Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 1 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trước tình hình thực tế hiện nay, hai vấn đề được xã hội quan tâm nhiều nhất đó
là: giữ gìn những nét đẹp văn hoá truyền thống và cung cách ứng xử của con người trong
xã hội ngày nay không còn những chuẩn mực, khuôn phép như những thế hệ cha ông ta
trước kia. Hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng đề cập rất nhiều về vấn đề
này. Một phần là để chúng ta nhìn nhận lại quá khứ; phần khác là để tự mỗi người nhìn
nhận lại chính mình để có được những cách ứng xử thông minh, khôn khéo phù hợp với
thời đại, mà vẫn giữ được những nét văn hóa ứng xử mà cha ông ta có được từ các thế hệ
trước. Đó là cái nghĩa cái tình trong các mối quan hệ giao tiếp giờ đây không còn thật thà
như trước kia nữa. Chính từ những vấn đề trên mà tôi quyết định chọn đề tài “Nghĩa
trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” làm đề tài nghiên cứu. Đây không
phải là một đề tài mới nhưng cái hay vẫn còn ẩn chứa bên trong và một phần nữa là giúp
tôi có cơ hội tìm hiểu kỹ hơn về tác phẩm Lục Vân Tiên.
Trước hết gì đây là đề tài mang tính thời sự luôn được sự quan tâm chú ý của nhiều
người, chính vì thế mà khi thực hiện đề tài có được một tính thiết thực và nhận được sự
ủng hộ từ nhiều phía giúp thêm phần động lực cho quá trình tôi thực hiện công việc này.
Ngoài ra vì đây là đề tài sát với vấn đề ngoài thực tế cuộc sống, vì cho dù thời đại có tiến
bộ đến mấy đi chăng nữa thì nhu cầu giao tiếp là không thể thiếu được. Đồng thời qua
việc thực hiện đề tài giúp tôi nhìn nhận lại chính mình về những giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc, hơn nữa qua đây giúp tôi có thêm những kiến thức nhiều hơn về tác
phẩm. Cuối cùng là tôi nhận thấy được đề tài có ý nghĩa cho việc phục vụ cho cuộc sống
tinh thần của con người trong thời hiện đại, quá khứ sẽ tác động lại bản thân mỗi chúng ta
và có được những nét đối xử với nhau phù hợp với đạo lí mà truyền thống ngàn xưa có
được. Vì qua việc đánh giá nhân cách mỗi cá nhân là cơ sở để hình thành và quyết định
một xã hội.
Từ việc thực hiện công việc trên, tôi mong rằng khi thực hiện xong đề tài sẽ góp
một phần nhỏ công sức của mìmh vào tiếng nói chung của xã hội; tiếng nói của quá khứ
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 3 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
thách trước khó khăn, gian khổ vượt qua hết những khó khăn trở ngại đó là điều rất khó,
có như vậy mới hình thành nên một nhân cách tốt được.Thực tế cuộc sống là vậy những
gì mà mình trải qua khó khăn vất vả luôn là điều ta trân trọng và giữ gìn nhất.
Những tính cách hết lòng vì nghĩa ấy không chỉ tìm thấy ở xã hội Trung Quốc, mà
trong quá trình giao lưu trao đổi văn hóa với nhau có ảnh hưởng đến tính cách con người
Việt Nam, mà cụ thể là các nhà văn, nhà thơ trong giai đoạn văn học trung đại bị ảnh
hưởng rất nhiều từ tư tưởng ấy có những tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,
Nguyễn Đình Chiểu… Vì thời gian và điều kiện không cho phép tôi chỉ giới thiệu một tác
giả gần gũi với con người Nam Bộ là Nguyễn Đình chiểu mà ở những phần nội dung sau
tôi sẽ giới thiệu kỹ hơn về tư tưởng nhân nghĩa của cụ Đồ Chiểu.
Trong quyển Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (tập 1), Nhà xuất bản Hà Nội năm 1997
có những nhận định về tính cách của Nguyễn Đình chiểu thể hiện qua tác phẩm Lục Vân
Tiên: “Tác phẩm Lục Vân Tiên đáp ứng được tinh thần dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài,
ghét gian ác của người nông dân miền Nam mà cũng là của mọi người Việt Nam chúng
ta” [18;35].
“Những con người tốt bụng trong Lục Vân Tiên kế tục những truyền thống cao quí về tư
tưởng nhân nghĩa, đó là con người trong sạch, bình thường, làm việc nghĩa như một nhu
cầu không hề nghĩ đến lợi danh, ơn huệ” [18;35].
