chất thơ trong văn tế của nguyễn đình chiểu - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

PHẠM THÀNH THẬT
MSSV: 6116153

CHẤT THƠ TRONG VĂN TẾ CỦA
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành: Văn học

GVHD: CHIM VĂN BÉ

Cần Thơ, 11/ 2014


Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu

ĐỀ CƢƠNG TỔNG QUÁT

PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHẦN NỘI DUNG
Chương một:


p ƣơ




. Về

p

. Về

p

p ƣơ





ơ

6. Nhận x

ƣớ đầ

để

N



iểu hiện



ƣ



đặ đ ể
nh tương





ơ

ng trong ng n ng thơ

3.2. Về t nh nhạ
4. Nhậ x

ơ

ủ ng n ng thơ

ƣớ đầ

để

5.1. Mạch lạc trong tổ ch c nội lại câu
5.2. Mạch lạc xuyên biên giới câu
6. Nhậ x

ƣớ đầ

đ ểm c

C

Vă B

IV. HƢỚNG TIẾP CẬN ĐỀ TÀI

Chương hai:
CHẤT THƠ TRONG VĂN TẾ CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
I. VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƢƠNG CỦA
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

1. Vài nét về cuộ đời
2. Sự nghiệp ă

ƣơ

N

ễ Đ

C ểu


Đƣờng luật)

III. PHÂN TÍCH CHẤT THƠ TRONG MỘT SỐ BÀI VĂN TẾ

.P â



ế

Cần Giuộc

1.1. Phần lung khởi
1.2. Phần thích th c
1.3. Phần ai vãn
1.4. Phần kết
.P â



ế T ƣơ

Định

2.1. Phần lung khởi
2.2. Phần thích th c
2.3. Phần ai vãn
2.4. Phần kết
3. Nhận xét ch


thể loại thường xuyên có âm luật và vần điệu.” [9, tr. 580].
Khi bàn về hơ văn u i, tác giả Hà Minh Đức có nhận xét như sau: “Trong thơ
ca của ta các thể văn vần như phú và văn tế và các loại biền văn như hịch, cáo, đều có
dáng dấp của thơ văn xuôi.”[9, tr. 628]. Cũng trong bài này, tác giả viết: “Nhưng phân
khác nhau là chỗ phú, văn tế trong sáng tác có những quy tắc về vần, về đối, về khuôn
khổ cấu tạo mà thơ văn xuôi không có.” [9, tr. 629]. Theo ý kiến của tác giả thì chất thơ
trong văn tế biền ngẫu rõ nét hơn cả thơ văn xuôi về vần, về đối, những yếu tố mà trong
thơ văn xuôi không có.
Cho đến nay chưa có nhà nghiên cứu nào đi sâu vào xem xét chất thơ trong tác
phẩm văn tế biền ngẫu nào.
Nguyễn Đình Chiểu là một tác gia lớn trong nền văn học trung đại Việt Nam,
một tấm gương đạo đức cao cả, một con người yêu nước đúng nghĩa. Thơ văn ông là lá
cờ đầu của văn thơ yêu nước cuối thế kỉ XIX. Nguyễn Đình Chiểu là người con tiêu biểu
cho tinh thần kháng chiến chống Pháp của vùng đất Nam bộ trong những ngày đầu.
Chính vì thế mà thơ văn ông đã có rất nhiều nhà nghiên cứu khai thác và tìm hiểu. Nói
đến Nguyễn Đình Chiểu, mọi người thường nhắc tới những tác phẩm thơ của ông. Tuy
nhiên, một mảng sáng tác vô cùng quan trọng đã làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu
trên vũ đài văn học là các tác phẩm văn tế vẫn chưa được xem xét thõa đáng. Những tác
phẩm văn tế của Nguyễn Đình Chiểu chỉ được tập trung xem xét từ góc độ nội dung lịch
sử, xã hội mà ít được chú ý đến ngôn từ nghệ thuật một cách có hệ thống.
Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu là một đề tài mới mẻ và đầy thú
vị trong lối tiếp nhận, điều mà các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học không chú ý đến.

