khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động đến các nền kinh tế mới nổi - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh khu vực hoá, toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, các nền
kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các nhân tố bên ngoài. Càng gia nhập sâu
rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới thì các nền kinh tế càng chịu ảnh
hưởng lớn bởi các yếu tố đó.
Nền kinh tế thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với các cuộc
phát triển thăng hoa cũng như các cuộc suy thoái, đại suy thoái. Một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc suy thoái, đại suy thoái đó là
các cuộc khủng hoảng tài chính nội tại của một nền kinh tế hoặc do chịu ảnh
hưởng dây chuyền từ các nền kinh tế khác trong khu vực hay trên thế giới.
Trong thời gian gần đây, kinh tế thế giới đang hứng chịu một cuộc
khủng hoảng tài chính lớn đang lan rộng ra toàn cầu. Người ta chưa biết cuộc
khủng hoảng này sẽ gây ra những hậu quả lớn tới mức nào và khi nào sẽ dừng
lại. Thậm chí Tổng giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) trong một bài phát
biểu thời điểm đầu tháng 10-2008 đã bày tỏ lo ngại sẽ diễn ra đại suy thoái
kinh tế toàn cầu. Và cuộc khủng hoảng đã nhanh chóng lan sang các nước
Tây Âu, Nhật Bản và trở thành khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tác động của
cuộc khủng hoảng trong ngắn hạn và dài hạn là hết sức to lớn.
Nền kinh tế thế giới nói chung và các nền kinh tế mới nổi nói riêng
đang đứng trước những khó khăn to lớn do chịu tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính diễn ra trên phạm vi toàn thế giới. Để giúp nền kinh tế đứng
vững và có thể bước ra khỏi khủng hoảng tài chính và rơi vào suy thoái, mỗi
quốc gia cần phải có một chiến lược và những bước đi đúng đắn. Muốn vậy,
chúng ta cần nắm vững được bản chất vấn đề này, tìm hiểu nguyên nhân,
những dấu hiệu cảnh báo, diễn biến và các giải pháp ngăn chặn khủng hoảng,
ngăn chặn suy thoái. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, em xin lựa chọn đề tài
-1-
“Khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động đến các nền kinh tế mới
nổi” làm chủ đề nghiên cứu nhằm tìm ra các nguyên nhân, thực trạng và đề
xuất các giải pháp điều chỉnh đối với nền kinh tế phù hợp với tình hình hiện

chương như sau:
CHƯƠNG 1. Một số vấn đề lí luận về khủng hoảng tài chính và nền
kinh tế mới nổi.
CHƯƠNG 2. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế thế
giới và các nền kinh tế Đông Á mới nổi
CHƯƠNG 3. Một số giải pháp khắc phục khủng hoảng tài chính đối
với các nền kinh tế Đông Á mới nổi
Do những hạn chế về thời gian, trình độ và điều kiện tiếp cận các
nguồn tài liệu tham khảo của người viết nên khoá luận chắc chắn không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những lời chỉ bảo,
những ý kiến đóng góp và phê bình của các thầy, cô giáo để khoá luận được
hoàn chỉnh hơn.
Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn Ts. Trịnh Thị Thu Hương đã
hướng dẫn và có những ý kiến đóng góp quý báu để em hoàn thiện khoá luận
này.
-3-
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ NỀN KINH TẾ MỚI NỔI
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH
1. Khái niệm khủng hoảng tài chính
1.1. Lý luận của Mác về khủng hoảng kinh tế chu kỳ
Khủng hoảng kinh tế là khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng kinh
tế mất ổn định kéo dài mà không điều chỉnh được của quá trình tái sản xuất
trong nền kinh tế gây ra những chấn động và hậu quả kinh tế xã hội trong quy
mô rộng hoặc hẹp. Khủng hoảng kinh tế diễn ra trong mọi lĩnh vực của nền
sản xuất xã hội trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất.
Khủng hoảng kinh tế chu kỳ gồm có 4 giai đoạn:
- Khủng hoảng: đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ kinh tế. Khủng
hoảng đã phá huỷ nghiêm trọng lực lượng sản xuất, người lao động thất

- Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng
không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
2. Đặc điểm và biểu hiện của khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính là hiện tượng rất phức tạp. Nó bao hàm cả ba
loại hình khủng hoảng: (i) Khủng hoảng ngân hàng, (ii) Khủng hoảng tiền tệ,
và (iii) Khủng hoảng nợ nước ngoài.
Để hiểu rõ hơn về khủng hoảng tài chính, chúng ta tiếp tục xem xét
những đặc điểm và biểu hiện của nó:
-Thứ nhất: khủng hoảng tài chính nổ ra, làm cho đồng tiền của quốc gia
mất giá hàng chục phần trăm, thậm chí hàng trăm phần trăm, các khoản nợ
-5-
xấu tăng lên nhanh chóng có thể chiếm tới hàng chục phần trăm tổng mức cho
vay.
-Thứ hai: song song với việc mất giá đồng tiền là sự sụt giảm của thị
trường chứng khoán, chỉ số chứng khoán liên tục giảm, nhất là khi có dấu
hiệu bất ổn về tình trạng hoạt động của các công ty bất dộng sản và các tổ
chức tài chính.
-Thứ ba: khủng hoảng tài chính nổ ra đẩy nền kinh tế quốc gia vào thời
kỳ suy thoái, tốc độ tăng trưởng GDP giảm sút nặng nề.
Ngoài ra khủng hoảng tài chính còn có thể làm xấu đi các thông số kinh
tế cơ bản như sau: thâm hụt cao hơn về cán cân thương mại, cán cân tài khoản
vãng lai, ngân sách chính phủ, lạm phát gia tăng, tình trạng thất nghiệp trở
nên trầm trọng…
3. Các hình thức của khủng hoảng tài chính
Không phải tất cả các cuộc khủng hoảng tài chính đều giống nhau cho
dù đa phần các biểu hiện bề ngoài là có vẻ như nhau. Căn cứ vào các đặc
điểm chính của các cuộc khủng hoảng, người ta đề cập tới năm hình thức chủ
yếu của khủng hoảng tài chính mà trên thực tế có thể thấy trong bất cứ giai
đoạn nào:

Theo Blanchard và Watson (1982) cùng nhiều học giả khác, "bong
bóng" về tài chính ngẫu nhiên diễn ra khi những kẻ đầu cơ mua một tích sản
tài chính cao hơn giá trị thật của nó với hy vọng thu được lợi nhuận sau đó.
Trong từng giai đoạn, “bong bóng” này (được xác định là mức chênh lệch
giữa giá bán và giá gốc của tích sản) có thể phồng to hoặc có thể vỡ hoàn
toàn. Sự tan vỡ này, khi xảy ra không hề được mong đợi song không phải là
không thể biết trước được vì các đối tác của thị trường nhận biết được “bong
bóng” và phạm vi ảnh hưởng của sự vỡ “bong bóng” này.
-7-
“Bong bóng” vỡ ở mức độ rộng và nghiêm trọng gây ra các tác động
hết sức sâu sắc tới nền kinh tế: làm phá sản hàng loạt các doanh nghiệp trực
tiếp tham gia đầu cơ, làm thiệt hại nặng nề cho các doanh nghiệp liên quan tới
thị trường “bong bóng”, cho các nhà đầu tư, tài trợ, đặc biệt là hệ thống ngân
hang gây rối loạn thị trường tài chính và nền kinh tế.
3.4. Khủng hoảng rủi ro tinh thần
Theo Akerlof và Romer (1996), khủng hoảng rủi ro tinh thần xảy ra do
các ngân hàng có thể vay tiền mặt trên cơ sở những đảm bảo nguồn cho các
khoản nợ của ngân hàng. Nếu các ngân hàng bị thiếu vốn hoặc thiếu sự điều
tiết thì họ sẽ dùng những vốn tiền mặt này vào các hoạt động kinh doanh đầy
rủi ro hoặc thậm chí mang tính chất tội phạm. Hai học giả trên đây cho rằng,
vấn đề kinh doanh phi pháp, trong đó các ngân hàng dùng hậu thuẫn của nhà
nước dành cho để “ăn cắp tiền gửi” trên thực tế xảy ra phổ biến hơn mức
người ta tưởng và nó đã đóng “một vai trò lớn” trong khủng hoảng về tiết
kiệm và vay nợ của Mỹ.
3.5. Tình trạng hỗn loạn hay khủng hoảng “gánh nặng nợ”
Theo Sachs (1995), hiện tượng hỗn loạn trên xảy ra khi một bên vay nợ
phá sản hoặc không có tiền mặt gây ra một làn sóng đòi nợ của các chủ nợ và
bên vay nợ bị buộc phải thanh lý, cho dù bên vay nợ này vẫn là một doanh
nghiệp đang hoạt động và vẫn còn có giá trị. Tình trạng hỗn loạn xảy ra, đặc
biệt khi các thị trường hoạt động không đem lại lợi ích theo sự sắp xếp giữa