Cũng từ quyển sách này tác phẩm Lục Vân Tiên có một giá trị mạnh mẽ đối với
chính cuộc sống của mỗi chúng ta, tác động đến việc hình thành và phát triển nhân cách
tốt đẹp góp phần làm cho cuộc sống ngày thêm hoàn thiện hơn: “Lục Vân Tiên có tác
dụng giáo dục mạnh mẽ. Ở một mức độ khía cạnh nhất định, con ngừơi lục tỉnh nhất là
tầng lớp thanh niên, lấy Vân Tiên làm nhân vật lí tưởng, ước mơ làm một vân Tiên trong
cuộc đời, coi mối tình Vân Tiên – Nguyệt Nga là tuyệt đẹp, coi tình bạn giữa Vân Tiên,
Hớn Minh và Tử Trực là cao quí” [18;36].
Chẳng những tác phẩm chỉ dừng lại ở việc nêu cao tính giáo dục mà còn được
nâng lên ở tầm cao hơn đó là đạo lí của dân tộc được Nguyễn Đình Chiểu giử gắm qua tác
phẩm, những phẩm chất tốt xấu, chính nghĩa phi nghĩa đã được nhà thơ nói qua rất rõ.
công khai”[17;112 – 113]. Như vây công trình phần nào đề cập đến tính cách thái độ của
Nguyễn Đình Chiểu với cái đạo lí, nhân nghĩa mà trong chính bản thân ông luôn tỏa sáng.
Tác phẩm của Đồ Chiểu có tính chất giáo huấn rất cao chẳng những thể hiện ở tính cách
mà trong giọng điệu của Nguyễn Đình Chiểu cũng bộc lộ được tư tưởng đạo lí của dân
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 5 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
tộc. Qua đây ta có thể nói tuy Nguyễn Đình Chiểu không nhìn thấy cuộc đời bằng nhãn
quan trực tiếp của mình, mà ông cảm nhận đời bằng cả trái tim và tấm lòng chính nghĩa.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của tôi trong khi thực hiện đề tài này là: muốn tìm
hiểu chữ nghĩa thể hiện như thế nào trong tác phẩm Lục Vân Tiên và đồng thời giúp chính
bản thân tôi nắm lại tác phẩm rõ hơn, để phục vụ cho nhu cầu học tập ở hiện tại, cũng như
góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công việc nghiên cứu sau này.
4. Phạm vi nghiên cứu
Do tính chất đặc thù của đề tài nên tôi chỉ nghiên cứu trên phạm vi sách vở, chính
vì thế tôi chọn quyển Nguyễn Đình Chiểu, “Cổ văn việt nam, Đồ Chiểu, Lục Vân Tiên
sách giáo khoa Tân Việt” sửa theo đúng bản của cụ Trương Vĩnh Ký phát hành năm 1889
có phần chú thích để làm tài liệu để nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Theo
số liệu thống kê cho đến hiện nay truyện Lục Vân Tiên có rất nhiều văn bản khác nhau,
nhưng có một số bản dịch ở miền Bắc, nội dung có phần xa lạ với cách tiếp cận của tôi,
nên tôi quyết định chọn văn bản trên. Vì theo tôi đây là văn bản tôi có thể cảm nhận được
dễ dàng và gần gũi với tôi hơn nên tôi quyết định chọn văn bản này làm tư liệu nghiên
cứu trực tiếp. Và bên cạnh đó tôi còn tham khảo thêm một số sách vở, các bài nghiên cứu
phê bình khác để công việc được tiến hành thuận lợi hơn, tôi tìm thêm nguồn tư liệu trên
mạng những bài viết có liên quan đến đề tài để tham khảo thêm và bổ sung kiến thức cho
đề tài. Đó chính là phạm vi nghiên cứu của tôi khi thực hiện công việc này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu trong quá trình nghiên cứu đề tài này là sử dụng những ngữ
liệu học và ngôn ngữ học. Bên cạnh đó tôi tìm những nguồn tài liệu sách báo có liên quan
đến đề tài, trên cơ sở đó tổng hợp, phân tích vấn đề đồng thời có sự so sánh đối chiếu để
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 7 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
Nghĩa vua tôi, nghĩa cha con, nghĩa vợ chồng chính vì thế Nho giáo nhấn mạnh vai trò
của nghĩa
“見 義 不為, 無 勇 也.”