GVHD, Th.S: Chim Văn Bé

5

SVTH: Phạm Thành Thật



Năm 2000, Bùi Công Hùng đóng góp vào công trình nghiên cứu ngôn ngữ thơ
Việt Nam công trình Tiếp cận nghệ thuật thơ

. Trong công trình này tác giả đã đề cập

đến nhiều phương diện của nghệ thuật thơ ca, trong đó có vấn đề hệ thống ngôn ngữ và
các thành phần của câu thơ... Tuy nhiên, công trình này bộc lộ nhiều hạn chế, sai sót
chưa làm sáng t được vấn đề đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca.
Trong những năm gần đây, một công trình ngôn ngữ đáng chú ý - Ngôn ng học
văn hương Việt Nam của tác giả Chim Văn Bé ra đời đã làm sáng t các vấn đề về
ngôn ngữ thơ ca Việt Nam. Trên tinh thần tiếp thu những công trình nghiên cứu ngôn
GVHD, Th.S: Chim Văn Bé

6

SVTH: Phạm Thành Thật


Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu

ngữ trong và ngoài nước, tác giả đã chỉ ra những đặc trưng của ngôn ngữ thơ trữ tình:
tính tạo hình – biểu cảm, tính biểu trưng – đa nghĩa, tính hòa phối đa phương diện, tính
mạch lạc,...Trong đó tính hòa phối đa phương diện được tác giả nghiên cứu sáng tạo nên
dựa trên cơ sở tạo tác hàm ý của Jakobson; và là đặc trưng cơ bản để phân biệt ngôn ngữ
thơ với ngôn ngữ nghệ thuật chung. Lần đầu tiên chúng ta bắt gặp tính hòa phối đa
phương diện: ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp trong vấn đề nghiên cứu từ trước đến nay,
đây là một đóng góp to lớn của Chim Văn Bé trong việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Việt
Nam. Tác giả đã đưa chúng ta từng bước tiếp cận ngôn ngữ thơ một cách hệ thống và
toàn diện nhất về các phương thức biểu đạt và các đặc trưng của ngôn ngữ thơ trữ tình.
Bên cạnh đó, tác giả đã xác lập được nhịp điệu của thơ tiếng Việt thuộc loại hình trọng

7

SVTH: Phạm Thành Thật


Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu

tế, Đồ Chiểu đã đem vào đây một nét lạ, trong khi bài văn tế đó đạt đến mức nghệ thuật
cổ điển cao nhất của thể loại.” [5, tr. 921].
Trong bài viết Tính nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu, Phan Ngọc có nhận
định như sau: “Nguyễn Đình Chiểu không phải là người hay chữ. Ấy thế mà ngay ở loại
văn có những người hay chữ mới làm nổi, ông lại là vô địch. Những bài văn tế của ông
là những trang văn bi hùng, thiên cổ ai cũng phải phục.”[5, tr. 934].
Xuân Diệu nhận xét trong bài viết Nhạ điệu thơ Nguyễn Đình Chiểu: “Văn
Nguyễn Đình Chiểu có cái duyên hồn nhiên, bộc trực, tự nhiên làm cho người ta rất
thương mến.” [5, tr. 960].
Trong bài viết Nguyễn Đình Chiểu và

ài văn tế, tác giả Nguyễn Quang

Thắng có một số nhận xét như sau: “Các bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu có một giá
trị rất lớn, vì nó xuất phát từ tính tự hào dân tộc, lòng yêu mến giống nòi.” [24, tr. 560].
Và:
“Những bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu không gò chữ uốn câu, mà là tình
cảm tự nhiên khi nỗi căm thù đã uất nghẹn tự đáy lòng.”[24, tr. 570].
Cũng trong bài viết này, tác giả Thắng có đánh giá như sau: “Tóm lại, thơ văn
Nguyễn Đình Chiểu – những bài văn tế nói riêng – hấp dẫn, lôi cuốn , kích thích người
đọc (cũng như người nghe) bằng những cảm xúc thiết tha, mảnh liệt, chân thành.” [24,
tr. 571].
Nguyễn Đình Chú từng nhận xét văn tế Đồ Chiểu như sau: “Cứ đặt những bài

IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Văn tế của Nguyễn Đình Chiểu có thể tiếp cận ở nhiều bình diện khác nhau.
Chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu là nghiên cứu Chất thơ trong văn tế của Nguyễn
Đình Chiểu. Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận các công trình lí luận về ngôn từ thơ
ca, hệ thống hóa, xác định những biểu hiện của chất thơ. Khi nghiên cứu chất thơ trong
văn tế, chúng tôi so sánh đối chiếu để chọn ra công trình lí luận ngôn ngữ thơ đảm bảo
khoa học chính xác nhất để vận dụng làm sáng t chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình
Chiểu.
Trong quá trình sáng tác, Nguyễn Đình Chiểu không thể tự ghi chép bằng văn tự
nên tác phẩm văn chương ông được truyền miệng do đó nhiều các dị bản. Nguyễn Đình
Chiểu đã để lại cho đời 3 bài văn tế: Văn tế nghĩ sĩ Cần Giuộc, Văn tế rương Định
và Văn tế nghĩ sĩ trận vong Lục Tỉnh.
Đi sâu nghiên cứu Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu, chúng tôi
chọn đối tượng khảo sát chính là 2 bài văn tế: Văn tế nghĩ sĩ Cần Giuộc (Tế Cần
Giuộc sĩ dân trận vong văn), Văn tế rương Định (Điếu Trương Tướng Quân văn). Vì
có nhiều bản in khác nên khi nghiên cứu chúng tôi dựa bản Văn tế nghĩ sĩ Cần Giuộc
in trong sách Ng Văn

