Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
1
Cần Thơ, 5/2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
DƯƠNG THÙY LINH
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN THƠ LỤC VÂN TIÊN
CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: Ths. GVC. PHAN THỊ MỸ HẰNG
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
2
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái quát truyện thơ
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ
1.1.3. Phân loại truyện thơ
1.2. Khái quát truyện thơ Lục Vân Tiên
1.2.1. Hoàn cảnh sáng tác
3.3.3. Truyện cổ tích
3.4. Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố
3.4.1. Điển cố mượn những câu chuyện về những nhân vật lịch sử và các triều
đại
3.4.2. Điển cố mượn những dẫn chứng tích cũ, lời xưa trong thơ cổ Trung Quốc
3.4.3. Điển cố mượn những địa danh trong văn chương Trung Quốc
3.4.4. Điển cố mượn từ Hán Việt kết hợp với từ Thuần Việt
PHẦN 3: KẾT LUẬN
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
4
LỜI CẢM ƠN
Bốn năm ngồi trên giảng đường đại học đã cho chúng tôi nhiều kiến thức mới
mẻ mà lúc còn phổ thông chưa có dịp tiếp cận. Và cho đến khi nhận đề tài nghiên cứu
về Đặc điểm truyện thơ Lục Vân Tiên chính là bước thử thách sau cùng để chúng tôi
hoàn thành khóa học. Từ lâu rồi ba chữ Lục Vân Tiên cùng với cái tên Nguyễn Đình
Chiểu đã trở nên quen thuộc với chúng tôi, thế nên khi tiếp xúc đề tài đã tạo nên một
tâm trạng khó tả. Chúng tôi mừng vì được trực tiếp nghiên cứu một tác phẩm có ảnh
hưởng sâu rộng trong quần chúng cũng như nền văn học Việt Nam. Tuy nhiên, nỗi lo
vẫn có vì kiến thức của chúng tôi phần nào đó còn bị hạn chế. Thế nhưng, nhờ vào sự
hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn Phan Thị Mỹ Hằng chính là niềm tin, và
điều kiện để chúng tôi hoàn thành đề tài. Một lần nữa xin chân thành cảm ơn cô vì sự
giúp đỡ trong suốt thời gian qua. Cũng không quên cảm ơn tất cả các thầy cô của hai
bộ môn Ngữ Văn thuộc Khoa Khoa học Xã Hội và Nhân Văn cùng Khoa Sư Phạm đã
cho chúng tôi những kiến thức vô cùng quý báu từ khi bước vào trường Đại Học Cần
Thơ. Gởi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và người thân luôn ở bên, ủng hộ, động viên
và giúp chúng tôi trong quá trình thực hiện.
Rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô, bạn bè để khắc phục những thiếu
sót của đề tài.
Chân thành cảm ơn!
Yêu mến Nguyễn Đình Chiểu bao nhiêu thì ta không thể nào quên được chàng
Lục Vân Tiên và nàng Kiều Nguyệt Nga của ông - hai con người trong truyện thơ Lục
Vân Tiên - chính là tấm gương cho những thanh niên miền Nam bấy giờ noi theo.
Ngoài ra những con người lao động yêu nó cũng bởi vì chính Lục Vân Tiên nói lên
những gì mà họ mong ước. Cho nên sức sống của tác phẩm đối với người dân Nam Bộ
nói riêng, và những người con của Việt Nam nói chung vẫn còn mãi đến ngày nay.
Nếu như Truyện Kiều được xem là tác phẩm làm nên ngôn ngữ thơ ca dân tộc thì Lục
Vân Tiên là bức tranh về con người Việt Nam nhân nghĩa, tiết hạnh, trọng nghĩa khinh
tài… Vì thế là những người con của đất nước ngàn năm văn hiến, đặc biệt là một
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
7
người đã sinh ra và lớn lên ở vùng cực Nam của Tổ quốc, chúng tôi càng thêm yêu quý
những giá trị mà cha ông ta để lại trong đó có nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.
