KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1. KHỦNG HOẢNG TÍN DỤNG DƯỚI CHUẨN 2007
Giới thiệu
Năm 1997, nền kinh tế toàn cầu lâm vào tình trạng suy thoái nặng nề gây ra bởi sự
sụp đổ lan rộng của cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Á. Năm 1998, tình hình thế giới càng
trở nên căng thẳng hơn với khủng hoảng tài chính ở Nga. Năm 2001, kinh tế Mỹ đi vào
suy thoái do sự sụp đổ của các chứng khoán “dot-com” (Đây là chứng khoán của các công
ty kỹ thuật. Các loại chứng khoán này đã đưa thị trường chứng khoán Mỹ đi lên, tăng
trưởng mạnh từ cuối năm 1990). Năm 2008, giá nhà sụt giảm nhanh chóng cùng với sự thu
hẹp một cách đột ngột trong các hoạt động tín dụng đã một lần nữa khiến nước Mỹ rơi vào
khủng hoảng. Có phải tính chu kỳ của những sự kiện này chỉ là do không may? Đứng ở
một khía cạnh nào đó có lẽ là đúng như vậy. Tuy nhiên, có một sự liên hệ logic giữa những
sự kiện ấy với nhau và để hiểu rõ hơn về cuộc khủng hoảng hiện nay đòi hỏi nhất thiết
phải có sự xem xét lại những sự kiện đã qua.
Những vấn đề tiền đề
Từ đầu những năm 80, nền kinh tế toàn cầu đã được chứng kiến một sự gia tăng
đáng kể trong khả năng tiết kiệm phần lớn là do tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của nền
kinh tế Đông Á. Vì nền kinh tế Mỹ vốn luôn được coi là một nơi an toàn để gửi tiết kiệm
cho những công dân nước ngoài nên rất nhiều người ngoại quốc đã chuyển tiền về gửi tiết
kiệm tại Mỹ. Các cuộc khủng hoảng tài chính vào những năm 90 (khủng hoảng tiền tệ
Đông Á cuối năm 1990; khủng hoảng đồng Euro ở Châu Âu, đồng peso ở Mexico vào
năm 1994 – 1995; và khủng hoảng ở Nga năm 1998) càng củng cố thêm niềm tin vào nước
Mỹ là một nơi an toàn cho gửi tiền tiết kiệm. Việc chuyển tiền gửi tiết kiệm từ nước ngoài
vào quốc gia này đã làm gia tăng một cách đáng kể tiềm lực tài chính của nền kinh tế Mỹ
trong những năm 90 và đầu thập kỷ mới.
Trong suốt những năm 90, Mỹ giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế thế giới, dẫn dắt
chính phủ liên bang và ngân hàng trung ương – FED – hoạt động như một người bảo đảm
cho sự ổn định của nền kinh tế toàn cầu. Điều này được thể hiện qua việc Mỹ tài trợ cho
các khoản nợ của Mexico năm 1995 cùng với việc FED bơm một lượng tiền đáng kể vào
thị trường theo sau cuộc khủng hoảng toàn cầu. Không may là những công cụ này đều
tài sản phải được đánh giá theo giá trị của thị trường. Và như đã thảo luận ở trên, thay đổi
trong chuẩn mực kế toán này đã làm tồi tệ hơn cuộc khủng hoảng tín dụng suốt năm 2008.
Giá nhà tăng nhanh
2
Trong khoảng 10 năm qua, giá nhà đã trở thành một mối quan tâm lớn đối với rất
nhiều người do tốc độ tăng nhanh đột biến của nó. Giai đoạn từ 1994 đến 2006, giá trung
bình của một căn hộ dành cho một gia đình tăng khoảng 200%. Nguyên nhân của sự gia
tăng nhanh chóng này thứ nhất là do tỷ lệ thế chấp nhỏ; thứ hai là do việc nới lỏng tính
chặt chẽ trong những quy định của ngân hàng đối với các khoản vay cầm cố; và cuối cùng
là do sự thay đổi trong kỳ vọng của những người mua nhà. Chúng ta hãy lần lượt xem xét
những yếu tố trên.