, tập 1 do Nhà xuất bản Giáo dục. Còn Văn tế rương Định

chúng tôi dựa vào bản trong tuyển tập Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập 2 [25] do Ca
Văn Thỉnh - Nguyễn Sĩ Lâm – Nguyễn Thạch Giang sưu tầm và biên soạn do Nhà xuất
Văn học in.
V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

GVHD, Th.S: Chim Văn Bé

9


PHẦN NỘI DUNG
C ƣơ

một:
VẤN ĐỀ ĐẶC TRƢNG CỦA NGÔN TỪ THƠ CA

Với đề tài Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu đặc ra vấn đề văn
xuôi nhưng mang chất thơ – chất thơ là đặc trưng chủng loại của thơ ca. Để xác lập cở
sở cho việc tiếp cận, làm sáng t Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu chúng
tôi đi vào xem xét một số công trình nghiên cứu ngôn từ thơ ca.
I. QUAN NIỆM CỦA NGUYỄN PHAN CẢNH

Trong công trình Ng n ng thơ, Nguyễn han Cảnh đã đề cập đến nhiều nội
dung lớn của ngôn ngữ thơ như: Ngôn ngữ giao tế và ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ
thơ và ngôn ngữ văn xuôi, nghệ thuật ngôn ngữ và các loại hình nghệ thuật, các tín hiệu
đơn, cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa, lắp ghép hay bản chất các phương thức
chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ, nhạc thơ, nét khu biệt và nét dư trong ngôn ngữ thơ,
thể loại hay ngưỡng âm tiết, lục bát, dịch thơ/thơ dịch, động học của thí pháp hay sự
giãn nở của ngôn ngữ thơ.
Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi xin điểm qua một số nội dung liên quan
trong công trình của Nguyễn han Cảnh như sau: thao tác cơ bản của ngôn từ nghệ
thuật, phương thức nghệ thuật ngôn từ, tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa, lắp ghép hay
bản chất của các phương thức chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ và nhạc thơ.

1. Về

ơ




khả năng phù hợp giữa ý định và sự thực hiện ngôn ngữ càng cao. Còn “xét vấn đề về
phía người đọc thì hiện tượng lựa chọn diễn ra giữa vốn ngôn ngữ và cá nhân người
đọc” [3, tr. 18]. Công việc này giúp cho người đọc hiểu được ý tác giả muốn thể hiện.
Người đọc càng thành thạo thao tác lựa chọn thì khả năng rút ngắn khoảng cách giữa tác
phẩm và sự tái hiện tác phẩm càng tốt hơn.
Tác giả có ý tóm lại về thao tác lựa chọn như sau: “Trong hoạt động ngôn ngữ,
thao tác lựa chọn liên quan đến vốn ngôn ngữ, tức đến những đơn vị ngôn ngữ tồn tại
trong óc các cá nhân, vận dụng năng lực liên tưởng để cung cấp sự lựa chọn những đơn
vị ngôn ngữ cần thiết.” [3, tr. 18 - 19].
1.2. h o t