“Những người đi vay dưới tiêu chuẩn thường có quá khứ tín dụng (tiền sử tín dụng) không
tốt, như thường có các khoản thanh toán quá hạn, và có thể có những vấn đề nghiêm trọng
như phải ra toà, phá sản. Họ cũng có thể có khả năng thanh toán thấp xét trên những tỷ số
như điểm tín dụng thấp hơn 620, chiếm gần 25% dân số Mỹ. Do uy tín của người vay thấp
và tình hình tài chính không mấy sáng sủa nên nhìn chung các khoản vay dưới tiêu chuẩn
có lãi suất cao hơn lãi suất thị trường và điều này lại càng làm tăng thêm khó khăn tài
chính cho người vay, đặc biệt khi lãi suất thị trường gia tăng.
Cho vay thế chấp nhà đất dưới tiêu chuẩn (subprime housing mortgage): là một trong
những loại hình thuộc lĩnh vực vay dưới tiêu chuẩn và đặc biệt phát triển mạnh từ đầu thế
kỉ 21, trở thành một ngành công nghiệp ở Mỹ”. Nói như vậy có nghĩa là hình thức thế
chấp nhà đất trở thành một loại hình kinh doanh đầy lợi nhuận không chỉ với ngân hàng
cho vay mà còn với cả cả dân đầu cơ địa ốc. Một điều đặc biệt là hầu hết các ngân hàng,
tổ chức tín dụng ở Mỹ cho vay dưới hình thức này đều chấp nhận đảm bảo bằng tài sản
hình thành từ vốn vay. Như vậy, trước hết ta có thể thấy nguy cơ rủi ro là rất cao do đối
tượng của nó là nhà đất - vốn thường xuyên rơi vào chu kỳ đóng băng.
-9-
các ngân hàng lớn như Lehman Brothers (ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ)
và gần đây là City Bank Group đã cho thấy rõ điều đó. Hiện nay gần 1.200
ngân hàng Mỹ nộp đơn xin trợ cấp từ Chương trình hỗ trợ của chính phủ để
tránh lâm vào khủng hoảng.
Từ khi cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ nổ ra, các nhà phân tích đã
đưa ra nhiều nguyên nhân để giải thích, trong đó một số nguyên nhân được
nhắc đến nhiều nhất là:
- Sự thay thế Đạo luật bức tường lửa Glass-Steagall bởi Đạo luật
Glamm-Leach-Bliley, cho phép các ngân hàng thương mại được tham gia vào
các lĩnh vực kinh doanh mạo hiểm như nghiệp vụ chứng khoán hóa và bán
các khoản vay bất động sản khiến nhiều ngân hàng đẩy mạnh cho vay bất
động sản dưới chuẩn, nhằm thu về những khoản lợi lớn. Tuy nhiên, các ngân
hàng vẫn nắm giữ một lượng khá lớn các khoản chứng khoán phái sinh này,
một phần do không bán được, một phần do mua của ngân hàng khác nhằm đa

dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà. Việc này phần lớn được
thực hiện thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và
Freddie Mac.
Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách
mua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành
các loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (Mortgage-
Backed Securities - MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt
là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch.
Thứ ba, như đã trình bày ở trên, bởi vì có sự biến đổi các khoản cho
vay thành các công cụ đầu tư cho nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị
trường bất động sản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng
thương mại hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa. Nó
-11-
đã trở nên một sân chơi mới cho các nhà đầu tư, có khả năng huy động dòng
vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc.
Điểm đặc biệt ở đây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểm
MBS là vô cùng phức tạp cho nên nó diễn ra gần như là ngoài tầm kiểm soát
thông thường của chính phủ. Bởi vì thiếu sự kiểm soát cần thiết cho nên lòng
tham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, bởi
vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty khác biến chúng thành
MBS, các ngân hàng thương mại đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay,
bất chấp khả năng trả nợ của người vay.
Với ba lý do trên, thị trường bất động sản trở nên rất nhộn nhịp, có rất
nhiều người thu nhập thấp hoặc không có tín dụng tốt nhưng vẫn đổ xô đi
mua nhà. Để có thể được vay, nhóm người này thường phải trả lãi suất cao
hơn và thường được cho mượn dưới hình thức lãi suất điều chỉnh theo thời
gian (ví dụ, nếu thỏa thuận là được vay với lãi suất 6% và điều chỉnh sau 3
năm thì đúng ba năm sau lãi suất mới sẽ được ấn định theo thời điểm đó).
Tóm lại, nhóm người này thuộc vào thành phần được cho vay với loại lãi suất
dưới chuẩn (subprime rate).