kiến nghĩa bất vi vô dũng dã (Luận ngữ) (thấy nghĩa mà không làm, không
phải là dũng cảm)
Từ những quan niệm trên ta thấy được vai trò và trách nhiệm của một cá nhân
muốn thực hiện được điều nghĩa, việc làm phải hợp với đạo trời và đạo người; không nghĩ
đến lợi ích cá nhân khi thực hiện công việc đó. Khổng Tử đưa ra khi thực hiện một điều
nghĩa điều trước tiên là không ngại khó ngại khổ phải đặt lợi ích của cộng đồng lên trên
quyền lợi cá nhân. Nếu như một cá nhân sống trong tập thể cộng đồng việc mình là phục
vụ cho lợi ích cộng đồng thì cũng một phần nào có chính bản thân mình trong tập thể to
lớn ấy. Đặt trong mối quan hệ tương giao nghĩa chỉ phục vụ cho lợi ích cộng đồng nhưng
đồng thời qua đó cũng tác động trở lại chính cuộc sống cá nhân trong cộng đồng đó.
“Nhân là để yêu người khác, nghĩa là để chính mình, cho nên lấy nhân mà nói là
nói người, lấy nghĩa mà nói là nói ta. Phép tắc của nhân là yêu người; phép tắc của nghĩa
là chính mình. Nhân tạo người, nghĩa tạo ta”.[17; tr.47]
Quan niệm của Khổng Tử đưa ra để chứng minh cho lí lẽ sống, nhân là đối đãi với
nhau bằng tình thương ái, giúp đỡ người khác bằng động cơ từ tình thương yêu của những
con người đồng loại nhằm đem lại cuộc sống cho người khác sung túc hơn. Khi thực hiện
việc nghĩa tấm lòng phải đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ phải làm không thể làm ngơ coi
đó là niềm vui của chính bản thân mình, không cầu mong ở người khác sự đền ơn trở lại
đó mới chính là việc làm chính nghĩa. Còn nghĩa trong gia đình phải theo nề nếp phải
kính trọng cha mẹ, thương yêu anh em, trong quan hệ vợ chồng phải bền chặt cái tình có
thể mất nhưng cái nghĩa là sâu đậm không dễ gì có thể quên được.
1.1.2. Tầm quan trọng của nghĩa trong việc đánh giá con người theo
quan niệm Nho gia
1.1.2.1. Theo quan niệm Nho giáo Trung Quốc về nghĩa
Luận văn tốt nghiệp
kiên quyết trước việc lợi.
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 9 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
Bên cạnh đó người quân tử còn phải có tinh thần lạc quan không bi quan trước cuộc
sống, vì con đường để đến với danh dự phải gặp rất nhiều khó khăn thử thách “giữ vững
tư cách khi gặp hoạn nạn”. Trong khó khăn phải tìm cách vượt qua, một khi ý chí quyết
tâm thì không việc gì có thể làm khó được ta và đối với người quân tử phải giữ được năm
đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Khi ấy thì quân tử mới thực sự được mọi người kính trọng
về tài đức.
Chẳng những thế trong những nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày người quân tử
cũng phải đi vào khuôn phép nề nếp, những việc mà mọi người thường coi là tầm thường
không để ý đến nhưng nó cũng một phần nào qui định tính cách của người quân tử.
“Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn vu sự vi thận vu ngôn, tựu hữu đạo nhi
chính yên, khả vĩ hiếu học dã dĩ”. [22; tr.456] năm điều ấy đã được Khổng Tử phân tích:
“Thực vô cầu bão”đối với người quân tử việc ăn uống không theo đuổi cao lương
mĩ vị, thực phẩm quí hiếm, chỉ cần ăn hết bữa là đủ. Ăn để sống chứ không phải sống để
ăn. Bậc quân tử phải đạt được những tiêu chuẩn mà chính bản thân mình đưa ra, phải thực
hiện nó một cách nghiêm túc, phải sống hợp với đạo lí lẽ đời, đồng thời qua việc ăn uống
hàng ngày cũng phải đưa ra những qui định riêng cho mình. “Ăn uống không được ăn quá
no, tiết kiệm thích đáng lương thực thực phẩm, mới có thể bảo vệ được sức khỏe, không
đeo đuổi quá cao vào việc ăn uống, những con người như vậy thường không có chí khí
không có tiền đồ”.
“Cư vô cầu an”đây muốn nói con người ta không nên lúc nào cũng chỉ chú ý đến
những điều kiện ở, chỉ mong được thư thái an nhàn sẽ không có chí khí chiến đấu, có
nghèo mới đẻ ra chí khí, an nhàn đẻ ra thư sinh yếu đuối. Đây là tư tưởng nhất quán của
Nho gia.
“Mẫn vu sự” người quân tử làm việc phải mẫn cảm nhanh nhẹn. Cuộc sống đời
người có hạn, thế sự vô cùng. Phải tranh thủ thời gian mà làm việc cho đời, làm việc có
ích cho dân cho nước.
