Đặt vấn đề
Tâm thần phân liệt là một trong những bệnh loạn thần nặng và khá phổ biến ở
nước ta cũng nh trên thế giới. Theo các số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới,
số bệnh nhân tâm thần phân liệt chiếm 0,6 - 1,5 % dân số [9]. ở Việt Nam, theo báo
cáo của chương trình quốc gia năm 2002 về điều tra cơ bản từ 61 tỉnh thành trong
cả nước, tư lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt là 0,3-1% dân số (trung bình 0,47%).
Tâm thần phân liệt thường khởi phát ở lứa tuổi trẻ từ 16-30 tuổi (50% trước
tuổi 25), nam sớm hơn nữ, tư lệ tái phát cao (95-98%). Bệnh có khuynh hướng tiến
triển mạn tính, làm mất tính đồng nhất giữa các mặt hoạt động tâm thần [24]. NỊu
không được phát hiện sớm, điều trị đúng và kịp thời, bệnh nhân dễ dẫn đến tan rã
nhân cách, sa sút trí tuệ, mất sức lao động, không còn khả năng tự chăm sóc bản
thân và khi đó trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội [25].
Năm 1958, viện bào chế Janssen tìm ra một hoạt chất ngăn chặn tác dụng
kích thích của amphetamin và có tác dụng điều trị tâm thần phân liệt ở người, đó
là haloperidol. Từ khi được đưa vào điều trị từ năm 1958 đến nay, nó vẫn được sử
dụng nhiều để điều trị bệnh tâm thần phân liệt, có tác dụng tốt trên các triệu chứng
dương tính như hoang tưởng và ảo giác. Nhược điểm của haloperidol là có nhiều
tác dụng không mong muốn như hội chứng ngoại tháp, các rối loạn vận động làm
cho bệnh nhân dễ bỏ thuốc, tư lệ tái phát cao. Những năm gần đây ngành hoá dược
đã tổng hợp được nhiều loại thuốc an thần kinh thế hệ mới, trong đó có olanzapin.
Từ năm 1996, thuốc này bắt đầu được đưa vào điều trị ở Mü và nhiều nghiên cứu
lâm sàng cho thấy nó có nhiều ưu điểm so với haloperidol như tác dụng tốt trên cả
triệu chứng dương tính và âm tính và đặc biệt là ít tác dụng không mong muốn
trên hệ vận động hơn. Tuy nhiên, tác dụng điều trị và tác dụng không mong muốn
của olanzapin cũng như đặc tính dược động học của thuốc khác biệt giữa các
nghiên cứu ở các quốc gia và các nhóm chủng tộc bệnh nhân khác nhau. ở Việt
Nam, do olanzapin mới chỉ xuất hiện khoảng vài năm gần đây và chưa được sử
dụng rộng rãi trong điều trị, nên chưa có một nghiên cứu nào đánh giá, so sánh
1
hiệu quả của nó với những thuốc đã và đang được sử dụng phổ biến trong điều trị
TTPL một cách hệ thống.
bố hoặc mẹ bị bệnh TTPL thì 16,4% con cái bị bệnh TTPL, nếu cả bố và mẹ bị
TTPL thì 68,1% con cái bị TTPL, các anh chị em ruột của bệnh nhân TTPL có nguy
cơ mắc bệnh là 14,3%, ngoài ra, nếu một trong hai đứa trẻ sinh đôi cùng trứng bị
TTPL thì khả năng đứa trẻ kia bị TTPL lên đến 86,2% và ở các đứa trẻ sinh đôi
khác trứng tư lệ này là 16,4% [9].
Theo Pierre L.S. (1994) những người có quan hệ huyết thống cấp hai với
người bệnh TTPL (cô, dì, chỉ, bác ruột bị bệnh) thì có nguy cơ mắc bệnh là 4%,
3
còn quan hệ huyết thống cấp một (bố, mẹ, anh, chị, em ruột bị bệnh) thì nguy cơ
mắc bệnh là 10%.