kết hợp

Theo Nguyễn han Cảnh: “Thao tác kết hợp dựa trên một khả năng khác của
hoạt động ngôn ngữ, là các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan
hệ tương cận giữa chúng” [3, tr. 19]. Chúng ta có thể hiểu thao tác kết hợp là, khi đặt
yếu tố ngôn ngữ này cạnh yếu tố ngôn ngữ khác dùng để thể hiện nội dung phát ngôn.
Thao tác kết hợp cũng là việc kết hợp các từ tạo nên câu nói trong thực tiễn nói năng.
Tiền đề vật chất của thao tác kết hợp, được Nguyễn han Cảnh đề cập “trong
cách tổ chức ngôn ngữ để giao tế, ngoài tính biến dạng còn có một tính chất hết sức
quan trọng nữa, đó là tính hình tuyến hiểu theo nghĩa hình tượng của từ này” [3, tr. 21].
Đặc trưng này đưa tới hệ quả quan trọng là vấn đề trật tự cái trước cái sau của các đơn vị
ngôn ngữ, xuất hiện thêm một khả năng trong việc cấp nghĩa cho các yếu tố ngôn ngữ
học: dựa vào hai hoặc nhiều vế đầu cùng có mặt trên lời nói để thuyết minh lẫn cho
nhau. Nói về phạm vi hoạt động của thao tác kết hợp, tác giả “xét về phía tác giả, hiện
tượng kết hợp diễn ra giữa tác giả và tác phẩm” [3, tr. 23]. Với thao tác này, tác giả có
thể nói lên ý mình.

GVHD, Th.S: Chim Văn Bé


Theo tác giả Nguyễn han Cảnh, hoạt động nghệ thuật của con người là nhằm:
phản ánh hiện thực và thể hiện sức sáng tạo của con người. Bởi vậy, nghệ thuật ngôn từ
bao gồm hai phương thức cơ bản là: phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện.
2.1. Về phương th

tạo hình

Theo tác giả:“Nét nổi bật của phương thức tạo hình trong nghệ thuật là trực tiếp
miêu tả các hiện tượng của hiện thực, v nên (hiểu theo nghĩa rộng của từ bức tranh về
cuộc sống, mở ra trước mắt người xem những tác phẩm giống với các đối tượng trong
thực tế.” [3, tr. 28].
Một lần nữa tác giả khẳng định lại vai trò của phương thức tạo hình “Chính nhờ
khả năng này, ngôn ngữ đã hoàn thành nhiệm vụ của một chất liệu của hình thái nghệ
thuật tạo hình: nhờ khả năng nói về đối tượng, ngôn ngữ có thể phản ánh hiện tượng
trong tất cả tính cụ thể và tầm rộng lớn của nó” [3, tr. 30].
Để thực hiện được việc tạo hình đòi h i cần phải có cách tri giác. Ngoài cách tri
giác về nghĩa đen của từ, khả năng lắp ghép đã nảy sinh, tức là trong khi vẫn tập trung
sự lưu ý của người nghe vào bình diện ngữ nghĩa thứ nhất (nghĩa đen), đồng thời lại tạo
nên một ý nghĩa mới có nội dung lớn hơn tổng số nội dung ý nghĩa của các thành tố của
kết hợp. Từ đó tạo ra ngôn từ (văn bản) nhiều hơn một bình diện ngữ nghĩa, đạt được “
tại ngôn ngoại” [3, tr. 32].
2.2. Về phương th

iểu hiện

Tác giả trình bày về biểu hiện như sau: “nó biểu hiện những cảm nghĩ nhất định
GVHD, Th.S: Chim Văn Bé

13



ƣ



p ƣơ





Theo tác giả “Tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa là k năng dựa vào sức liên
tưởng của người nhận, đem liên kết các tín hiệu ngôn ngữ hoặc cùng xuất hiện trên
thông báo hoặc ch xuất hiện trên thông báo và tồn tại trong mã ngôn ngữ, để kiến lập
những ch nh thể không phân lập về mặt m học, tạo nên ngầm bằng chiều dày của các
câu, chữ” [3, tr. 81]. Có thể nói là s gần như không thể nào hiểu được văn bản trữ tình
nếu thiếu k năng này. Như vậy “nghệ thuật ngôn ngữ trước hết là nghệ thuật tạo
những mối liên tưởng giữa các yếu tố riêng l làm thành tác phẩm, nhằm sử dụng một
cách m học chiều dày của chất liệu ngôn ngữ” [3, tr. 82]. Trong bất k một chiều dày
nào của dấu hiệu miêu tả cũng bao hàm đồng thời hai nhân tố: nhân tố tồn tại thực tế,
biểu hiện nghĩa logic của tín hiệu đó và nhân tố tồn tại ở dạng tiềm năng và có thể trở
thành hiện thực hoặc không.
Nguyễn Phan Cảnh quan niệm tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa là “khi sự xuất
GVHD, Th.S: Chim Văn Bé

14

SVTH: Phạm Thành Thật








Theo Nguyễn Phan Cảnh, “ ắp ghép là k năng dựa vào tình tiết và thứ tự về
sức chú

và theo d i của người nhận, đem nối các cảnh mô tả theo một quy luật nhất

định, để nhầm tạo nên

ngầm giữa các khoảng cách của những cảnh đó” [3, tr. 105].