“Thận vu ngôn” trong xã hội mọi người điều phải tiếp xúc lẫn nhau, đi lại với
không ngại khó gian truân vất vả và hình tượng người quân tử Việt Nam được ví như sức
chịu đựng dẻo dai của cây tùng, bách, trúc…Chịu bất cứ rét mướt khó khăn gian khổ, dù
có chịu bất cứ khắc nghiệt nhưng vẫn hiên ngang cùng sông núi. Và trong bài thơ Tùng
của Nguyễn Trãi đã được một số nhà phê bình viết về hình tượng người quân tử qua biểu
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 11 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
tượng cây tùng, trong bài viết của Lê Trí Viễn, quyển “đến với thơ Nguyễn Trãi” Nhà
xuất bản Thanh Niên mượn hình ảnh cây tùng làm biểu tượng. Mượn sự vật ẩn dụ thông
thường trong thơ xưa. Mượn tùng, trúc, mai để biểu hiện khí tiết của người trượng phu lại
càng là nét cố hữu đã thành công thức.
Khi mở đầu bài thơ Nguyễn Trãi đã nói lên được sức chịu đựng dẻo dai của một
loại cây, mặc dù có gió rét sương băng, những loài cây khác trơ cành trụi lá, mà tùng vẫn
cứ tiếp tục xanh tươi bất chấp giá rét của tháng ba mùa đông. Đồng thời qua đây tác giả
đã thể hiện tính cách của người quân tử luôn hiên ngang hứng chịu hết những khó khăn,
gian khổ mà cuộc đời mang lại, nhưng trong lòng vẫn bừng cháy ngọn lửa quyết tâm.
Cuộc sống là phải chấp nhận hi sinh, có đối mặt với khó khăn mới thấy cuộc sống đáng
quí. Đối với một người quân tử không có khó khăn nào làm họ ngã lòng, càng khó khăn
luôn giữ vững quyết tâm hơn nữa “lửa thử vàng gian nan thử sức”, đó là một câu nói
mang tư tưởng triết lí, khi đã là vàng thật thì không sợ lửa, có sống trong khó khăn gian
khổ mới thấy được sức mạnh tinh thần của con người. Và trong bài thơ Tùng cũng thế
hình ảnh những cành cây xung quanh trơ cành, nhưng tùng vẫn hiên ngang ưỡn tấm ngực
mạnh mẽ của mình ra chịu giá rét mùa đông, không hề ngã gục cốt cách thanh cao của cây
tùng đồng thời cũng là khí tiết của người quân tử luôn hiên ngang cùng năm tháng.
“Thu đến cây nào chẳng lạ lùng
Một mình lạc thở ba đông”.
(Tùng – Nguyễn Trãi)
Nếu như khi mở đầu bài thơ Nguyễn Trãi giới thiệu hình ảnh mạnh mẽ của cây
tùng, thì đến khi kết thúc bài thơ tác giả lại một lần nữa khẳng định sức mạnh chóng chọi
với thiên nhiên của một sinh vật bình thường nhưng phi thường.
“Tuyết sương đã thấy đặng nhiều ngày,
diện cho những người quân tử mẫu mực, xứng đáng là bậc mẫu nghi thiên hạ.
1.2. Chức năng và ý nghĩa trong thực tiễn
1.2.1. Chức năng của nghĩa
Chức năng giáo huấn: Nho giáo đặt vấn đề tinh thần cao hơn, quan trọng hơn
trong đời sống vật chất nhưng trước hết phải có cơm ăn cái đã “dân dĩ thự vi thiên”. Nhân
dân phải được no ấm đó là vì lòng nhân ái đối với con người nhưng cũng vì lợi ích của
các tầng lớp trên nữa, vì dân đói thì dân không thể nuôi được những người cai trị họ mà
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 13 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
có thể nổi dậy mà chống lại những người này. Cho nên khuyên nhân dân nên “an bần lạc
đạo” (nghèo mà không oán), cứ lẳng lặng chịu đựng làm ăn. Hơn thế nữa nghĩa còn có
tính chất khuyên răn những bậc bề trên của mình mọi người phải tôn trọng nhà vua vì vua
là người đặt ra pháp luật, có quyền cho dân sống, bắt dân chết cũng có thể làm cho người
ta giàu, làm cho người ta nghèo, có thể làm cho người ta sang, làm cho người ta hèn. Nếu
không tôn quân thì nước không được yên, thân cũng không được yên.Còn đối với vua lại
phải yêu dân có yêu dân thì dân mới phục tùng và vua mới mạnh “muốn tranh thủ thiên
hạ thì trước hết phải tranh thủ tâm”.[15; tr.235]
Như vậy, yêu dân không phải vì dân, mà chính là vì vua, yêu vua không xuất phát
từ quan điểm đạo đức mà chỉ là một thủ đoạn bảo vệ ngôi vua và giữ gìn pháp luật mà
thôi. Còn trong quan niệm giáo huấn tính cách của người quân tử Khổng Tử nói rằng
nghĩa là theo điều thiện thì phải ghi nhớ để nuôi cái đức của mình, rồi mới hay được, chứ
chỉ nghe cho biết rồi nói ra miệng mà không chịu cố gắng thực hành điều thiện, thì càng
học lắm càng dỡ nhiều. Người đã học đến biết thực tiễn những điều thiện là bao giờ cũng
phải thành thực, không giả dối ô mị như bọn ngụy nho. Người quân tử phải có cái đạo lí
định khiến của mình, không mị ô theo thói đời.