Qua đó ta thấy vai trò của các gen di truyền là chắc chắn. Tuy nhiên, các
nghiên cứu chưa khẳng định được gen nào và phương thức di truyền trong bệnh
TTPL là nh thế nào. Nhiều người mắc bệnh TTPL nhưng không có liên quan gì đến
thành viên khác trong gia đình [2], [9].
- Về hóa sinh: nhiều tác giả cho rằng ở những bệnh nhân TTPL có rối loạn
chuyển hóa các chất trung gian hóa học thần kinh như: catecholamin, serotonin,
GABA Một hướng nghiên cứu được chú ý nhiều nhất gần đây là giả thuyết về rối
loạn hoạt động của dopamin ở não [1], [9].
Một số nghiên cứu đã cho thấy bệnh tâm thần phân liệt có liên quan tới rối
loạn chuyển hóa dopamin và hệ thống dopaminergic. Dopamin tăng trong giai đoạn
cấp tâm thần phân liệt và giảm thấp khi bệnh ổn định. Tác dụng của thuốc hướng
tâm thần làm cho nồng độ dopamin trở lại bình thường và làm cho các rối loạn tâm
thần ổn định [13], [17].
Sự tăng hoạt động của hệ thống dopamin đi từ vùng trung não đến hồi viền sẽ
dẫn đến các triệu chứng dương tính nh: hoang tưởng, ảo giác, tăng vận động , còn
giảm sự hoạt động của hệ thống dopamin đi từ vùng trung não đến vỏ não sẽ dẫn
đến các triệu chứng âm tính nh: cảm xúc cùn mòn, thu hẹp x¨ hội… [13]. Cơ sở
khoa học của học thuyết này là hiệu quả điều trị của thuốc hướng tâm thần, làm
phong tỏa receptor dopamin để làm mất các triệu chứng loạn thần cơ bản của TTPL.
- Rối loạn cấu trúc và chức năng não: qua nghiên cứu cấu trúc não của những
tác giả chia thành 2 nhóm TC chính là âm tính và dương tính [1], [2], [9], [19], [26],
[35].
1.1.3.1. Nhóm triệu chứng âm tính
Theo quan điểm của Bleuler.P.E., triệu chứng âm tính là nền tảng của quá
trình phân liệt. Đó là các triệu chứng thể hiện sự tiêu hao mất mát các hoạt động
5
tâm thần, mất tính toàn vẹn, tính thống nhất của hoạt động tâm thần. Những triệu
chứng âm tính thường gặp là:
- Các rối loạn cảm xúc:
+ Cảm xúc cùn mòn: là triệu chứng hay gặp và được đặc trưng bởi nét mặt
cứng nhắc, bất động, vô cảm, ánh mắt nghèo nàn, vô hồn, giảm sút ngôn ngữ.
+ Cảm xúc không thích hợp: là trạng thái cảm xúc không tương ứng với kích
thích như khi có tin vui thì khóc, tin buồn lại cười sung sướng, thiếu tình cảm với
người thân, bàng hoàng lạnh nhạt với những thích thú trước đây… Theo Kaplan
H.I. và Sacdoc B.J., trạng thái cảm xúc này là do sự mất tính thống nhất giữa các
biểu hiện cảm xúc với nội dung tư duy.
- Các rối loạn tư duy:
+ Ngôn ngữ nghèo nàn: giảm vốn từ, lượng từ khi giao tiếp, giảm sút các ý
tưởng diễn đạt, nội dung sơ sài, đơn điệu, đôi khi vô nghĩa.
+ Tư duy chậm chạp: bệnh nhân phải suy nghĩ lâu mới trả lời câu hỏi.
+ Tư duy ngắt quãng: dòng suy nghĩ của bệnh nhân bị cắt đứt, đang nói
chuyện bệnh nhân dừng không nói, một lúc sau mới nói tiếp nhưng chuyển sang chủ
đề khác.