Và cũng chính vì sự yêu mến tác phẩm Lục Vân Tiên đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu
những đặc điểm của nó.
Như chúng ta đã biết truyện thơ Lục Vân Tiên có những giá trị vô giá đã được
cụ Đồ Chiểu viết lên bằng cả tâm huyết. Những vẻ đẹp tiềm tàng ấy không phải chỉ
trong một thời gian ngắn mà ta có thể hiểu hết. Vì thế chọn đề tài “Đặc điểm truyện
thơ Lục Vân Tiên” chúng tôi hi vọng góp một phần nhỏ vào công việc nghiên cứu và
bảo tồn tác phẩm quý báu này.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ lớn của Việt Nam, tác phẩm của cụ có ảnh hưởng
không nhỏ đến đời sống và lịch sử văn học dân tộc. Vì thế, như những ngôi sao trên
trời ta không thể chỉ nhìn mà phải biết đi sâu tận bên trong mới hiểu được hết nội tại
của nó. Văn thơ của cụ cũng là một ngôi sao, rất cần có những con người tâm huyết đi
tìm những giá trị ẩn bên trong mà không dễ gì chúng ta có thể nhìn thấy. Trong đó nổi
bật là truyện thơ Lục Vân Tiên. Từ khi Lục Vân Tiên ra đời cho đến nay các tác giả
như: Hà Như Chi, Xuân Diệu, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Lộc, Phong Nam, Trần
Nghĩa, Hoài Thanh, Lê Trí Viễn, Nguyễn Quang Vinh… đã cùng tham gia tìm hiểu về
tác phẩm. Ngoài ra truyện đã thu hút sự chú ý của giới phê bình, nghiên cứu nước
luận và phê bình về tác phẩm. Bài viết Lục Vân Tiên [27;215] của Phong Nam có viết:
“Truyện Lục Vân Tiên sở dĩ được quần chúng mến mộ vì bản thân nó có sức hấp dẫn
lớn. Sức hấp dẫn đó nằm cả trong sự phong phú của nội dung lẫn nghệ thuật thể hiện
đặc sắc” [27;215]. Ý kiến ấy đã phần nào xóa bỏ những nhận định cho rằng Lục Vân
Tiên chỉ đặc sắc về nội dung nhưng về nghệ thuật còn hạn chế.
Nhìn chung, có rất nhiều công trình nghiên cứu về Lục Vân Tiên ở hai mặt nội
dung và hình thức. Nhưng mỗi phương diện chỉ đi sâu đề cập đến một số lĩnh vực của
tác phẩm. Các cứ liệu trên là nguồn tài liệu phong phú cho những ai muốn đi sâu khám
phá truyện thơ Lục Vân Tiên một cách toàn diện. Mặc dù kiến thức còn hạn hẹp, sự
hiểu biết chưa thật vững vàng như các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp nhưng chúng tôi
hy vọng với đề tài này sẽ góp phần vào kho tài liệu tìm hiểu và nghiên cứu về tác
phẩm Lục Vân Tiên của nhà thơ, nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.
3. Mục đích nghiên cứu
Như đã trình bày ở trên, Nguyễn Đình Chiểu cùng với truyện thơ Lục Vân Tiên
đã có ảnh hưởng sâu rộng trong nền văn học cũng như quần chúng nhân dân. Người
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
9
dân lao động chẳng những yêu thích tác phẩm mà còn xem nó là kim chỉ nam trong
nếp sống của mình. Do đó, với đề tài “Đặc điểm truyện thơ Lục Vân Tiên” chúng tôi
thử tìm hiểu và làm sáng tỏ những giá trị thuộc về nội dung và hình thức của tác phẩm.
Qua đó phần nào xác định sức sống lâu bền của truyện thơ trong lòng quần chúng lao
động, đồng thời khẳng định sức ảnh hưởng của nó trong nền văn học Việt Nam.