Chức năng động viên khích lệ: đối với một bậc quân tử khi đã được mọi người coi
trọng và kính nể thì người xem đó là một tấm gương mẫu mực cần noi theo, mong muốn
mình cũng giúp ích được một phần nào đó cho xã hội, qua đó ta thấy được sức ảnh hưởng
của một nhân cách tốt góp phần làm cho xã hội ngày càng phát triển hơn và trong cuộc
sống một phần nào cũng động viên tinh thần người quân tử thực hiện điều nghĩa thúc đẩy
tự kiềm chế, tước bỏ mọi ham muốn cá nhân, chịu thuần dưỡng để vâng lời để nhường
nhịn, để kiên nhẫn chịu đựng và hi sinh. Cô con gái trước khi về nhà chồng đã được mẹ
dặn: con về nhà con, thì nên kính nhừơng, giữ mình cho khéo, đừng trái ý chồng. Từ
những việc dạy bảo của Nho giáo người phụ nữ trong xã hội ngày xưa luôn lúc nào cũng
thực hiện theo qui tắc Tam tòng tứ đức, nhưng trong xã hội ngày nay ý nghĩa ấy có phần
thoáng hơn người phụ nữ không còn chịu những qui định khắc khe của xã hội qui định,
nhưng một phần nào đó hình thành ở tính cách người phụ nữ sống nặng về cái nghĩa với
chồng con hơn, cho dù chịu những bất công nhưng người phụ nữ luôn nghĩ đến cái nghĩa
vợ chồng bao năm chung sống, cho nên vẫn thường hay nói trong mối quan hệ vợ chồng
tuy hết tình nhưng cái nghĩa nặng hơn, không thể nào nói một sớm một chiều mà có thể
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 15 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
có được cái nghĩa ấy. Bên cạnh đó nghĩa trong Nho giáo còn đặt mối quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình, một dòng họ phải thương yêu đùm bộc lẫn nhau, khuyến khích
nhau giữ gìn danh dự và phát huy truyền thống của gia đình, của dòng họ.
Ngoài xã hội: nghĩa là thể hiện thực hiện kỳ được tinh thần trách nhiệm những
việc cần phải làm để phục vụ cho nhân dân và tổ quốc làm thế nào để động viên nhân dân,
tổ quốc biến thành hiệu quả. Thực tế ngoài xã hội thiết lập mối quan hệ ứng xử trong giao
tiếp, tinh thần thái độ trước việc chính nghĩa luôn hết lòng quan tâm giúp đỡ người khác
bằng cả tinh thần và trách nhiệm của bản thân mình.
1.3. Tác phẩm Lục Vân Tiên
1.3.1. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu và sự nghiệp sáng tác
Cuộc đời
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 1 – 7 – 1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình
Dương Phủ Tân Bình, Gia Định. Tự là Mạnh Trạch hiệu là Trọng Phủ và sau bị mù hiệu
là Hối Trai, Nguyễn Đình Chiểu mất ngày 3 – 7 – 1888 tại Ba Tri, Bến Tre. Nguyễn Đình
Chiểu là con cụ Nguyễn Đình Huy và bà Trương Thị Thiệt; cụ quê gốc làng Phong Điền
tỉnh Thừa Thiên khi tả Lê Văn Duyệt vào trấn Gia Định, cụ theo vào làm việc và cưới
thêm người vợ là bà Trương Thị Thiệt. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sớm trải qua những
ngày gia biến và quốc biến hải hùng tác động đến nhận thức ông.