- Rối loạn hoạt động có ý chí: thiếu ý chí, mất khả năng khởi đầu của ý chí,
giảm khả năng duy trì và kiểm soát hoạt động có ý chí như: lười nhác, thụ động,
thiếu sáng kiến trong học tập, lao động, bệnh nhân né tránh xã hội, ngại giao tiếp,
mất sự chủ động cởi mở trong giao tiếp, kém chăm sóc bản thân (ăn mặc lôi thôi,
phải nhắc nhở hàng ngày), sống vào thế giới tự kû.
- Các rối loạn hoạt động bản năng:
+ Rối loạn giấc ngủ: thường ngủ ít nhưng cũng có khi ngủ nhiều, hoặc rối loạn
bệnh nhân.
+ Hoang tưởng ghen tuông: bệnh nhân nghĩ rằng vợ hoặc chồng không chung
thủy, mặc dù không có bằng chứng.
7
+ Hoang tưởng tự cao: bệnh nhân cho rằng mình rất thông minh, tài giỏi, việc
gì cũng làm được Có bệnh nhân cho rằng mình có địa vị cao, quyền lực lín trong
nước hay trên thỊ giới
+ Hoang tưởng tự phát minh: bệnh nhân luôn nghĩ rằng mình có những phát
minh mới, độc đáo, kỳ lạ về khoa học, triết học, cải cách xã hội v.v
+ Hoang tưởng được yêu: bệnh nhân cho rằng có người nào đấy, hay nhiều
người yêu mình.
+ Hoang tưởng kỳ quái: bệnh nhân cho rằng mình không còn tim, óc, dạ dày,
nội tạng bị hư hỏng, có thể nói chuyện với người âm, điều khiển thời tiết, mưa
nắng
- Các rối loạn tri giác: chí yếu là các ảo giác bao gồm :
+ ảo thanh: người bệnh nghe thấy âm thanh phát ra từ các bộ phận trên cơ thể,
thường gặp là tiếng nói rất rõ ràng với nội dung như mắng chửi, doạ nạt, ra lệnh,
chế diễu, khen ngợi, bình phẩm v.v ảo thanh độc thoại: BN nghe thấy giọng nói
của chính mình trò chuyện trong đầu, đây là ảo thanh khá điển hình trong TTPL.
+ ảo thị: còng thường gặp và hay kết hợp với ảo thanh, bệnh nhân nhìn thấy
người, súc vật, ma quỷ, phong cảnh, cảnh tượng v.v
+ ảo giác vị giác và ảo giác xúc giác rất hiếm gặp.
- Các rối loạn hoạt động :
+ Rối loạn hoạt động ở bệnh nhân TTPL rất đa dạng và phong phú. Có thể có
những hành vi thô bạo, hung hãn như đập phá, đánh người , các rối loạn này đa số
là do hoang tưởng, ảo giác chi phối.
+ Kích động: xuất hiện ở bệnh nhân phân liệt trẻ tuổi và mang tính chất dữ
dội, mãnh liệt. Đó là những động tác si dại, lố bịch, vô nghĩa, thiếu tự nhiên như
đùa cợt thô bạo, nhảy nhót, gào thét, đập phá v.v
+ Kích động căng trương lực: với những động tác dị thường, vô ý nghĩa như
e - ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng qua
hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc kèm theo ý tưởng
quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng.
9
f - Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan hay
lời nói không thích hợp hay ngôn ngữ bịa đặt.
g - Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng hay uốn sáp,
phủ định, không nói, hay sững sờ.
h - Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các đáp
ứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp thường đưa đến cách ly xã hội hay giảm
sút hiệu suất lao động xã hội, phải rõ ràng là các triệu chứng trên không do trầm
cảm hay do thuốc an thần kinh gây ra.
i - Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập tính
cá nhân biểu hiện như là mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái độ mê mải
suy nghĩ về bản thân và cách ly xã hội.