Bên cạnh đó, bài viết cũng góp một phần tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề
liên quan đến Lục Vân Tiên. Đồng thời bổ sung thêm những kiến thức để nâng cao khi
tìm hiểu chuyên sâu về tác giả trong chương trình giảng dạy và nghiên cứu văn học
sau này của chúng tôi.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài “Đặc điểm truyện thơ Lục Vân Tiên”, đối tượng khảo sát
chủ yếu thuộc về hai phương diện nội dung và hình thức thể hiện trong tác phẩm.
Dẫn chứng tác phẩm được vận dụng chủ yếu trong quyển Nguyễn Đình Chiểu
1.1. Khái quát truyện thơ
Truyện thơ là một khái niệm được nhắc nhiều trong các lĩnh vực nghiên cứu thể
loại văn học trung đại cũng như văn học dân gian. Nó xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu,
trong môi trường sinh hoạt văn hóa của các dân tộc ít người, dần dần lan truyền xuống
dân tộc Kinh. Từ khi ra đời cho đến nay, truyện thơ có một ảnh hưởng nhất định đối
với nền văn học của nước nhà, đặc biệt quần chúng nhân dân lao động cũng dễ dàng
thuộc vài ba câu trong một tác phẩm. Và cũng vì nhiều nguyên nhân nên truyện thơ
được nhìn nhận ở nhiều góc độ, song các ý kiến đó không đối nghịch mà bổ sung cho
nhau. Tùy theo các lĩnh vực mà khái niệm truyện thơ được khai thác theo các hướng
không giống nhau. Điều đáng lưu ý là thuật ngữ truyện thơ không được dùng phổ biến
mà thay vào đó là thuật ngữ truyện Nôm. Nguyên nhân của tên gọi truyện Nôm “thiết
nghĩ là cách rút gọn của khái niệm truyện thơ Nôm, và cũng do điều kiện lịch sử văn
xuôi Nôm không phát triển, nghĩa là văn Nôm chỉ tồn tại dưới dạng văn vần và biền
ngẫu, cho nên gọi như vậy mà không sợ nhầm lẫn là truyện văn xuôi Nôm”[36;395].
Đồng thời do ở Việt Nam truyện thơ viết bằng chữ Hán không phổ biến nên tên gọi
truyện Nôm được dùng để chỉ thể loại này. Nhìn chung về khái quát truyện thơ là một
công việc tốn rất nhiều công sức của giới phê bình.
1.1.1. Khái niệm
Trần Đình Sử cho rằng “Truyện thơ Nôm là một sáng tạo độc đáo của văn
học dân tộc”[36;394]. Vì thế không nên đánh đồng truyện Nôm với thể loại truyện cổ
tích vì đơn giản nó là “xu hướng tiểu thuyết hóa truyện dân gian”[36;396]. Truyện thơ
Nôm có nhiều điểm rất khác với truyện cổ tích dân gian, về cách xây dựng nhân vật,
yếu tố tự sự trong truyện Nôm được tăng cường, yếu tố trữ tình phong phú, sự kịch
tính, lời thoại của các nhân vật đặc biệt ở thể loại này còn xuất hiện những lời bình
triết lý hoặc lời bình về trữ tình.
Phương Lựu nhận xét: truyện thơ “Là thể loại tự sự bằng thơ. Người
phương Tây gọi là “poème” - thường dịch là trường ca. Người Trung Quốc gọi là “tự
sự thi” hoặc “trường thiên tự sự thi”[26;383]. Từ đó ông cho rằng truyện thơ cũng là
một loại tiểu thuyết do nó nghiêng về thể loại và bút pháp tiểu thuyết, tiêu biểu đó
chính là Truyện Kiều, Lục Vân Tiên. Do vậy truyện thơ không lấy vua, quan, tướng
Tóm lại truyện thơ là một thể loại văn học phổ biến trong nền văn học trung
đại Việt Nam, được các tác giả sáng tác nhằm phục vụ nhu cầu xã hội, lấy đối tượng
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
14
miêu tả là những con người bình thường, hình thức sáng tác là chữ Nôm - một loại chữ
viết của dân tộc và thể thơ được dùng chủ yếu là lục bát cùng Đường luật.
