Đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam và xu hướng sau khủng hoảng - Pdf 10

Tiểu luận
Đánh giá tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu đến cán
cân tài khoản vãng lai của Việt Nam
và xu hư#ng sau khủng hoảng
LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu xẩy ra củng như bùng cháy lên một ngọn lửa. Và ngọn
lửa đó bắt đầu cho một đám cháy lớn. Ở thế giới này nền kinh tế của mỗi khu vực, mỗi quốc gia đều
có sự liên kết chặt chẽ và chịu ảnh hưởng nhất định khi tài chính có sự biến động. Chứng minh cho
điều đó là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ năm 2008 và đã lan tỏa đến Châu Á và Việt
Nam chúng ta củng không thoát khỏi sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đó. Cụ thể cuộc khủng
hoảng Mỹ đã lan ra thị trường thế giới. Các sàn chứng khoán của các nước đã giảm 2 đến 7%. Nhiều
nền kinh tế đều có đầu tư vào Mỹ, do đó mất giá ở Mỹ sẽ đẩy mạnh mất giá trên toàn cầu. Cụt vốn
khắp nơi không thể không ảnh hưởng đến đầu tư vào Việt Nam. Ngoài ra, nếu khủng hoảng ảnh
hưởng trực tiếp đến sản xuất vì giảm tiêu dùng như đang hình thành ở Mỹ thì hàng nhập khẩu vào Mỹ
sẽ giảm, đưa đến giảm xuất khẩu của nhiều nước. Việt Nam cũng khó tránh khỏi vấn đề này, nhất là
thị trường Mỹ vào năm 2008 đã chiếm tới 24% trị giá hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Khủng hoảng ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế của một quốc gia. Trong đấy có
cán cân tài khoản vãng lai. Và đề tài “
 !"sẻ nói rỏ hơn về tác
động của cuộc khủng hoảng đến Việt Nam. Cụ thể để nói lên vấn đề này chúng ta sẻ lấy cuộc khủng
hoảng mới nhất bắt nguồn từ MỸ năm 2008.
Với nội dung:
PHẦN MỞ ĐẦU
TÌM HIỂU MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Phần 1: Sơ lược về khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ Mỹ năm 2008
Phần 2: Tìm hiểu lý thuyết tài khoản vãng lai.
Phần 3: Phân tích tác động của khủng hoảng tới cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam
như thế nào?
Phần 4: Đưa ra đánh giá nêu ra xu hướng sau khủng hoảng từ năm 2008 đến nay.
#$%&'())*+(),)-&

đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này
thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi quá lớn.
* 17 đến 28 /2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock. và Đức đưa ngân hàng DZ bank
vào danh sách nạn nhân của cuộc khủng hoảng.
* 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản thua lỗ trước thuế sau
khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo
bởi các khoản thế thấp bất động sản.
* 11 đến 31 /7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac Bancorp.
và sau đó Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng
toàn cầu.
* 14 đến 29/9/ 2008: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp sau khi từ
chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers. và Phố Wall trở nên tồi tệ, Ngân hàng trung ương các
nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD vào các thị trường tiền tệ, Các thị trường chứng khoán thế giới
tăng vọt sau khi Mỹ công bố kế hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn,
Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã
đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp
* 1/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ 74-25)
Và có rất nhiều diễn biến quan trọng khác từ các nước Châu Âu và Châu Á. Trong thời gian này.
Và nhiều quốc gia đã đưa ra các chiến lược nhằm giảm thiểu rủi ro, tuy nhiên, trái lại nó tạo ra hiệu
ứng sụp đổ dây chuyền và khiến rủi ro bị đẩy lên cao hơn nữa. Cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra
vào ngày 7/9 khi hai nhà cho vay cầm cố khổng lồ của Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải
được Chính phủ tiếp quản để tránh khỏi nguy cơ phá sản. Sự kiện này tiếp tục châm ngòi cho vụ đổ
vỡ với những tên tuổi lớn khác.
Xen giữa những sự kiện trên, 9 tháng đầu năm cũng chứng kiến các cơn sốt dầu, lương thực, và lạm
phát làm khuynh đảo nền kinh tế toàn cầu. Đặc biệt là giá dầu, từ mức 90 đôla một thùng vào đầu năm
đã leo lên trên 100 đôla vào 20/2 và lập kỷ lục trên 147 đôla một thùng vào 11/7 năm 2008.