Không chẩn đoán bệnh TTPL khi có rối loạn cảm xúc, trầm cảm hay hưng
cảm, tổn thương thực thể, động kinh hay trạng thái nhiễm độc chất ma tuý.
- Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán:
Yêu cầu thông thường của một chÈn đoán bệnh nhân tâm thần phân liệt là ít
nhất phải có một triệu chứng rất rõ (nếu ít rõ thường phải hai triệu chứng hay nhiều
hơn nữa) thuộc vào nhóm một trong các triệu chứng liệt kê từ (a) đến (d) ở trên
hoặc có ít nhất là hai trong nhóm các triệu chứng liệt kê từ (e) đến (h). Các triệu
chứng ở trên phải tồn tại rõ ràng trong phần lớn khoảng thời gian một tháng hay lâu
hơn.
1.1.5. Các thể lâm sàng [3], [5]
- TTPL thể loại hoang tưởng (Paranoid):
+ Hội chứng chiếm ưu thế: hoang tưởng tương đối ổn định, có ảo giác kèm
theo, đặc biệt là ảo thanh, các rối loạn cảm xúc, ý chí, ngôn ngữ và các triệu chứng
căng trương lực không rõ rệt .
+ Tiến triển trung bình, điều trị có kết quả bằng thuốc an thần kinh.
1.1.6. Điều trị
11
Điều trị bệnh tâm thần phân liệt cho đến nay vẫn là điều trị triệu chứng và
phục hồi chức năng vì cơ chế bệnh sinh của bệnh chưa được xác định rõ. Do có sự
kết hợp giữa các nhân tố sinh học và môi trưâng trong cơ chế bệnh sinh nên phải kết
hợp nhiều liệu pháp điều trị khác nhau như sau:
- Liệu pháp tâm lý: tiếp xúc ngưêi bệnh với thái độ thông cảm, nâng đỡ, chia
sẻ, giải quyết nhu cầu và mâu thuẫn của ngưêi bệnh tại gia đình và cộng đồng
- Liệu pháp phục hồi chức năng: tham gia lao động, vui chơi giải trí, tái thích
ứng xã hội.
- Liệu pháp hoá dược: là liệu pháp thông dụng nhất, có hiệu quả nhất trong
điều trị các trạng thái loạn thần cấp và chống lại khuynh hưíng mạn tính, tái phát
của bệnh và cần được áp dụng sớm cho BN.
Các thuốc hoá dưîc có tác dụng hưíng tâm thần hầu hết là thuốc độc thưêng
phải dùng liều cao, dài ngày nên khi sử dụng, cần phải tuân thủ những nguyên tắc
sau:
+ Chọn thuốc phải phù hợp với triệu chứng lâm sàng. Ví dụ: haloperidol,
terfluzine có tác dụng tốt với triệu chứng hoang tưëng, ảo giác; chlopromazin có tác
dụng tốt với triệu chứng kích động, bất an; sulpirid và clozapin có tác dụng tốt với
các triệu chứng âm tính,
+ Chọn liều thích hợp với sự dung nạp của từng bệnh nhân: với trẻ em và ngư-
êi già, phải bắt đầu bằng liều thấp và tăng liều từ từ.
+ Nên cho bệnh nhân sử dụng lại thuốc chống loạn thần đã có tác dụng tốt trên
BN ở những lần điều trị trước đó.
+ Phải theo dõi chặt chẽ hiệu lực điều trị để kịp thời thay đổi thuốc.
+ Không nên phối hợp 2 thuốc ATK. Tuy nhiên, ở các bệnh nhân đặc biệt
kháng trị, có thể kết hợp nhưng phải thận trọng và cân nhắc kỹ.
+ Bệnh nhân cần được sử dụng liều duy trì ở mức thấp nhất có hiệu quả, liều
này thường thấp hơn liều đuîc dùng để kiểm soát các triệu chứng trong giai đoạn
loạn thần.