Với sự ra đời của truyện Nôm đã xóa tan đi ý kiến “nôm na là cha mách
qué”, một nhận định sai lệch về chữ viết dân tộc. Thể loại này đã khẳng định được vẻ
đẹp chữ Nôm mà đặc biệt là kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Tác
phẩm này mang trong mình một vẻ đẹp của một loại hình văn học dân tộc với chữ viết
của nó.
“Với truyện Nôm, đặc biệt là truyện Nôm có tên tác giả, nhất là Truyện
Kiều của Nguyễn Du con người trong văn học Việt Nam đã được ý thức một cách sâu
sắc, mới mẻ”. [36;433]
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển truyện thơ
Truyện thơ là một thể loại khá quan trọng trong sự phát triển của văn học
các nước trên thế giới. Khu vực Châu Á và đặc biệt là Việt Nam không nằm ngoài
khuôn khổ đó. Bởi vậy, quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ ở nước ta là
một đề tài thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu văn học.
Trong công trình Mấy vấn đề Thi pháp văn học trung đại Việt Nam [36],
Trần Đình Sử đã trình bày khá đầy đủ lịch sử của truyện thơ.
Cũng theo Trần Đình Sử truyện thơ là một thể loại rất phát triển trong nền
văn học trung đại Việt Nam. Từ trước đến nay khi tìm hiểu về truyện thơ ở nước ta,
giới nghiên cứu đều cho rằng chất liệu ngôn ngữ tạo nên các tác phẩm đa phần là chữ
Nôm. Tuy nhiên, truyện thơ viết bằng chữ Hán cũng xuất hiện một ít, minh chứng là
tác phẩm Hương miệt hành của tác giả khuyết danh được cho là ra đời từ thời Trần,
nhưng cũng có ý kiến cho rằng nó ra đời từ thời Lê. Cũng chính vì sự ít ỏi của các
truyện thơ viết bằng chữ Hán ở nước ta mà thuật ngữ truyện Nôm cũng dùng để chỉ thể
loại truyện thơ. Cho đến nay các nhà nghiên cứu đã tìm thấy: “hiện có ở Việt Nam
khoảng trên 100 truyện Nôm. Truyện thơ Nôm Việt Nam phát triển rầm rộ trong suốt
Các công trình nghiên cứu về truyện Nôm khác như Từ điển Văn học [18],
Từ điển thuật ngữ văn học [17], Lịch sử văn học Việt Nam tập 3 [32], Từ điển Văn học
Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX [1] đều có chung ý kiến với các nhận định
trên khi cho rằng thể loại văn học này ra đời từ lâu và phát triển rầm rộ vào hai thế kỷ
XVII, XVIII. Theo đó, qua nhiều biến cố của thời gian các tác phẩm truyện Nôm còn
lại đến nay không nhiều.
Tóm lại, cho dù truyện Nôm được hình thành như thế nào và sự tồn tại của
các tác phẩm không nhiều nhưng có thể nói thể loại này đã thổi một ngọn lửa mới vào
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
16
trong kho tàng văn học dân tộc. Cũng vì thế mà bạn bè quốc tế đã tiếp xúc với nền văn
học Việt Nam qua hai tác phẩm kiệt tác của truyện thơ Nôm là Truyện Kiều và Lục
Vân Tiên của hai tác giả Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu.