Bước vào quý IV, cuộc khủng hoảng kinh tế được đẩy lên một nấc thang mới khi nền tài chính và
kinh tế của nhiều quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng.
Mỹ và EU lại một lần nữa rung chuyển khi vào giữa tháng 12 vụ lừa đảo lớn chưa từng có do Benard
Madoff thực hiện bị phanh phui.

ngoài cả trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam suy giảm vì những lo ngại về bất ổn kinh tế và sự suy
thoái kinh tế toàn cầu. Và củng có một số ý kiến trái chiều tỏ ra lo ngại hơn về nguồn vốn FDI vào
Việt Nam. Thứ nhất, do nguồn tín dụng của thế giới đang dần trở nên cạn kiệt, nên các hoạt động đầu
tư trực tiếp và gián tiếp sẽ suy giảm trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. Hơn nữa, do
nhu cầu tiêu thụ giảm sút, nên việc giải ngân FDI sẽ chậm lại đáng kể.
- Tác động tới xuất khẩu của Việt Nam.
Xuất khẩu của Việt Nam đã bị ảnh hưởng khá nhiều từ cuộc khủng hoảng. Kinh tế Mỹ suy thoái đã có
tác động tới xuất khẩu của Việt Nam, do Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Ngay từ những tháng đầu năm 2008, đã xuất hiện xu hướng giảm tốc độ xuất khẩu sang Mỹ. Trong 9
tháng đầu năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 16,7%, thấp hơn khá nhiều so
với mức 26,7% của năm 2008. Tỷ trọng của thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam đã giảm từ 24% của năm 2008 xuống còn 17,7% trong 9 tháng đầu năm 2008.
Cũng cần phải đặt tình hình thương mại của Việt Nam trong mối quan hệ Trung Quốc - Mỹ: Mỹ là thị
trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc. Sức tiêu dùng của người dân Mỹ giảm sẽ tác động tiêu
cực đối với hàng Trung Quốc xuất sang Mỹ. Tiêu dùng tại Mỹ giảm, khiến hàng Trung Quốc rẻ hơn
và cạnh tranh hơn với hàng Việt Nam tại thị trường Mỹ. Đồng thời, khi hàng Trung Quốc tiêu thụ ở
Mỹ giảm đi, nó chuyển hướng sang các thị trường khác tìm đầu ra mới, có thể đưa vào tiêu thụ tại
Việt Nam nhiều hơn, gây áp lực lớn cho nền kinh tế Việt Nam.
Đồng thời, cuộc khủng hoảng đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu Việt Nam sang thị trường
Nhật Bản và châu Âu. Đây là những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Do bị tác động
mạnh từ cuộc khủng hoảng, người tiêu dùng của các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên
nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng có xu hướng giảm.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế cũng đã gây ra những biến động chưa từng có về giá
cả xuất nhập khẩu, ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Những biến động
của giá cả trên đã đánh đổ hầu hết các dự báo và tính toán của doanh nghiệp, cũng như hoạch định,
dự kiến của nhà điều hành chính sách. Điều này càng gây thêm khó khăn cho xuất khẩu của Việt
Nam.
CHƯƠNG II
TÌM HIỂU LÝ THUYẾT TÀI KHOẢN VÃNG LAI
2.1 – Định nghĩa tài khoản vãng lai

người dân sẽ có xu hướng tiêu dùng hàng nước ngồi nhiều hơn.
Tỷ giá hối đối:
Nếu đồng tiền của một nước bắt đầu tăng giá so với đồng tiền của các nước khác, tài khoản vãng lai
của nước đó sẽ giảm nếu các yếu tố khác bằng nhau.
Bởi vì hàng hóa xuất khẩu từ nước này sẽ trở nên mắc hơn đối với các nước nhập khẩu nếu đồng tiền
của họ mạnh. Kết quả là nhu cầu các hàng hóa đó sẽ giảm.
Các biện pháp hạn chế của chính phủ
Nếu Chính phủ một quốc gia áp dụng các hàng rào mậu dịch đối với hàng nhập khẩu, giá của hàng
nước ngồi đối với người tiêu dùng trong nước sẽ tăng trên thực tế. Kết quả là nhập khẩu sẽ giảm và
do đó làm tăng tài khoản vãng lai.