+ Tác dụng êm dịu, làm giảm những kích động vận động và lo âu.
+ Tác dụng chống những TC âm tính và sự sa sút ở bệnh nhân TTPL
1.2.2. Phân loại
13
1.2.2.1. Phân loại theo tác dụng lâm sàng
Theo Deniker, các thuốc an thần kinh tuỳ theo tác dụng êm dịu, chống loạn
thần và giải ức chế, được phân ra làm 4 nhóm [2]:
a- Các an thần kinh êm dịu: chlopromazin, levopromazin
b- Các an thần kinh trung gian: thioridazin, propericiazin
c- Các an thần kinh đa năng: haloperidol, flufenazin
d- Các an thần kinh giải ức chế: sulpirid, trifluperidol
1.2.2.2. Phân theo cấu trúc hoá học
Các ATK được phân loại thành các nhóm theo cấu trúc hóa học (Bảng 1.1).
Bảng 1.1. Phân loại ATK theo cấu trúc hoá học.
Nhóm Tên thuốc
Phenothiazin Chlorpromazin, Thioridazin, Levomepromazin
Butyrophenon Haloperidol, Trifluperidol
Benzamid Sulpiride, Sultoprid
Thioxanthen Chloprothixen, Flupentixol
Dibenzo-diazepin Clozapin, Olanzapin, Loxapin
1.2.2.3. Phân loại theo thế hệ
Nhóm ATK thế hệ I (ATK điển hình) gồm các thuốc haloperidol,
chlorpromazin, thioridazin, levomepromazin
Nhóm ATK thế hệ II (ATK không điển hình) bao gồm các thuốc clozapin,
risperidon, olanzapin, amisulpirid
1.2.3. Cơ chế tác dụng của các an thần kinh
- ức chế receptor dopaminergic ở não mà quan trọng nhất là receptor D
2
.
- ức chế các receptor khác như serotoninergic, α-adrenergic, cholinergic và
trước, làm giảm nhẹ dopamin dưới vỏ do đó có tác dụng chống loạn thần, cải thiện
các TC âm tính, cảm xúc, nhận thức hành vi ở bệnh nhân [2], [11], [19], [21].
1.2.4. Tác dụng không mong muốn của thuốc an thần kinh
Các tác dụng KMM của thuốc hướng tâm thần nghiêm trọng như dị ứng thuốc,
nhiễm độc thuốc, hội chứng an thần kinh ác tính, viêm gan, giảm bạch cầu hạt có thể
đe dọa đến sự sống của người bệnh, gây tổn thương nghiêm trọng nhiều cơ quan nội tạng
và để lại nhiều di chứng nặng nề, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Các tác dụng
KMM khác nh hội chứng Parkinson do thuốc, rối loạn thần kinh thực vật, tăng trọng
lượng cơ thể làm rối loạn tạm thời chức năng một số cơ quan nội tạng trong cơ thể,
ảnh hưởng đến sinh hoạt của người bệnh [2], [8], [28].
1.2.4.1. Các rối loạn vận động
- Rối loạn vận động cấp: thường xuất hiện lúc bắt đầu điều trị (trung bình vào
ngày thứ ba hoặc thứ tư). Hay gặp hơn khi sử dụng các an thần kinh đa năng và hoạt
hoá ở liều thấp.
Bệnh nhân có các cơn loạn trương lực cơ ở vùng miệng lưỡi như há hốc mồm,
cứng hàm, thè lưỡi, co cứng các cơ miệng và quanh miệng, khó nuốt, vẹo cổ, xoắn
vặn người, nghẹo cổ, cong lưng tôm, ìn người, cong cột sống, cơn xuất hiện ở các
cơ vận nhãn như mắt trợn ngược lên trần nhà và gia tăng duỗi cơ vùng gáy.