1.1.3. Phân loại truyện thơ
Như đã biết truyện thơ là một thể loại tiểu thuyết viết bằng thơ dưới thể văn
vần. Để phân loại nó giới nghiên cứu đã dựa chủ yếu vào các tiêu chí sau:
Tiêu chí thứ nhất thì Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường dựa vào thể
thơ dùng để sáng tác, lúc đó hai ông phân truyện thơ thành hai loại: truyện thơ Đường
luật và truyện thơ lục bát. Tác phẩm ở thể loại thứ nhất “là một liên hoàn gồm một loạt
bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt. Ví dụ: Tô Công phụng sứ gồm 24 bài, Vương
Tường 49 bài (39 bài bát cú, 10 bài tứ tuyệt), Lâm Tuyền kỳ ngộ - 146 bài bát cú, 1 bài
tứ tuyệt, 1 bài ca khúc…” [1;664]. Do việc cố tìm xem có phải truyện thơ Đường luật
là một dạng xuất hiện sớm của truyện Nôm và cũng có nhiều người lại muốn tìm kiếm
niên đại của nó nên vô hình chung họ đã “coi truyện thơ Đường luật chỉ là dạng ít
thuận lợi nên ít được dùng cho truyện thơ Nôm” [1;665]. Ở thể loại truyện thơ lục bát
“hầu như hoàn toàn dùng thơ lục bát, chỉ đôi khi mới xen một vài đoạn ngắn các thể
khác (như nói lối, thơ Đường luật, từ khúc)” [1;665].
Tiêu chí thứ hai để phân loại truyện Nôm là dựa vào tác giả sáng tác thì các
nhà nghiên cứu đều thống nhất phân thành hai loại với các thuật ngữ: truyện Nôm hữu
danh và truyện Nôm khuyết danh, hoặc truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học.
Còn “nếu xét về các mặt nội dung và hình thức thì đại loại có thể phân
truyện Nôm ra làm hai loại rõ ràng do hai hạng người sáng tác khác nhau” [32;179]
lúc đó có hai loại truyện Nôm tồn tại là loại có tính chất ít quần chúng và loại có tính
quần chúng nhiều hơn.
Cho dù theo tiêu chí phân loại nào các tác giả cũng đảm bảo được nội dung
mà từng thể loại truyện Nôm đề cập. Và một lần nữa khẳng định rằng thể loại văn học
cổ đặc sắc này đã có ảnh hưởng không nhỏ trong nền văn học dân tộc.
1.2. Khái quát truyện thơ Lục Vân Tiên
1.2.1. Hoàn cảnh sáng tác
Lục Vân Tiên là một trong những truyện thơ có ảnh hưởng đến sự phát triển
văn học ở Việt Nam, đây cũng là tác phẩm truyện Nôm bác học có nhiều dị bản nhất.
Có thể nói việc tìm hiểu nguồn gốc văn bản cũng như xuất xứ của truyện là cả một vấn
đề đối với giới nghiên cứu. Tuy nhiên đa số các ý kiến đều có một nhận xét chung về
thời gian ra đời cũng như hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm.
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
18
Theo đó truyện được sáng tác sau khoảng thời gian tác giả bị mù tức là sau
năm 1848. Và theo nhiều tài liệu nghiên cứu đều thống nhất cho rằng Lục Vân Tiên
được sáng tác trong khoảng từ năm 1850 trở về sau, khi Nguyễn Đình Chiểu bị mù.
Theo Nguyễn Phong Nam, tác giả cuốn Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học
[29] thì năm 1864 tác phẩm đã được một người Pháp tên là Gabriel Aubaret sưu tập và
cho in lần đầu trên Kỷ yếu châu Á.
Có rất nhiều ý kiến xoay quanh về nguồn gốc ra đời của tác phẩm. Nguyên
nhân là do ở câu thơ mở đầu tác giả đã viết: “Trước đèn xem truyện Tây minh” (Câu
1). Hai chữ Tây minh dường như cho người đọc biết nguồn gốc thật sự của tác phẩm là
xuất phát từ một truyện Tây minh bên Trung Quốc. Việc lấy một cốt truyện có sẵn để
viết lại thành một truyện thơ là việc không lạ gì đối với nền văn học Việt Nam. Đại thi
hào Nguyễn Du lấy Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc
để viết nên Truyện Kiều thì việc Nguyễn Đình Chiểu lấy truyện Tây minh sáng tạo ra
truyện thơ Lục Vân Tiên thì không có gì đáng bàn luận cả. Trong bài viết Thử bàn về
cuộc đời cũng như hy vọng của ông về sự hồi phục nền tảng Nho giáo đang có dấu
hiệu suy tàn.