Thu nhập quốc dân tăng cao
hơn tỷ lệ tăng của
các quốc gia khác.
Thu nhập quốc dân tăng cao
hơn tỷ lệ tăng của
các quốc gia khác.
Tài khoản vãng lai
của quốc gia đó
sẽ giảm
Tài khoản vãng lai
của quốc gia đó
sẽ giảm
Dẫn đến
TĂNG
GIẢM
Tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ lạm phát
Tài khoản vãng lai
vãng lai
Tài khoản vãng lai

lạm phát, tập trung vào việc thắt chặt cung tiền và giảm bớt đầu tư công và hạn chế nhập siêu. Được
sự trợ giúp từ việc giá hàng hóa trên thế giới bắt đầu giảm từ mức đỉnh vào tháng 6/2008, tốc độ tăng
lạm phát đă được đưa xuống mức dưới 2%/tháng (tháng 7-8/2008) và xấp xỉ 0%/tháng trong tháng
9/2008.
Giai đoạn 3: Giảm phát
Việc cắt giảm đầu tư và tiêu dùng nhằm kiềm chế lạm phát của chính phủ cùng với một sự cộng
hưởng ngoài ý muốn là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn tới
một sự giảm đột ngột về cầu khiến cho giá nhiều mặt hàng giảm mạnh. Tính trong 4 tháng từ tháng 8
đến tháng 11/2008, giá nguyên liệu thế giới giảm 58% với đà giảm gia tăng. Giảm phát ở Việt nam có
độ trễ 2 tháng so với nước ngoài và chính thức bắt đầu từ tháng 10/2008 Giống như nhiều nước khác,
mối lo ngại của Việt Nam đă chuyển trạng thái từ lạm phát sang giảm phát khi giảm phát xảy ra trong
cả 3 tháng của quýIV/2008…)
Trong khi đó, xuất khẩu giảm cả về kim ngạch lẫn khối lượng, đối mặt với những khó khăn dồn dập
từ các nước nhập khẩu (về tín dụng, khả năng thanh toán, sức mua, giảm giá).
Chỉ số lạm phát đã có dấu hiệu suy giảm từ 8/2008 sau một thời gian dài liên tục tăng cao. Theo như
lý thuyết đã nêu thì khi chỉ số lạm phát giảm sẽ làm cho cán cân thanh toán vãng lai tăng lên. Tuy
nhiên, trong thực tế xảy ra tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai. Điều này chứng tỏ cán cân vãng lai
chịu nhiều sự tác động khác.
Qua nghiên cứu trên cho ta thấy, mặc dù lạm phát trong nước có giảm nhưng vẫn còn rất cao so với
các nước trên. Điều này đã làm cho hàng hóa trong nước trở nên đắt tương đối so với nước ngoài.
Cầu nước ngoài về hàng hóa trong nước giảm.
 Cán cân thương mại giảm. Đồng thời do giá cả đắt lên nên lượng khách du lịch nước ngoài giảm.
Tất cả các yếu tố này hội tụ lại đã làm thâm hụt tài khoản vãng lai.
Tuy nhiên, lại một lần nữa là sự giảm phát trong trường hợp này là kết quả từ những can thiệp của
chính phủ nhằm đối phó lại tình trạng khủng hoảng tài chính toàn cầu, bình ổn nền kinh tế, cải thiện
cán cân thanh toán vãng lai.
3.2 - Thu nhập quốc dân
Tác động của khủng hoảng đến Tổng thu nhập Quốc Dân của Việt Nam làm thay đổi 
0
Theo lý thuyết Cán Cân tài Khoản Vãng lai ta có:

VNĐ/USD có thể lên cao hơn nữa.
Đường cong J là một đường mô tả hiện tượng tài khoản vãng lai của một quốc gia sụt giảm ngay sau
khi quốc gia này phá giá tiền tệ của mình và phải một thời gian sau tài khoản vãng lai mới bắt đầu
được cải thiện. Quá trình này nếu biểu diễn bằng đồ thị sẽ cho một hình giống chữ cái J.