khâu, mắt xích yếu nhất của hệ thống tư bản mà thôi, sự ‘bục” ra đó mới chỉ
là biểu hiện ban đầu, sự lan tỏa của nó mới là thực chất của cuộc khủng hoảng
chu kỳ.
Đòn bẩy tài chính quá cao là nguyên nhân chính cho sự ra đi của Bear
Stearns, Freddie Mac và Fannie Mae, Lehman Brothers và Merrill Lynch. Sự
sụp đổ của các định chế tài chính này là ngòi nổ của cuộc khủng hoảng, dẫn
đến sự khủng hoảng niềm tin của thị trường, dẫn đến sự hạ thấp tín nhiệm và
2
Đòn bẩy tài chính là quá trình công ty sử dụng vốn vay để tài trợ cho tăng trưởng tài
sản, được tính bằng tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu. Leverage: “cho vay đầu cơ”
hay “cho vay đòn bẩy”. Trong lĩnh vực tài chính, nhà đầu tư lợi dụng vốn thông qua việc
vay tiền hoặc sử dụng các dạng vay mượn khác (công cụ phái sinh) để tăng vốn đầu tư khả
dụng. Nhà đầu tư hi vọng số vốn vay này, khi được tái đầu tư vào các công cụ tài chính, sẽ
đem lại lợi nhuận cao hơn chi phí vay vốn phải trả.
-13-
sự ra đi của AIG; dẫn đến làn sóng rút tiền cả trên phố và trên mạng gây ra
khủng hoảng thanh khoản cho các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân
hàng liên quan đến cho vay bất động sản như Wamu và Wachovia.
2. Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ lần này thực chất là biểu
hiện rõ nét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó. Điểm lại
những mốc sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như
thế nào:
Năm 2002 - 2004: Giá cả ở các bang Arizona, California, Florida,
Hawaii, và Nevada tăng trên 25% một năm. Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu.
Năm 2005: “Bong bóng” thị trường nhà đất ở Mỹ vỡ tung vào tháng
08/2005. Thị trường bất động sản tạm gián đoạn ở một vài bang của Mỹ vào
cuối mùa Hè năm 2005 khi tỷ lệ lãi suất tăng từ 1% lên đến 5.35% do có
nhiều nhà kinh doanh bất động sản đã đánh giá thấp thị trường.
Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm. Giá nhà giảm,

những thất thoát quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố.
17/2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock.
28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các
nạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản
mất giá là 1,36 tỷ euro.
16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP
Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu.
29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một
khoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho
-15-
các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp
bất động sản
11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng
IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất
từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong
vòng 11 ngày.
31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo
là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD. Deutsche
Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín
dụng toàn cầu.
7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền
kiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac
nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ.
11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để
bán lại chính mình. Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%.
14/9/2008: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29
USD/CP sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers.
15/9/2008: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này
mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001.
Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch

kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất
Mỹ cho JPMorgan Chase & Co. với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài
sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc
hội đã đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ
USD.
-17-
29/9/2008: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị
trường tài chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công
nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh
nhất từ trước tới nay.
1/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ
USD (tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo
luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân
sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo
hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD.
2.1 Tình hình khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới trong thời gian qua
Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đã có mầm mống khởi
nguồn từ trước ngày 6/8/2007 khi công ty thế chấp nhà Mỹ (American Home
Mortgage) làm đơn xin phá sản. Tiếp theo sự khởi nguồn này là nhiều ngân
hàng và công ty lâm vào khó khăn và bộc lộ rõ nét là sự sụp đổ và khó khăn
của các ngân hàng và công ty tài chính lớn và nổi tiếng ở Mỹ (Wachovia,
Washington Mutual Inc, Bear Stern, Fannie Mae, Fredie Mac, Lehman
Brothers, Merrill Lynch, Tập đoàn bảo hiểm Quốc tế Mỹ (AIG), Goldman
Sachs, Morgan Stanley…).
Bên cạnh sự sụp đổ của các tên tuổi lớn, hàng loạt các tổ chức tài chính
khác cũng đã đổ theo với các khoản nợ có liên quan tới các vụ sụp đổ nói trên
và sự giảm mạnh về giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Ngày 3/10, với
263 phiếu thuận và 171 phiếu trống, hạ viện Mỹ đã thông qua kế hoạch 700 tỷ
USD nhằm giải cứu ngành tài chính nước này thoát khỏi khủng hoảng.

tại tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng này đã làm thay đổi hoàn toàn
nền công nghiệp và tài chính Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu.
-19-
2.2. Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bị lún sâu vào tháng 9 năm 2008
khi một số định chế tài chính bị nổ tung, dẫn đến khủng hoảng niềm tin vào
chính hệ thống tài chính.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay bắt nguồn từ khủng hoảng
cho vay thế chấp dưới chuẩn của Mỹ. Sự suy thoái chất lượng tín dụng của
các khoản vay thế chấp dưới chuẩn đã lan nhanh sang nhiều hạng mục tài sản
Có của các nhà đầu tư trên toàn cầu. Khả năng thanh khoản bị bay hơi, các thị
trường tiền tệ, tín dụng bị tác động mạnh. Khi các thị trường bị đóng băng,
các ngân hàng trung ương trên thế giới cùng hành động khẩn cấp và bơm tiền
mặt vào lưu thông. Tiếp đến là các gói cứu trợ diện rộng của chính phủ các
nước. Cuộc khủng hoảng hiện nay cũng cho thấy sự mất cân đối kinh tế vĩ mô
và tài chính trong cái vỏ ngoài tăng trưởng nhanh của nửa đầu thập kỉ này.
Khi bong bóng bất động sản của Mỹ bị nổ tung, sự xuống giá nhanh chóng
của những tài sản liên quan tới cho vay thế chấp của Mỹ dẫn tới những tác
động xấu tới bảng cân đối định chế tài chính làm giảm nền tảng vốn của họ.
Những tổn thất to lớn đối với những tài sản không có tính thanh khoản và bị
làm suy yếu đầu tiên đã gây tổn thất đối với những quĩ phòng hộ bị ảnh
hưởng mạnh. Bên cạnh đó, sự sụp đổ của hai quỹ Bear Stearns vào tháng 6
năm 2007 đã đánh dấu sự mở màn của hàng loạt những sự sụp đổ theo sau.
Cuộc khủng hoảng đã tạo nên một thảm hoạ đối với khuynh hướng trong
tháng 9/2008. Khi Lehman Brothers bị phá sản, Merrill Lynch đã bị mua bởi
ngân hàng Mỹ, và American Internation Group (AIG) đã nhận được gói cứu
trợ từ Cục dự trữ liên bang Mỹ (US Fed), tất cả các sự kiện đều diễn ra trong
vòng có vài ngày. Một số lượng các định chế tài chính bị thất bại và do vậy
những sự cứu trợ tài chính đã đưa đến những thay đổi đáng kể trong bối cảnh
tài chính toàn cầu, đòi hỏi phải có những sự can thiệp về chính sách chưa từng