Rối loạn loạn động cấp thường kèm theo lo sợ nhưng không thay đổi ý thức.
- Bất động: chậm chạp vận động, cảm xúc thê ¬, ngủ gà nhưng không ngủ
thực sự, nét mặt ít biểu cảm, nhìn cố định, lời nói đơn điệu
- Hội chứng bất động tăng trương lực (hội chứng Parkinson do thuốc ATK):
biểu hiện bằng sự chậm chạp vận động, tăng trương lực cơ, uốn sáp, mất vận động
tự động, giữ nguyên dáng , run khi nghỉ và run tư thế, nhịp chậm, run tăng lên khi
xúc động, bị lạnh, mệt mỏi, tăng tiết nước bọt. Các biểu hiện này được tóm tắt trong
15
sơ đồ ở hình 1.1. và các thuốc dùng để điều trị và dự phòng được biểu diễn trong sơ
đồ ở hình 1.2.
Hình 1.1. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng Parkinson.
Hình 1.2. Xử trí hội chứng Parkinson do thuốc ATK.
làm méo mặt, giật cơ. Triệu chứng có thể lan tới các trục tay và chân như lắc mình,
núng nính, giậm chân. Có thể có những cô động bất thường ở tay như mỉa giật, mỉa
vân. Đặc trưng là loạn động của môi “ hội chứng mõm thỏ”. Có thể phải dừng điều
trị hoặc cho ATK liều thấp.
1.2.4.2. Các biểu hiện về thần kinh thực vật
- Tác dụng KMM trên hệ tim mạch.
+ Nhịp xoang nhanh: 90-110 lần/ph.
+ Hạ huyết áp khi thay đổi tư thế, thường gặp khi sử dụng các an thần kinh êm
dịu như levomepromazine, chlopromazine.
- Tác dụng phó giao cảm: khô miệng táo bón, bí đái, tăng nhãn áp.
- Tác dụng trên điều hoà thân nhiệt: giảm hoặc tăng thân nhiệt.
- Hội chứng an thần kinh ác tính: thường xảy ra khi mới sử dụng hoặc sau 2-
3 tuần sử dụng ATK, có thể gặp ở BN thay đổi thuốc an thần kinh khi đang được
điều trị lâu dài, ở người già, ở những BN lần đầu tiên sử dụng ATK, sử dụng
đường tiêm, có tiền sử bệnh não, những người nghiện rượu, nghiện ma tuý đồng
thời với điều trị bằng ATK.
Dấu hiệu báo động là sự tăng dần thân nhiệt trong vòng 36-48h (không do
nhiễm trùng, say nắng). Sự tăng này kèm theo sự trầm trọng thêm của các triệu
chứng ngÂm thuốc.
Tiến triển trong vài giờ, nhiệt độ của BN có thể tăng tới 40°C cùng với các triệu
chứng xanh nhợt, vã mồ hôi, tăng tiết nước bọt, hội chứng ngoại tháp mạnh, co cứng và
bất động, nhịp tim nhanh: 130-140lần/phót, HA thay đổi, không ổn định, ý thức thường
không rối loạn nhưng bệnh nhân mệt lả, lo âu. Nếu không được điều trị kịp thời thì bệnh
nhân có thể dẫn đến hôn mê và tử vong [2].
17
Ngoài các tác dụng KMM trên, các thuốc ATK còn có các tác dụng KMM
khác như rối loạn nội tiết (tăng tiết sữa cả nam lẫn nữ, tăng cân, bất lùc tình dục ở
nam, mất kinh ở nữ ), các rối loạn tâm thần thứ phát (buồn ngủ, lú lẫn, giảm cảm xúc,
trầm cảm ).
1.2.5. Hai thuốc được sử dụng trong nghiên cứu
thanh biến đổi nhiều giữa các người bệnh.