Một văn bản thơ gồm nhiều cảnh mô tả riêng lẻ là những yếu tố tạo thành của tác phẩm
và bản chất nghệ thuật của văn bản tùy thuộc vào phương thức kết hợp các yếu tố ấy lại
với nhau.
Bên cạnh đó tác giả cho rằng trong bất k khoảng cách nào giữa hai cảnh miêu tả
cũng gồm đồng thời hai nhân tố: nhân tố tồn tại thực tế, biểu hiện mối quan hệ logic
thông thường giữa hai cảnh đó và nhân tố biểu hiện ngầm nghệ thuật, nó tồn tại ở dạng
tiềm năng và có thể trở thành hiện thực hoặc không.
Theo ông thì lắp ghép là “Khi sự xuất hiện của một cảnh nào đó là gần như
không thể đoán trước được, nghĩa là trong cảnh đã xuất hiện không có một tiền đề nào
mà theo lôgích thông thường có thể giúp dự đoán nội dung của cảnh tiếp sau, thì trong
trường hợp đó s xuất hiện một
GVHD, Th.S: Chim Văn Bé

ngầm giữa khoảng cách của hai cảnh miêu tả” [3, tr.
15


Các thuộc tính âm thanh được lưu giữ - truyền đạt khi tổ chức quá trình thi ca
làm nên tiết tấu, còn các đơn vị âm thanh được lưu giữ – truyền đạt trong khi tổ chức các
quá trình loại thể làm nên vần trong thơ. Dưới hiệu quả của tiết tấu và vần đã làm nên
một nét riêng tiêu biểu của ngôn ngữ là đặc trưng nhạc tính. Tác giả nhấn mạnh tiết tấu
trong nghệ thuật: sự luân phiên giữa các mặt đối lập của hiện thực, trong nghĩa rộng là
sự lặp lại một cách liên tục các hiện tượng tương tự có thể thay thế nhau trong thời gian
và không gian.
Theo Nguyễn han Cảnh thì xét trong mối quan hệ với mã và thông báo thì các
thuộc tính âm thanh và các đơn vị âm thanh có khác nhau về việc thể hiện: Các đơn vị
âm thanh chỉ có đối lập, còn các thuộc tính âm thanh thì đều có hai tọa số: vừa có đối
lập (cao – thấp, mạnh – nh , ngắn - dài) lại vừa có tương phản.
ng cũng đề cập đến ba hệ thi pháp cơ bản nảy sinh của ngôn ngữ: nếu đối lập
dài – ngắn trong nguyên âm có tính chất âm vị học, thì thi pháp của ngôn ngữ đó là hệ
câu thơ theo lượng như thơ Latinh..., nếu đối lập mạnh – nh ở âm tiết có tính chất âm vị
học, thì thi pháp của ngôn ngữ đó là hệ câu thơ theo trọng âm thơ Nga..., còn nếu đối lập
GVHD, Th.S: Chim Văn Bé

16

SVTH: Phạm Thành Thật


Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu

bằng – trắc ở âm tiết có tính chất âm vị học thì thi pháp của ngôn ngữ này là hệ câu thơ
theo thanh điệu như thơ Việt...
“Hệ bằng – trắc, lấy đối lập thanh điệu làm chất liệu, chính là hệ thi pháp của
các ngôn ngữ chính danh, nơi sự luân phiên giữa các bước thơ theo trình tự B N




ễ P

C

Trong Ng n ng thơ, tác giả Nguyễn han Cảnh đã trình bày mười hai chương
để nói về ngôn ngữ thơ. Tuy đã nêu lên được nhiều phương diện của ngôn ngữ thơ
nhưng chưa có nội dung nào thật rõ ràng, cụ thể mà chỉ nói một cách mơ hồ, khái quát.
Tác giả cho rằng để tri giác được một văn bản, ngoài điều kiện phải có đủ hai
chủ thể tham gia giao tiếp còn cần phải hiểu được những lời, những chữ mà người ta
nghe được, đọc được. Nói như thế đã hoàn toàn chính xác chưa Không phải khi hiểu
được tất cả những từ tiếp xúc được trên cơ sở giống nhau giữa các yếu tố đó là có thể
thấu đáo được ý đồ trong tác phẩm. Thế thì chỉ cần người tiếp xúc nói lên ý mình khi tìm
hiểu một tác phẩm nào đó mà không cần quan tâm điều đã “hiểu” đó có đúng, có phù
GVHD, Th.S: Chim Văn Bé