1.2.2. Tóm tắt cốt truyện
Truyện thơ Lục Vân Tiên bao gồm 2082 câu thơ lục bát, được phân thành 4
đoạn. Sự phân đoạn này dựa vào diễn biến của truyện.
Đoạn 1 (từ câu 1 đến câu 286): Lục Vân Tiên có quê quán ở quận Đông
Thành, là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, sau một thời gian “Theo thầy nấu sử sôi
kinh”(Câu 11) nhân khi kinh thành có mở khoa thi chàng từ biệt thầy để lên đường
ứng thí. Trên đường về nhà chàng gặp bọn cướp Phong Lai đang ức hiếp dân lành, Lục
Vân Tiên bèn ra tay nghĩa hiệp đập tan bọn cướp, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Cảm
kích trước tấm lòng hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài của Vân Tiên, nàng đã làm một bài
thơ để tiễn chân quân tử lên đường. Nhìn thơ biết ý, chàng đã họa lại một bài thơ.
Cuộc gặp gỡ lần đầu giữa người tài tử - kẻ giai nhân đã để lại những ấn tượng khó phai
trong lòng Kiều Nguyệt Nga, không kìm nén được tình cảm của mình nàng tự nhủ với
lòng “trăm năm cho vẹn chữ tòng” với Lục Vân Tiên.
Đoạn 2 (từ câu 287 đến câu 1264): Đánh tan bọn cướp, cứu Kiều Nguyệt
Nga, Lục Vân Tiên tiếp tục lên đường, trên đường đi, chàng gặp và kết bạn với một sĩ
tử khác là Hớn Minh. Hai người cùng kết nghĩa anh em, Hớn Minh tiếp tục lên đường,
Vân Tiên phải ghé lại thăm nhà.
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
20
Sau khi về thăm cha mẹ, Vân Tiên cùng Tiểu đồng khăn gối lên kinh. Nhớ
lời cha dặn, chàng ghé vào nhà Võ Công - người đã cùng cha chàng ước hẹn - để thăm
hỏi. Thấy Vân Tiên khôi ngô tuấn tú Võ Công lấy làm ưng ý. Cũng tại nơi đây chàng
quen và kết làm anh em với Vương Tử Trực. Hai người cùng lên kinh ứng thí, khi lên
gần tới thì hai chàng gặp Trịnh Hâm và Bùi Kiệm, bốn người cùng nhau làm thơ tại
một quán ven đường. Trịnh Hâm và Bùi Kiệm làm thơ bị chê, thấy Vân Tiên tài cao
nên đem lòng đố kỵ. Lúc sắp vào trường thi, Vân Tiên nhận được thư báo tin mẹ mất,
chàng quyết định bỏ thi về nhà chịu tang. Trên đường về, vì thương khóc mẹ, Vân
Tiên bị nhuốm bệnh, lại gặp phải toàn hạng lang băm nên bệnh ngày càng thêm nặng
Kiều ông, biết hết mọi sự của nàng. Vân Tiên đi thi, đỗ trạng nguyên, được nhà vua cử
đi dẹp giặc Ô Qua. Vân Tiên tiến cử Hớn Minh làm phó tướng đi diệt giặc, được chấp
nhận. Hai người ra trận, đánh tan quân giặc. Vân Tiên do đuổi theo tướng giặc một
mình lạc vào rừng sâu. Nhân vào nhà bà lão dệt vải hỏi thăm đường, chàng gặp lại
Nguyệt Nga. Vân Tiên về triều tâu rõ mọi sự với vua, kẻ gian ác bị trị tội, người nhân
nghĩa được đền đáp. Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga sum vầy, hạnh phúc.