+ Chuyển hoá: haloperidol chuyển hóa chủ yếu qua cytochrom P
450
của
microsom gan, chủ yếu bằng cách khô ankyl oxy hóa, vì vậy có sự tương tác khi
haloperdol điều trị đồng thời với những thuốc gây cảm ứng hoặc ức chế những
enzym oxy hóa thuốc ở gan.
+ Thải trị: haloperidol bài tiết vào phân 20% và vào nước tiểu 33%, chỉ có
1% thuốc được bài tiết qua thận ở dạng không bị chuyển hoá. Chất chuyển hóa
không có tác dụng dược lý.
- Chỉ định:
Trong chuyên khoa tâm thần: các trạng thái kích động tâm thần-vận động có
những nguyên nhân khác nhau (trạng thái hưng cảm, cơn hoang tưởng cấp, mê
sảng), trạng thái loạn thần mạn tính (hoang tưởng mạn tính, hội chứng paranoia,
bệnh tâm thần phân liệt), trạng thái mê sảng lú lẫn kèm theo kích động, hành vi gây
gổ tấn công, các bệnh tâm căn và cơ thể tâm sinh có biểu hiện lo âu (dùng liều
thấp).
- Chống chỉ định:
+ Người đang dêng bacbiturat, opiat ho¨c rượu.
+ Bệnh nhân bị mắc bệnh Parkinson, mẫn cảm với thuốc.
Tránh dùng hoặc sử dụng rất thận trọng trong các trường hợp sau:
- Thận trọng:
+ Trẻ em, thiếu niên và người cao tuổi.
+ BN bị suy tủ, suy gan, thận, bệnh tim mạch, bệnh mạch máu não, bệnh về
chức năng hô hấp, người có bệnh glocom góc đóng, đái tháo đường, bệnh nhược cơ,
rối loạn vận động ngoại tháp, chứng liệt cứng, động kinh, trầm cảm, cường giáp.
19
+ Điều trị đồng thời với thuốc ức chế thần kinh trung ương.
- Tác dụng không mong muốn:
+ Hội chứng ngoại tháp xẩy ra ở 40 -70 % số người bệnh được điều trị.
+ Methyldopa: vì có thể gây hạ huyết áp một cách đáng kể.
20
+ Levodopa: vì có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm triệu chứng rối loạn
tâm thần và haloperidol có thể làm giảm tác dụng điều trị của levodopa.
- Liều lượng và cách dùng:
+ Cách dùng: haloperidol có thể uống hoặc tiêm bắp.
+ Liều lượng: liều lượng tùy theo từng người bệnh, bắt đầu từ liều thấp trong
phạm vi liều thường dùng. Sau khi có đáp ứng tốt (thường trong vòng 3 tuần), liều
duy trì thích hợp phải được xác định bằng giảm liều đến liều thấp nhất có hiệu quả.
Người lớn: ban đầu 1,5 - 5mg, 2-3 lần/24 giờ.
Trẻ em: trẻ em dưới 3 tuổi chưa xác định được liều. Trẻ từ 3-12 tuổi liều ban
đầu 0,025 – 0,05 mg/kg mỗi ngày, chia làm 2 lần.
1.2.5.2. Olanzapin [31], [37]
- Cấu trúc hoá học:
C
17
H
20
N
4
S
- Tên khoa học: 2-methyl-4-(4-methyl-1-piperazinyl)-10H-thieno[2,3-b]
[1.5] benzodiazepin.
- Dạng thuốc: mỗi viên nén chứa hoạt chất olanzapin 5mg hoặc10mg.
- Dược lý và cơ chế tác dụng:
+ Dược lý: olanzapin là thuốc chống loạn thần có hoạt tính dược lý rộng trên
một số hệ receptor như serotonin 5HT
2A/2C
, dopamin D
1-4
huyết tương là 93%. Olanzapin gắn kết chủ yếu với albumin và α
1
-acid-
glycoprotein.