- Cuộc khủng hoảng hiện nay cũng cho thấy sự mất cân đối kinh tế vĩ
mô và tài chính trong cái vỏ ngoài tăng trưởng nhanh của nửa đầu thập kỉ này:
Sự mất cân đối kinh tế vĩ mô bao gồm việc hình thành thâm hụt tài
khoản vãng lai lớn ở Mỹ và tương ứng với sự thặng dư ở những nước còn lại
trên thế giới, đáng lưu ý là Châu Á và Trung Đông. Sự vượt quá giới hạn về
tài chính trong giai đoạn này liên quan đến sự phát triển của việc gia tăng ồ ạt
những lực đẩy đòn bẩy và việc nắm giữ các rủi ro; những bong bóng trong tài
sản và thị trường vốn; sự xuống dốc trong tín dụng dưới chuẩn; và sự chèn ép
mạnh mẽ của những rủi ro lan rộng đối với hàng loạt các công cụ tài
chính.Với khủng hoảng đang bộc lộ, sự mất cân bằng đã bắt đầu trải ra khi tỉ
lệ tiết kiệm cá nhân ở Mỹ tăng đáng kể, những rủi ro là tái định giá, và lực
đẩy của đòn bẩy là giảm trở lại. Phản ứng của chính phủ Mỹ đối với khủng
hoảng tài chính cũng là hàm ý ám chỉ cho những mất cân bằng toàn cầu đáng
kể này, điều này có thể chuyển sang một tiến trình có thể nhìn thấy rõ nhiều
khó khăn và xáo động.
- Sự điều chỉnh theo hệ thống tài chính Mỹ đã lây lan sang các nước do
mức độ phụ thuộc tài chính lẫn nhau cao, kể cả do việc chuyển giao rủi ro
thông qua các sản phẩm chứng khoán hỗn hợp và tăng mạnh rủi ro:
Cầu ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới sụt giảm. Sự bất ổn tín dụng vẫn
tiếp tục mở rộng do các nhà đầu tư vẫn đánh giá rủi ro ở mức cao. Tăng
trưởng kinh tế đang bị suy yếu, xuất khẩu giảm mạnh, hàng hoá đã bị trượt
giá mạnh mẽ từ mức đỉnh cao trong đầu năm nay.
3. Sự khác nhau giữa khủng hoảng tài chính hiện nay với cuộc khủng
hoảng tài chính năm 1997
Khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 – 1998 là cuộc khủng
hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7/1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng tới các thị
trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả tài sản khác ở một vài
nước Châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là “những con hổ Đông
-22-
Á”. Cuộc khủng hoảng lúc đó còn được gọi là khủng hoảng tiền tệ Đông Á.

không ít quốc gia nghèo không hề có những cải thiện tình hình kinh tế thậm
chí là suy giảm.
Thuật ngữ "Nước đang phát triển" nhiều khi được thay thế bởi "Nước
kém phát triển", "Nước chậm phát triển", “Thế giới thứ ba”, “Nam bán cầu”,
thậm chí là "Nước kém phát triển nhất”.
Nền kinh tế phát triển là các quốc gia có tỷ lệ tổng sản phẩm quốc nội
từ các hoạt động công nghiệp cao hơn một ngưỡng nhất định.Ví dụ về các
nước được coi là nước công nghiệp, hay còn gọi là có nền công nghiệp phát
triển, là Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ý, Nhật, Canada
Ở những nước công nghiệp hiện nay, mức thu nhập bình quân đầu
người thường cao so với những nước nông nghiệp. Điều này khiến nhiều
nước nông nghiệp trên thế giới muốn thực hiện công nghiệp hóa, tức là phát
triển công nghiệp có tỉ trọng cao hơn so với các ngành khác. Các nước công
nghiệp cũng thường có Chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc vào loại cao,
và các quốc gia này còn hay được nhắc tới là các nước phát triển, nước tiên
tiến, hay các nước thuộc Thế giới thứ nhất.
Sự phát triển của một đất nước được đo đạc bằng các chỉ số thống kê
như tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người (GDP/người), tuổi thọ trung
bình, tỷ lệ người biết chữ, v.v. Liên hợp quốc xây dựng Chỉ số phát triển con
người, một chỉ số tổng hợp của các thống kê trên để xác định mức độ phát
triển con người ở mỗi quốc gia.
Mức độ phát triển của một xã hội bao hàm cơ sở hạ tầng hiện đại (cả về
mặt vật chất và thể chế) và sự thoát khỏi những lĩnh vực sản xuất tạo ra giá trị
gia tăng thấp như nông nghiệp và khai thác tài nguyên tự nhiên. Ở các quốc
gia phát triển, hệ thống kinh tế dựa trên sự tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững
ở những lĩnh vực dịch vụ, giáo dục, nghiên cứu phát triển, thông tin, v.v Các
-24-
quốc gia có sự tiến bộ vượt trội các nước đang phát triển nhưng chưa với tới
trình độ các nước phát triển được đưa vào nhóm nước công nghiệp hóa mới.
2. Tiêu chí đánh giá nền kinh tế mới nổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status