Tây, Hịch Đánh Chuột. Với những tác phẩm nổi tiếng của mình, Nguyễn Đình Chiểu trở
thành người có uy tín lớn. Bọn thực dân nhiều lần tìm cách mua chuột ông nhưng ông vẫn
một mực từ chối ân tứ. Cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà thơ mù Nam Bộ là một bài
học lớn về lòng yêu nước, về việc sử dụng ngòi bút như một vũ khí đấu tranh sắc bén.
Tấm gương Nguyễn Đình Chiểu theo thời gian vẫn không mờ đi chút nào.
1.3.2. Xuất xứ tác phẩm
Truyện Lục Vân Tiên là tác phẩm lớn trong nền văn học dân tộc, cũng là một tác
phẩm mà văn bản có một lịch sử sáng tác và phổ biến khá độc đáo và phức tạp. Theo ý
kiến chung của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay, tập truyện có thể được sáng tác vào những
năm 1850 trở đi, lúc Nguyễn Đình Chiểu đã bị bệnh mù và đã về Bình Vi (Gia Định) mở
trường dạy học năm 1851. Như vậy hiển nhiên là tập truyện chỉ được hình thành trong trí
nhớ và tác giả đã đọc cho học trò thân cận của mình giúp việc chép lại.
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 17 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
1.3.3. Tóm tắt tác phẩm
Lục Vân Tiên là một thiếu niên tuổi vừa mười sáu, quê ở quận Đông Thành. Chàng
theo thầy học tập giỏi nghề văn nghiệp mà võ cũng hay. Nghe tin vua mở khoa thi cầu
hiền tài ra giúp nước, chàng tạ từ thầy và cha mẹ lên kinh dự thi. Trên đường chàng gặp
cướp quấy rối dân lành, chàng đánh tan bọn cướp và cứu được nàng Kiều Nguyệt Nga.
Tình đầu tiên của tuổi trong trắng chớm nở. Hai người họa thơ cho nhau rồi mỗi người đi
một đường. Nguyệt Nga ân và tình vương vấn, họa bức tượng người yêu, để hôm sớm ra
vào thấy trang hiệp sĩ. Trên đường đi thi Vân Tiên gặp Hớn Minh và Tử Trực kết bạn tri
âm và cũng gặp Bùi Kiệm, Trịnh Hâm. Khi vào đến trường thi Vân Tiên được tin mẹ qua
đời, vì đau buồn và đường về nhà xa Vân Tiên thương nhớ, khóc mẹ đến mù hai mắt.
Tiểu Đồng hết lòng chạy chữa nhưng vẫn không khỏi. Trịnh Hâm gạt Tiểu Đồng cột vào
rừng và đẩy Vân Tiên xuống sông cho cá ăn. Nhưng Vân Tiên được ông Ngư cứu sống,
khi tỉnh dậy bảo ông Ngư đưa về nhà Võ Công, vì gia đình trước kia có hôn ước giữa Vân
Tiên và Thể Loan, nhưng đến nhà bị gia đình Võ Công hắc hủi, âm mưu đem Vân Tiên bỏ
vào hang đá để chết đói. Vân Tiên lại được du thần cứu ra khỏi hang, gặp được Hớn Minh
đem về chùa, đêm nằm mơ thấy ông tiên cho uống linh đan sáng mắt.
2.1.1. Trong quan hệ bằng hữu
2.1.1.1.Vân Tiên chàng thanh niên nghĩa hiệp
Với Nguyễn Đình Chiểu nghĩa là căn cốt gốc rễ để trao giồi rèn dũa con người. Vì
vậy vào đầu tác phẩm ở đoạn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” nhà thơ hào hứng
giới thiệu hai con người trẻ tuổi, biết hướng theo lòng nhân, biết hành động theo việc
nghĩa. Đó là Lục Vân Tiên chàng trai dũng cảm, có lòng nhân sẵn sàng làm việc nghĩa.
Vân Tiên vốn con nhà thường dân, nhưng học giỏi giữa đường gặp cướp. Không phải
chúng gây sự với chàng, mà chúng quấy nhiễu nhân dân. Trước mắt chàng bày ra một
nghịch cảnh: dân thì than khóc tưng bừng, đều đem nhau chạy vào rừng lên non”, bọn
cướp thì: “ xuống thôn hương thấy con gái tốt qua đường bắt đi”. Thế là sau một lời hứa
ngắn gọn “tôi xin ra sức anh hào…”, Lục Vân Tiên nhanh nhẹn “ghé lại bên đàng, bẻ cây
làm gậy”, xông thẳng vào giữa bọn cướp. Bọn cướp đông đặc. Tên tướng cướp “mặt đỏ
bừng bừng”. Lực lượng quá chênh lệch. Bên kia là lũ lâu la như ong, như kiến, bên này
chỉ độc nhất một chàng trai dũng cảm với lời hứa chân thành “cứu người ra khỏi lao đao
buổi này”, với vũ khí giản dị “cây gậy bên đàng”. Vậy mà không một chút nao núng:
Vân Tiên tả đột hữu xông,
雲 仙 左 突 右 衝
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương dang.