17

SVTH: Phạm Thành Thật


Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu

hợp với quan niệm chung của cộng đồng hay không. Hiểu như vậy chỉ là theo tác giả.
Tác giả Nguyễn Phan Cảnh đã đề cao biện pháp chuyển nghĩa, đặc biệt là
phương thức ẩn dụ vì ẩn dụ đứng hàng đầu trong việc xây dựng và phát triển chủ đề trữ
tình. Tuy nhiên, tác giả đã không đúng khi cho rằng ẩn dụ là cách tổ chức kép các lượng
ngữ nghĩa. Bên cạnh đó, phương pháp hoán dụ chủ yếu được dùng để thiết lập hình ảnh
trong văn xuôi hơn là thơ.
Trong tiền đề vật chất của thao tác lựa chọn, tác giả đã đề cập đến các hình vị tồn

SVTH: Phạm Thành Thật


Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu

Việt Nam, hai phương thức cơ bản của ngôn ngữ thơ, tổ chức ngôn ngữ và cấu trúc hình
tượng thơ, một số tính chất và đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ, chơi chữ, vài
nhận xét về sự phát triển của ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại.
Trong giới hạn luận đề tài nghiên cứu, chúng tôi xin điểm qua một số nội dung:
phương thức cơ bản của ngôn ngữ thơ, tổ chức ngôn ngữ và cấu trúc hình tượng thơ và
một số tính chất và đặc điểm của ngôn ngữ thơ.

1. Về p ƣơ





ơ

Tác giả Hữu Đạt cho rằng một trong những phương thức làm nên những đặc
điểm ngôn ngữ riêng của thơ là phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện.
1.1. Về phương th

tạo hình

Hữu Đạt nêu lên “Đặc điểm nổi bật của phương thức tạo hình là phản ánh trực
tiếp đối tượng, nghĩa là miêu tả đối tượng như nó vốn có trong thực tế khách quan [6, tr.
38].
ng cũng đề cặp đến hai thao tác lựa chọn và kết hợp là không thể thiếu để

– 58]. Và một số nguyên âm như: i là hình ảnh về sự vật có kích thước, âm thanh nh
bé; e là hình ảnh về sự vật mảnh, nh , âm thanh bé và chói...[6, tr. 59].
ng lưu ý rằng, không phải tất cả các từ nào mang các vần, các nguyên âm trên
đều có khả năng tạo hình.
1.2. Về phương th

iểu hiện

Nói tới thơ ca không thể không nói tới phương thức biểu hiện, có thể nói “Thơ là
một nghệ thuật biểu hiện”.
Tác giả giải thích: “Thực chất của phương thức biểu hiện là việc khai thác các
khả năng biểu hiện của các đơn vị ngôn ngữ thông qua thao tác lựa chọn và thao tác kết
hợp trong quá trình tổ chức văn bản” [6, tr. 65]. Với hai thao tác trên, nhà nghệ sĩ có thể
lựa chọn một đơn vị trong hàng loạt đơn vị có giá trị tương đương nhau và có thể tạo ra
những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất mà ngôn ngữ dân tộc
cho phép sau khi đã lựa chọn. Đây là hai thao tác hết sức cần thiết.
Hữu Đạt lưu ý: “Khi phân tích các câu thơ có khả năng biểu hiện, cần phải tìm
hiểu quá trình hình thành các nghĩa hình tượng của câu thơ, tức cái nghĩa bên trong –
nghĩa bóng của nó” [6, tr. 68].
Tác giả cho rằng “Quá trình hiện thực hóa phương thức biểu hiện là quá trình
thực hiện biện pháp chuyển nghĩa, một biện pháp vô cùng quan trọng trong các loại thơ
trữ tình” [6, tr. 72]. Thông qua biện pháp này, nhà thơ đem đến cho người đọc những
nhận thức mới m về đối tượng và tạo nên những hình tượng nghệ thuật.
Tác giả lưu ý: “Phân tích phương thức biểu hiện của ngôn ngữ thơ phải bao gồm
hai mặt: phân tích những kiểu diễn đạt cơ bản trong thơ ca và phân tích những biện
pháp chuyển nghĩa mà nhà thơ áp dụng để biểu thị những suy nghĩ, tình cảm của mình
trước đối tượng, cũng như việc miêu tả những tính chất và phẩm cách của đối tượng”
[6, tr. 76 - 77].
hương thức biểu hiện thực tế nằm trong mối quan hệ qua lại giữa cái gọi là
ngôn ngữ và lời nói có tính chất cá nhân. Việc làm giàu phương thức biểu hiện trong thơ




ƣ

ơ

Hữu Đạt giải thích “hình tượng thơ là bức tranh sinh động và tương đối hoàn
ch nh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất
vần, điệu với trí tưởng tượng sáng tạo và cách đánh giá của nhà nghệ sĩ” [6, tr. 100].
Hình tượng và tính hình tượng là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. “Hình
tượng là bức tranh được phản ánh khá đầy đủ và toàn diện...Còn tính hình tượng là hình
ảnh đơn l về một mặt, một phương diện nào đó của cuộc sống, nó chưa phải là bức
tranh toàn diện” [6, tr. 101].