Khi chính phủ nới lỏng biên độ VNĐ/USD để làm VNĐ mất giá so với Đôla, làm cho giá hàng xuất
khẩu định danh bằng USD trở nên thấp đi trong khi giá hàng nhập khẩu định danh bằng VNĐ tăng
lên. Vì thế, sẽ tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu. Kết quả là cán cân vãng lai trong năm tiếp theo
(xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) sẽ được cải thiện. Tuy nhiên, trong thực tế, về phía cầu, hoạt động xuất
nhập khẩu diễn ra dựa trên các hợp đồng, vì thế lượng hàng xuất nhập khẩu không thay đổi đồng thời
với thay đổi giá cả (do tỷ giá thay đổi). Còn về phía cung, việc điều chỉnh trang thiết bị sản xuất để
sản xuất thêm hàng xuất khẩu cần thời gian.
Tóm lại, chính sự thay đổi giá cả và thay đổi khối lượng hàng hóa không diễn ra đồng thời là nguyên
nhân trực tiếp của hiện tượng Đường cong J.
Đồng VNĐ mất giá tạo thuận lợi cho việc xuất khẩu và hạn chế việc nhập siêu nhằm phẩn
nào cải thiện cán cân vãng lại , vực dậy nền sản xuất trong nước và góp phần giảm thất
nghiệp trong nước.
3.4 - Biện pháp của chính phủ
1E%%%%O>E#
0
\H_I7c]
Tỷ lệ lạm phát trong nước lúc này còn cao, xuất khẩu thì lại giảm, việc kích cầu trong nước => giảm
lượng hàng nhập khẩu=> tránh nguy cơ nhập siêu, mà lại tiêu thụ sản phẩm đang bị ứ đọng lớn (than,
sắt thép, xi măng, phân bón, một số nông sản quan trọng…), những mặt hàng xuất khẩu lớn đang có
thị trường.
Chính phủ dùng 1 tỷ USD (tương đương 17.000 tỷ đồng) từ dự trữ ngoại hối quốc gia để hỗ trợ giảm
4% lãi suất vốn vay lưu động ngắn hạn cho doanh nghiệp trong năm 2009 . Lãi suất trong nước giảm
tương đối so với lãi suất ở nước ngoài => giảm dòng vốn từ nước ngoài vào VN=> tỷ giá hối đoái của
đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ tăng lên=> xuất khẩu ròng tăng lên
Hạ lãi suất cơ bản
Một khi Lãi suất giảm tương đối so với nước ngoài sẽ khiến cho dòng vốn từ nước ngoài chảy vào

tỷ USD, tăng 14,5% so với năm 2008 gồm: Hàng dệt may, dầu thô, gỗ và sản phẩm gỗ, giày dép, thủy
sản.
Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu sang thị trường ASEAN tuy có giảm trong các tháng cuối năm, nhưng
ước tính cả năm vẫn đạt 10,2 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2008 với các mặt hàng chính là: Dầu thô,
gạo, thủy sản, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện.
Thị trường EU ước tính đạt 10 tỷ USD, tăng 15% so với năm trước gồm các mặt hàng truyền thống
như: Hàng dệt may, giày dép, nông sản, thủy sản. Thị trường Nhật Bản ước tính đạt 8,8 tỷ USD, tăng
45% so với năm 2008, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng: Dầu thô, giày dép, thủy sản, máy tính và
linh kiện, dây và cáp điện.
Nhập Khẩu:
Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3%
so với năm 2008, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ USD, tăng 26,5%; khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá của một
số mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm nay chỉ tăng 21,4% so với năm 2008.
Nhập khẩu ô tô năm 2008 đạt mức cao kỷ lục với 2,4 tỷ USD, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 1 tỷ
USD với 50,4 nghìn chiếc (ô tô dưới 12 chỗ ngồi 27,5 nghìn chiếc, tương đương 380 triệu USD).
Nhập khẩu máy móc thiết bị, phụ tùng khác (trừ ô tô và máy tính, điện tử) ước tính đạt 13,7 tỷ USD,
tăng 23,3% so với năm 2008. Nhập khẩu xăng dầu đạt 12,9 triệu tấn, tăng 0,1% so với năm trước,
tương ứng với kim ngạch 10,9 tỷ USD, tăng 41,2%. Sắt thép đạt 6,6 tỷ USD, tăng 28,5%.
Vải và nguyên phụ liệu dệt may là những mặt hàng phục vụ chủ yếu cho sản xuất hàng xuất khẩu vẫn
đạt kim ngạch cao với 6,8 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2008.