+ Chuyển hóa: olanzapin được chuyển hóa tại gan qua cơ chế liên hợp với
gluconid và oxy hoá qua cytochrom P
450
. Chất chuyển hoá lưu thông chính là 10-N-
glucoronid và không qua được hàng rào máu não. Các cytochrom P
450
tham gia vào
việc tạo ra các chất chuyển hoá N-desmetyl và 2-hydroxymetyl, các chất chuyển
hoá này không có hoạt tính sinh học.
+ Thải trị: thời gian bán thải trung bình ở người khoẻ mạnh thay đổi phụ thuộc
vào tuổi và giới.
Sau khi dùng đường uống ở người khoẻ mạnh, thời gian bán thải trung bình là
33 giờ và độ thanh thải huyết tương trung bình là 26 lít/giờ . ở người trên 65 tuổi
khoẻ mạnh, thời gian bán thải trung bình kéo dài hơn (51,8 so với 33,8 giờ) và độ
thanh thải giảm đi (17,5 so với 28,2 lít/giờ) so với người trẻ tuổi.
ở phụ nữ, thời gian bán thải trung bình kéo dài hơn (36,7 so với 32,3 giờ)
và độ thanh thải giảm đi (18,9 so với 27,3 lít/giờ) so với nam giới. Tuy nhiên, độ
an toàn của olanzapin liều 5-20mg/24 giờ tương đương nhau ở cả bệnh nhân nữ
và nam.
Không có sự khác nhau đáng kể về thời gian bán thải trung bình (37,7 so với
32,4 giờ) hoặc độ thanh thải (21,2 so với 25,0 lít/giờ) của olanzapin giữa người suy
thận (có độ thanh thải creatinin < 10 mL/phút) với người khoẻ mạnh.
22
ở người bệnh không hót thuốc lá, thời gian bán thải trung bình kéo dài hơn
(38,6 so với 30,4 giờ) và độ thanh thải giảm đi (18,6 so với 27,7 lít/giờ) so với
người hút thuốc lá.
kháng cholinergic nhẹ (khô miệng, táo bón, ). Đôi khi có tăng thoáng qua và không
triệu chứng các enzym transaminase gan (ALT và AST). Hội chứng Parkinson,
chứng đứng ngồi không yên và loạn trương lực cơ cấp hiếm khi xẩy ra.
+ Các tác dụng phụ khác: đôi khi có tăng nồng độ prolactin huyết tương, gây
to vĩ ở nam giới, chảy sữa, to vĩ ở nữ giới.
24
Phần 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Bệnh nhân nghiên cứu
2.1.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL theo ICD-10/92
[3], được điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần Trung ương 1 trong khoảng thời
gian từ 10/2005 đến 6/2006.
- Bệnh nhân không dùng bất kỳ thuốc chống loạn thần nào trước đó ít nhất 10
ngày.
2.1.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân bị bệnh động kinh hoặc có bệnh tổn thương thực thể ở não (chấn
thương sọ não, u não ).
- Bệnh nhân bị rối loạn tâm thần do sử dụng rượu, ma túy, bệnh nhân bị các
rối loại tâm thần khác như trầm cảm, hưng cảm, rối loạn phân liệt cảm xúc hoặc bị
đánh giá trên lâm sàng là có nguy cơ tự sát cao.
- Phụ nữ có thai, đang cho con bó.
- Bệnh nhân nghiện rượu, nghiện thuốc lá.
- Bệnh nhân có mắc thêm các bệnh nội khoa nặng, suy gan, thận, hoặc chống
chỉ định điều trị thuốc nghiên cứu.
- Bệnh nhân cần phải dùng thêm các thuốc an thần kinh khác ngoài hai thuốc
nghiên cứu, các thuốc chống trầm cảm, các thuốc điều chỉnh khí sắc và các thuốc
khác có tương tác với thuốc nghiên cứu (trị một số thuốc để xử trí các tác dụng
KMM gặp phải trên BN)
2.1.2. Thuốc nghiên cứu