1.2.3. Ý nghĩa truyện thơ Lục Vân Tiên
Truyện thơ Lục Vân Tiên là một hiện tượng văn học đáng chú ý. Tác giả là
một con người phải gánh chịu biết bao bất hạnh của cuộc đời, chứng kiến nhiều cảnh
ngang trái mà lòng không thể thốt nên thành lời đã để lại cho đời một kiệt tác vô giá.
Tác phẩm còn đặc biệt ở chỗ sự tồn tại. Truyện không sống trên trang giấy mà nó sống
trong lòng người dân lao động. Hiếm có một tác phẩm nào mà chiếm được sự ưu ái
lớn như vậy. Người dân lao động miền Nam hầu như ai cũng thuộc nằm lòng vài ba
câu thơ trong truyện. Những em bé mới sinh ra đời đã được mẹ chúng hát ru bằng
những vần thơ Lục Vân Tiên. Khó mà giải thích hết sự yêu thích của người dân Nam
Bộ nói riêng và nhân dân cả nước nói chung đối với tác phẩm. Giải thích sự yêu mến
của quần chúng cần lao đối với Lục Vân Tiên, Hà Huy Giáp nhận xét: “chưa nói đến
tính bình dị, trong sáng của ngôn ngữ, tính dân tộc và đại chúng trong các hình tượng
nghệ thuật, cái chủ yếu là tác phẩm Lục Vân Tiên đã đáp ứng được cái tinh thần dũng
cảm, trọng nghĩa khinh tài, ghét gian ác, “kiến ngãi bất vi vô dũng giả” của người
nông dân miền Nam mà cũng là của mọi người dân Việt Nam chúng ta” [11;40].
Quả đúng như vậy, người ta yêu mến Lục Vân Tiên không phải ở ngôn ngữ
mà ở nội dung của nó. Ta không thể phủ nhận tác phẩm được Nguyễn Đình Chiểu viết
ra chủ yếu để giáo dục đạo lý làm người. Ông đem vào trong thơ mình hình ảnh, tấm
gương của người đời xưa mà khuyên người đời nay biết sống nhân nghĩa, thủy chung,
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
22
không gian trá. Người đọc tác phẩm như thấy mình trong gương, họ rất sợ “luật nhân
quả” vì vốn người dân sống theo phương châm “gieo nhân nào gặp quả đó”, bởi thế
họ rất yêu mến chàng Lục Vân Tiên biết sống vì nghĩa, ra tay cứu người không mong
người. Một người không thể sống không có lòng nhân việc nghĩa, nền tảng đạo đức
này xuyên suốt truyền thống văn hóa của người dân Á Đông trong đó có người dân
Việt Nam. Tư tưởng cao đẹp ấy được Nguyễn Đình Chiểu chuyển tải vào trong truyện
thơ Lục Vân Tiên và trở thành sợi chỉ xuyên suốt tác phẩm. Mỗi nhân vật đều hành
động theo phương châm:
Nhớ câu kiến ngãi bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.
(179 - 180)
Nhân vật trong tác phẩm từ những con người được ăn học đàng hoàng như
Lục Vân Tiên, Hớn Minh đến những con người “vô danh tiểu tốt”, không có tên tuổi
và được gọi bằng nghề nghiệp của mình, thế mà tất cả họ đều ra tay hiệp nghĩa khi có
cơ hội. Họ có một tấm lòng thương người vô hạn, sẵn sàng làm mọi chuyện vì tình
thương ấy cho dù có hại đến bản thân mình.
