thể nói ADSL đã góp phần làm thay
đổi nhận định về giá cước truy nhập Internet quá cao, góp phần đẩy nhanh tốc
nghệ mới sẽ cho phép cung cấp cso hiệu quả các dịch vụ phát thanh, truyền
hình và đa phương tiện qua mạng viễn thông và Internet. Đây là một điều kiện
thuận lợi cho việc tiến hành các hoạt động TMĐT vì các bên có thể sử dụng
nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có những phương tiện rất thông dụng,
phổ biến, để tiến hành hoạt động thương mại.
- An ninh mạng
Trong bối cảnh lượng thông tin và giao dịch qua mạng tăng nhanh, vấn
đề an toàn, an ninh mạng cho các lĩnh vực nói chung và cho lĩnh vực TMĐT nói
riêng đang ngày càng được các tổ chức, doanh nghiệp quan tâm.
- Chữ ký điện tử
Ngay từ khi Luật Giao dịch điện tử được ban hành và công nhận giá trị
của chữ ký điện tử, một số đơn vị, doanh nghiệp đã nghiên cứu và triển khai
chữ ký điện tử, cụ thể là chữ ký số. Trong khối cơ quan nhà nước, chữ ký số
đã được áp dụng ở Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Sở
Khoa học – Công nghệ Đồng Nai. Các doanh nghiệp như Nacencomm,
Misoft, VDC, VASC đã cung cấp dịch vụ chữ ký số cho một số doanh nghiệp,
cá nhân có yêu cầu.
Chữ ký điện tử nói chung và chữ ký số nói riêng chưa được áp dụng
rộng rãi do một số nguyên nhân sau:
+ Chưa có đủ khả năng kỹ thuật để đảm bảo quyền lợi công bằng cho 2
bên tham gia giao dịch điện tử.
+ Còn quá ít các ứng dụng có sử dụng giao dịch điện tử. Chính phủ
chưa có một hệ thống ứng dụng nào sử dụng giao dịch điện tử như là một
công cụ không thể hay thế được giữa các cơ quan chính phủ với nhau, giữa cơ
quan chính phủ với doanh nghiệp, người dân.