ét về góc độ phản ánh thì “Hình tượng vừa có tính khái

quát lại vừa có tính cụ thể, còn tính hình tượng ch có tính khái quát chứ chưa có tính cụ
thể”. Vậy, về bản chất, “hình tượng” phải là tổng hòa tất cả những cái có “tính hình
tượng”.
Hữu Đạt cho rằng cái làm nên tính hình tượng trong câu thơ chính là do mối
quan hệ kết hợp giữa các đơn vị do câu thơ tạo thành. Khi nói tới tính hình tượng của
thơ ca là chúng ta nói tới hai loại quan hệ: quan hệ có tính chất tiềm năng và quan hệ
hiện thực hóa.
Về nghĩa hình tượng, Hữu Đạt giải thích “là cái nghĩa tiềm năng, tồn tại ở bề
sâu của cấu trúc ngữ nghĩa được hình thành do quá trình phát sinh nghĩa xảy ra trong
một quá trình lịch sử rất lâu dài” [6, tr. 116].
Theo tác giả thì hình tượng là cái được xây dựng từ những câu thơ có tính hình
tượng, một tác phẩm không thể có tính hình tượng nếu được xây dựng từ những câu thơ
GVHD, Th.S: Chim Văn Bé


nh tương

ng trong ng n ng thơ

Tác giả cho rằng đây là một trong những đặc điểm vô cùng quan trọng của ngôn
ngữ thơ. Nó đảm bảo cho thơ một vẻ đ p đặc biệt: v đẹp của sự hài hòa.
Hữu Đạt quan niệm “Không những tính tương xứng ch bao gồm những cái
tương phản, đối xứng hay cân đối với nhau mà nó còn bao gồm cả những cái tồn tại
trong thế bổ sung cho nhau” [6, tr. 131].
Theo tác giả khi nghiên cứu tính tương xứng trong thơ đứng từ góc độ cái biểu
hiện, tính tương xứng của ngôn ngữ thơ được biểu hiện qua mặt âm thanh và ý nghĩa của
các đơn vị ngôn ngữ. “Tính tương xứng về âm thanh có tác dụng làm cho sự liên kết
giữa các dòng thơ, câu thơ trở nên gắn bó, ràng buộc” [6, tr. 132].
Tác giả nói thêm, nói đến tương xứng âm thanh trước hết người ta phải nói đến
tính tương xứng về thanh điệu, không chỉ là sự đối xứng về hai loại thanh: thanh bằng
và thanh trắc mà còn bao gồm cả hiện tượng các thanh đi sóng đôi với nhau, tạo thành
những cặp nhất định. Ngoài ra còn có sự tính đến sự tương xứng về âm cuối, về phần
vần.
Tác giả quan niệm “Tính tương xứng về âm thanh không ch làm tăng cái v đẹp
hình thức của thơ ca mà còn làm phong phú và tinh tế thêm cái v đẹp nội dung của thơ
ca nữa” [6, tr. 135].
Đứng từ góc độ sắp xếp ngôn ngữ là một hệ thống cấu trúc, trong đó có các yếu
tố tồn tại theo tôn ti, thứ bậc, có thể nghiên cứu ở các bậc khác nhau: tương xứng trên
hai dòng thơ (gồm tương xứng toàn bộ và tương xứng bộ phận) và tương xứng trên một
dòng thơ (gồm tương xứng giữa hai vế của dòng thơ và tương xứng giữa các bộ phận
trong một vế của dòng thơ).
Còn tính tương xứng về ý nghĩa trong ngôn ngữ thơ, theo Hữu Đạt bao gồm:
GVHD, Th.S: Chim Văn Bé


quan hệ giữa ngôn ngữ và âm nhạc chính là mối quan hệ giữa ngôn ngữ âm thanh và
các nốt nhạc còn mối quan hệ giữa chữ viết và các nốt nhạc là sự biểu hiện bên ngoài
của mối quan hệ đó.