Khi biết bọn cướp đang ra tay làm hại dân chàng tỏ ra rất dứt khoát, không
có vẻ gì là sợ hãi trước những lời khuyên cũng như cảnh báo của người dân và ra tay
dẹp yên lũ cướp giống như một dũng sĩ. Vân Tiên không chỉ hiện thân cho một anh
học trò siêng năng mà chàng là đại biểu cho những con người biết sống vì lòng thương
người. Lòng nhân nghĩa ấy không có một chút gì vụ lợi, làm ơn chỉ vì “kiến ngãi bất
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện: Dương Thùy Linh
24
vi vô dũng giả”, để rồi khi được trả ơn chàng thẳng thừng từ chối không hề do dự:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn”.(Câu 176)
Ơn nghĩa là việc thường tình ở đời, ta làm việc nghĩa người nhớ ơn cũng là
việc bình thường ở đời nhưng nếu nhận sự trả ơn ấy thì cũng không phải là một người
quân tử thật sự, đấy không phải là hành vi của một thanh niên có học. Lục Vân Tiên
được theo học dưới nền đạo đức Khổng Mạnh vì thế mỗi việc làm của chàng đều tựu
trung trong hai chữ nhân nghĩa.
Hớn Minh cũng là một trường hợp giống như vậy. Chàng trai có thân hình
“dị thường” này cũng hành động vì lòng thương người, vừa thấy chuyện bất bình là ra
tay cứu ngay. Trên đường đi thi thấy tên con quan huyện đang giở trò tồi tệ với gái nhà
như một thành viên. Không riêng gì ông Ngư mà ông Tiều cũng vậy, cũng cứu giúp
Lục Vân Tiên qua cơn khốn cùng. Sau khi chàng bị gia đình họ Võ bội ước và bị bỏ
vào hang, đang trong cơn đói khát, tưởng chừng mình sẽ chết nhưng không ngờ có một
ông Tiều xuất hiện. Lão Tiều cũng giống như ông Ngư, cũng sẵn sàng cứu giúp người
qua cơn hoạn nạn. Lão lên núi đốn củi chỉ có đem theo nắm cơm để ăn, thế mà khi
nghe Vân Tiên kể lại sự tình của chàng thì ông Tiều liền: “ Mở cơm trong gói miệng
mời Vân Tiên. (Câu 1116)
Cũng giống như ông Ngư, ông Tiều đã cứu giúp Lục Vân Tiên thì lão bà ra
tay che chở cho Kiều Nguyệt Nga khi nàng trốn khỏi nhà Bùi Kiệm cũng là một tấm
lòng thương người và hành động vì tình thương đó. Theo như lời giải thích về sự tình
cờ của mình là do lời dạy bảo của Phật bà Quan Âm, nhưng thiết nghĩ nếu như bà lão
không có một tấm lòng thương người hoạn nạn thì làm sao bà lại tìm đến Nguyệt Nga
để dắt nàng về chung sống với mình cho được. Hành động ấy của bà có khác nào ông
Ngư, ông Tiều khi cứu giúp Lục Vân Tiên.
Khác với những nhân vật trên, ông Quán cũng là điển hình của lòng thương
người. Ông không cứu Vân Tiên thoát dòng nước như ông Ngư, không cưu mang
người hoạn nạn như ông Tiều, hay che chở cho người không nơi nương thân như bà
lão mà ông chỉ nêu lên quan điểm ghét thương ở đời. Tuy nhiên cũng từ những quan
điểm đó ta thấy ở ông một tấm lòng dành cho nhân loại. Ông thương những ai? Đó là
những bậc quân tử, minh quân, thương những con người biết nghĩa nhân, biết đạo
nghĩa ở đời. Ông ghét ai? Đó là những tên hôn quân bạo chúa, những tên quan tham,
những tên lừa thầy phản bạn. Ta nhớ lại lúc Vân Tiên lên đường ông Quán đã tận tay
đưa cho chàng ba hườn thuốc để dành hộ thân. Ông không biết việc tương lai nhưng gì
mến mộ tài năng của chàng họ Lục, lo cho Tiên bị những kẻ tiểu nhân hãm hại, lại có