恪 芾 兆 仔 破 妄 當 延
Nguyễn Đình Chiểu không tả tỉ mĩ trận giao chiến mà chỉ kể ngắn gọn bằng mấy
dòng thơ, một câu so sánh với nhiều từ đặc sắc “Tả đột hữu xông, khác nào Triệu Tử”.
Đúng là một dũng tướng, sánh với Triệu Tử Long thời Tam quốc trong trận phá vây quân
Tào Tháo ở Đương Dương trường bản. Ngày xưa Triệu Tử Long chiến đấu vì ngôi vua
nhà Hán, Vì bảo vệ một A Đẩu, dù sao cũng là nghĩa vụ của một bầy tôi trung thành. Còn
ngày nay Lục Vân Tiên chiến đấu vì người dân gặp nạn, cứu dân, trừ ác xuất phát từ lòng
nhân. Giản dị, vô tư mà trong sáng, cao đẹp biết bao. Cuộc chiến đấu của chàng làm ta
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 20 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
liên tưởng đến cuộc chiến đấu của chàng Thạch Sanh, diệt đại bàng cứu nàng công chúa.
Sức mạnh của Lục Vân Tiên là sức mạnh của nhân dân, điều thiện. Do đó nó vô địch
Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
爫 恩 甧 易 鐭 圤 呂恩
Nay đà rõ đặng nguồn cơn,
哰 它 賋 鄧 源 杆
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.
儍 埃 併 寔 芻 欣 爫 咦
Đúng là giọng nói của người con trai Nam Bộ nôm na giản dị, nó cất lên từ cõi
lòng chất phác. Chất phác là cái bên ngoài, cái võ xù xì, thô nháp. Nhưng phía trong phần
ruột thì cao đẹp, thắm đỏ, ngọt ngào, thơm thảo một quan niệm nhân sinh, rất hào hiệp vô
tư của cả một lớp người, một thế hệ con người. Chúng ta có thể hiểu Lục Vân Tiên trước
hết chàng khẳng định việc mình làm là hoàn toàn tự nguyện. Gọi là ơn cũng được. Hay
nên xem đó là việc “ơn nghĩa”. Làm việc ơn nghĩa thì không nên đợi trả ơn, tính thiệt, lời
lãi… Vì ơn nghĩa là lẽ thông thường của người sống có văn hóa, đang theo đòi kinh sử,
người hướng về nghĩa khí, lấy nghĩa lớn, lấy chữ nhân, lòng nhân làm động cơ, làm mục
đích cho hành động. Chàng đã hành động vì lòng nhân, vì nghĩa lớn trừ kẻ ác, bảo vệ
người lương thiện. Chàng chỉ mong Nguyệt Nga cũng như mọi người “rõ đặng nguồn
cơn” nghiã là hiểu rõ cảm thông cho hành động của chàng.
Sau nữa chàng nhắc nhở tới sử sách, nhắc lời các bậc hiền nhân xưa. Người xưa
nói “kiến ngãi bất vi vô dũng dã”. Nghĩa là thấy việc nghĩa không làm, không phải là
người dũng cảm. Cách nói của Vân Tiên giản dị hơn: “nhớ câu kiến ngãi bất vi, làm
người như thế cũng phi anh hùng”, phi anh hùng là những kẻ tiểu nhân, hèn nhát lời nói
của Vân Tiên chắc nịch, vừa để đối chứng, phê phán những kẻ tầm thường, vừa khẳng
định việc làm đúng đắn, là tất yếu, hiển nhiên, thuộc căn cốt, gốc rễ, lẽ sống của mình. Đó
cũng là lẽ sống của biết bao hiền nhân, quân tử ngày xưa, bao con người chân chính ngày
nay. Lời chàng nhân cách của chàng, gợi nhớ Từ Hải trong Truyện Kiều: “anh hùng tiếng
đã gọi rằng, giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 22 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
Thế đấy, Lục Vân Tiên là một chàng trai dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, tiêu biểu
cho chàng trai Nam Bộ hảo hán một thời. Vân Tiên là một người giàu lòng nhân ái, biết
Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chứng tỏ một cách rõ ràng rằng, mọi suy nghĩ, tình
cảm, cho đến ước mơ và khát vọng của ông đều phù hợp với tinh thần quần chúng lao
động, không những thế ngôn ngữ của ông trong văn học cũng gần gũi với tiếng nói của
quần chúng. Ông đã tiếp nhận dòng văn học tươi mát từ trong nguồn văn học phong phú
vô tận của văn học dân gian. Lời ăn tiếng nói của quần chúng biểu hiện trong ca dao, tục
ngữ và các truyện cổ dân gian đã đi vào tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu một cách rất tự
nhiên.