ối quan hệ này không phải là đồng nhất” [6, tr. 158]. Cần phân

biệt rõ, từ ngữ là cái trừu tượng, không có quan hệ với âm nhạc, còn từ lời nói là cái cụ
thể, có quan hệ với âm nhạc. Chỉ có lời nói: nhịp điệu, ngữ điệu; độ dài, ngắn; mạnh,
yếu của các kết hợp âm thanh (cao độ, trường độ, âm sắc...) là những yếu tố có liên quan
trực tiếp với âm nhạc [6, tr. 158].
Tác giả nhận định, tiếng Việt giàu có về nguyên âm, phụ âm và thanh điệu, thế
nên độ dài của âm tiết thường ngắn và bao giờ cũng tách rời nhau. Đây là đặc điểm có
ưu thế về tính nhạc hơn so với các thứ tiếng có số lượng nguyên âm, phụ âm ít hơn và
không có thanh điệu. “ ột âm tiết của tiếng Việt dứt khoát bao giờ cũng được biểu thị
bằng một nốt nhạc hoặc bằng vài nốt nhạc “luyến láy” với nhau” [6, tr. 158 – 159].
Theo tác giả, “Sở dĩ chúng ta nhấn mạnh tính nhạc trong thơ là vì ngôn ngữ thơ
ca giàu nhịp điệu, ngữ điệu, quảng cách và hòa âm so với văn xuôi” [6, tr. 159].
Tác giả cũng nói: “Nói về cách hòa âm, trong thơ Việt nam là nói tới cách hòa
phối các thanh điệu, các cách kết hợp âm thanh theo một kiểu nhất định nào đó ở trong
GVHD, Th.S: Chim Văn Bé

23

SVTH: Phạm Thành Thật


Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu

câu thơ, đoạn thơ và bài thơ cụ thể” [6, tr. 159]. Tuy nhiên, không phải mỗi thanh điệu
s ứng với một nốt nhạc nhất định mà ngược lại, có thể ứng với một thanh điệu hoặc một

thức này.
Tính tương xứng trong ngôn ngữ thơ đã được Hữu Đạt giới thiệu và giải thích
khá rõ ràng về nhiều cấp độ, phạm vi, vai trò...để từ đó nhà nghệ sĩ và người thưởng
thức có thêm những cái nhìn thấu đáo hơn về sự tương xứng trong thơ.
Đề cập đến tính vận động của phương thức tạo hình trong thơ, tác giả cho rằng:
“Phương thức này thường nghiêng về miêu tả thiên nhiên hoặc mới ch phác ra một vài
diện mạo, tính cách nhất định. Nó chưa được các nhà thơ sử dụng để miêu tả những
biến đổi lớn của đất nước, con người” [6, tr. 43]. Đó là một điều không chắc chắn và tác
giả cũng chưa thể đưa ra bất kì một cơ sở nào để lí giải cho nhận định của mình.
GVHD, Th.S: Chim Văn Bé

24

SVTH: Phạm Thành Thật


Chất thơ trong văn tế của Nguyễn Đình Chiểu

Về đặc điểm phương thức biểu hiện trong thơ, Hữu Đạt cho rằng phương thức
này được hiện thực hóa bằng biện pháp chuyển nghĩa mà theo tác giả “ở đâu xuất hiện
hiện tượng chuyển nghĩa thì ở đó cái nghĩa đen, nghĩa cơ bản của từ bị biến đi mà thay
vào đó là sự xuất hiện một nét nghĩa mới, nét nghĩa có tính chất biểu tượng của từ” [6,
tr. 77] mà tác giả không đưa ra một định nghĩa chính xác nào về biện pháp này. Nếu chỉ
nói như vậy và qua những dẫn chứng, có thể thấy biện pháp này và ẩn dụ là khá gần
nhau mà ít thấy liên quan đến t dụ, phúng dụ, khoa trương... Vậy thì tác giả nên đưa ra
cơ sở, dấu hiệu nào đó để người đọc có thể hiểu rõ hơn về biện pháp chuyển nghĩa.
Một điều bất hợp lí trong phần vừa nêu trên của Hữu Đạt nữa là ông cho rằng khi
phân tích phương thức biểu hiện của ngôn ngữ thực chất phải bao gồm hai mặt: một mặt
phải phân tích những kiểu diễn đạt cơ bản trong thơ như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tỉ dụ,
khoa trương...mặt thứ hai là phân tích những biện pháp chuyển nghĩa mà nhà thơ áp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status