Hàng điện tử máy tính và linh kiện đạt 3,7 tỷ USD, tăng 25,8% so với năm trước, đây là nhóm hàng
không chỉ gắn với tiêu dùng trong nước mà còn liên quan tới gia công, lắp ráp để xuất khẩu.
Kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng trong quý I/2009 đều giảm so với cùng kỳ năm trước
do cả lượng và giá nhập khẩu đều giảm. Kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng
quý I/2009 đạt 2,4 tỷ USD, giảm 30,2% so với cùng kỳ năm trước; xăng dầu giảm 17,7% về lượng và
giảm 60,2% về kim ngạch; sắt thép giảm 65% về lượng và giảm 71% về kim ngạch; phân bón giảm
16,5% về lượng và giảm 33,8% về kim ngạch; sợi dệt giảm 7,2% về lượng và giảm 28,7% về kim
ngạch; ô tô nguyên chiếc giảm 71,2% về lượng và giảm 72,4% về kim ngạch; xe máy nguyên chiếc
giảm 50,7% về lượng và giảm 34,7% về kim ngạch.

Trong những tháng đầu năm 2009, khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang có tác động mạnh,
ngành công nghiệp Việt Nam phát triển chậm, với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp
(GTSXCN) quý I chỉ tăng 2,7%. Tuy nhiên, bước sang quý II, khi những nền kinh tế lớn trên thế giới
bắt đầu có dấu hiệu hồi phục, cùng với việc triển khai quyết liệt các giải pháp của Chính phủ, công
nghiệp Việt Nam đã có bước phát triển khả quan hơn, với tốc độ tăng trưởng GTSXCN đạt 4,6%.
Tiếp tục xu hướng này, trong quý III, ngành đạt tốc độ tăng trưởng GTSXCN là 6,4 % và quý IV tăng
9,5% đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng công nghiệp cả năm 2009 đạt khoảng 7,6%.
4.2.2 Về hoạt động thương mại trong nước
Trong bối cảnh xuất khẩu giảm sút, mặc dù điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhưng hoạt
động thương mại trong nước vẫn tăng trưởng khá, diễn biến các tháng trong năm vẫn theo quy luật
hàng năm, luôn duy trì xu hướng tăng dần, tuy mức tăng cả năm 2009 chưa bằng mức tăng của năm
2008 (tăng trên 30%). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội tăng bình quân hàng tháng xấp xỉ
2%, càng về cuối năm tăng càng cao trên 5%/tháng, cả năm ước đạt khoảng 1.197,5 nghìn tỉ đồng,
tăng 18,6% so với năm 2008 (nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng là 11%). Xét về cơ cấu tổng mức bán
lẻ theo loại hình kinh tế năm 2009, kinh tế nhà nước đạt 116,2 nghìn tỉ đồng chiếm 9,7%, kinh tế
ngoài nhà nước đạt 1.049,9 tỉ nghìn đồng, chiếm 87,7% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 31,3
nghìn tỉ đồng chiếm 2,6%. So sánh qua các năm cho thấy, các thành phần kinh tế ngoài nhà nước ngày
càng đóng góp nhiều hơn vào tổng mức lưu chuyển hàng hoá dịch vụ toàn xã hội, chiếm tỉ trọng tăng
dần so với các thành phần kinh tế nhà nước và đầu tư nước ngoài.
4.2.3 Thu hút đầu tư
Nguồn tín dụng đang dần trở nên cạn kiệt của thế giới trong khủng hoảng đã làm cho hoạt động đầu tư
trực tiếp và gián tiếp suy giảm trên phạm vi toàn cầu và Việt Nam không 17phải là một ngoại lệ.
Dòng vốn FDI sau khi đạt mức kỷ lục vào năm 2008 đã giảm xuống mức thấp vào năm 2009.
4.2.4 Thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán vốn luôn được xem như hàn thử biểu của nền kinh tế, là nơi mà yếu tố tâm lý
tác động rất mạnh đến động thái của các nhà đầu tư. Nếu quan sát tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới đến nền kinh tế thì không nơi nào thể hiện rõ nét và sống động như thị trường chứng
khoán. Thị trường chứng khoán Việt Nam sau khủng hoảng có thể chia thành 02 giai đoạn chủ yếu
Giai đoạn phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ
Giai đoạn thị trường hạ nhiệt và dao động trong biên độ hẹp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status