Chính vì vậy khi xây dựng nhân vật Hớn Minh, ta thấy bóng dáng rõ nét của chàng
trai nông thôn Nam Bộ, một tính cách rất đáng quí xem ân nhân của bạn như ân nhân của
mình. Trong tình bạn của Hớn Minh và Vân Tiên. Hớn Minh luôn là người bạn tốt hết
lòng vì bạn, một tình bạn đáng quí hết lòng giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn.
Sau khi gặp Tiều phu người đã cứu được Vân Tiên, khi hỏi rõ sự tình liền quì gối để đền
đáp công ơn cứu bạn, một hành động mà hiếm thấy có ở một con người vì bạn, không kể
sang hèn. Xuất phát từ việc biết quí trọng điều ngay lẽ phải ở đời, nên trong Hớn Minh
không có sự tính toán, khi thấy bạn được bình an là niềm hạnh phúc vô cùng lớn mà
chàng có được
Hớn Minh quỳ gối lạy liền:
明 跪
Ơn ông cứu đặng Vân Tiên bạn lành.
恩 翁 救 鄧 雲 仙 伴
Nầy hai lượng bạc trong mình,
諒 泊 沖 命
Tôi xin báo đáp chút tình cho ông.
碎 嗔 報 答 拙 情 朱 翁
Nét tính cách ấy ta thấy một phần nào đức tính hết lòng vì bạn, vì những đạo lí của
các bậc quân tử lúc nào cũng xem đây là phương châm sống của mình. Hành động quì gối
trước ông Tiều tuy bình thường, nhưng bên trong nó mang vẻ đẹp rất đáng được chúng ta
học hỏi và ca ngợi, cái đẹp của con người biết quí trọng điều lương thiện; hành động lúc
Luận văn tốt nghiệp
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 24 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
CBHD: BÙI THỊ THÚY MINH Trang 25 SVTH: HUỲNH THỊ ÚT
駝 臨 病 黄 泉 賒
Ở đây tác giả khéo léo đề cập đến vấn đề. Tử Trực có lời hỏi Võ Công mới có lời
đáp tác giả không khéo dài văn đàm thoại, đặt lời vấn đáp vài dòng vô ích, chỉ thúc đẩy
tình tiết câu chuyện mau lẹ và hợp lí. Võ Công bảo với Tử Trực: cháu hỏi đến Vân Tiên
chi cho thêm đau lòng. Nó đã lâm bệnh và thác rồi, đến đây ta chú ý chất giọng nói giả vờ
xót thương, giả nhân, giả nghĩa, thêm vào sự khéo léo đem chuyện tình duyên của con gái
một cách gián tiếp.
Nghe qua Tử Trực chạnh lòng,
戈 仔 直l
Hai hàng nước mắt ròng ròng như mưa.
行 渃 眜 溶 溶 如 湄
Than rằng: chạnh nhớ linh xưa,
炭 哴: 汝 灵
Nghĩa đà kết nghĩa, tình chưa phỉ tình.
義 駝 結 義,情 匪 情
Nghe tin bạn mất, Tử Trực chảy nước mắt và than thở: nhớ vong linh và thuở sinh
bình của Vân Tiên, đôi bên đã tỏ tình bằng hữu khi kết bạn với nhau, nhưng chưa có dịp
phỉ tình bằng hữu qua hành trạng hay sự trạng. Trách hóa công sao lại phụ kẻ tài đức,
chàng sớm khuất khi bảng hổ chưa kịp đề danh, khi công chưa thành, danh chưa toại.
Người lành đáng lẽ hưởng phước, lộc, thọ. Vắng Vân Tiên đời Tử Trực như vắng tri kỷ
(đồng đạo), tri âm (đồng tâm).
Trong lúc Tử Trực xót xa vì bạn chết và đề cao tình cảm đối với cố nhân, thì Võ
Công vẫn theo dõi chủ đích riêng. Võ Công đề cập đến tình duyên của con gái một cách
khéo léo, nhưng đi thẳng đến chủ đích là việc gã con gái cho vị tân khoa một cách sỗ
sàng, trơ trẻn và đột ngột.
Phòng khi hôm sớm vào ra,
防 欺
Thấy ngươi Tử Trực cũng là thấy Tiên.
仔 直 纙 仙