Đối với hầu hết mọi người, việc mua nhà là mua kết hợp nhà và cả khoản thế chấp.
Lý thuyết kinh tế cơ bản cho rằng khi giá cả của một hàng hóa giảm xuống, nhu cầu đối
với hàng hóa cùng loại khác sẽ tăng lên. Vì thế, tỷ lệ cầm cố giảm xuống do những nhân tố
được đề cập đến ở trên đã trở thành yếu tố đầu tiên thúc đẩy khiến giá nhà tăng lên.
Hơn nữa, chính sách phi điều tiết đã làm thay đổi những hoạt động thông thường
của ngân hàng. Bước đầu là việc chuyển sang nghiệp vụ ngân hàng chi nhánh và hợp nhất
các ngân hàng. Có những sự phân nhánh quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng.
Năm mươi năm trước, ngân hàng địa phương là nguồn cung cấp tín dụng chủ yếu. Hơn
nữa, các ngân hàng này cũng chỉ biết đến một số khách hàng vốn có của mình. Vì thế họ
chỉ cần một kênh thông tin đơn giản để thực hiện quản lý định lượng rủi ro.
Tuy nhiên, việc áp dụng những hệ thống chi nhánh ngân hàng lớn hơn đã khiến
hoạt động của kênh thông tin này trở nên kém hiệu quả. Từ trước tới nay, tổ chức cho vay
mua nhà thế chấp thường sở hữu một phần trong khoản cho vay mua nhà thế chấp đó –
chứng tỏ sự hiện diện của tổ chức này. Chính sách bãi bỏ điều tiết trong lĩnh vực tài chính
đã làm thay đổi sự bắt buộc này. Ngân hàng và các tổ chức tài chính bắt đầu áp dụng rất
nhiều các công cụ tài chính phái sinh (ví dụ như chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản
thế chấp CDOs). Những công cụ này cho phép đóng gói và bán lại nhiều lần các tài sản
cầm cố. Điều này đã khiến những người cho vay lơ là trong việc đánh giá chất lượng vì
nếu một khoản nợ có trở nên mất khả năng thanh toán thì khoản nợ ấy cũng không còn
hoạt động của mình. Do giá nhà sụt giảm nên giá trị của các chứng khoán đảm bảo bằng
tài sản thế chấp này cũng sụt giảm theo. Bởi vì tài sản vốn của các ngân hàng đang sụt
giảm giá trị nên ngân hàng phải phát hành ít các khoản nợ hơn. Việc thắt chặt các điều
kiện tín dụng bởi quy luật này bắt nguồn cho sự giảm sút theo hình trôn ốc.
Thứ nhất, tín dụng thắt chặt hơn thu hẹp lại thị trường nhà đất. Nhu cầu giảm sút
càng đẩy giá nhà tuột dốc nhiều hơn nữa. Những người mua nhà bắt đầu nhận ra số nợ họ
phải trả nhiều hơn giá trị của căn nhà (tài sản âm); điều này thúc đẩy họ trốn các nghĩa vụ
nợ thế chấp và vì vậy sự tịch thu tài sản để thế nợ tăng lên. Bởi vì tài sản bị tịch thu để gán
nợ tăng lên nên càng làm cho giá bất động sản tuột giảm. Những người sở hữu nhà càng bị
đẩy vào tình trạng tài sản âm.
Thứ hai, giá nhà tiếp tục giảm sút nhiều hơn nữa lại làm giảm giá trị các công cụ tài
chính phái sinh đảm bảo bằng tài sản thế chấp. Do sự giảm sút giá trị này nên các điều
4
kiện tín dụng lại càng thắt chặt hơn nữa. Vấn đề này ngày càng gia tăng do những khoản
thế chấp với lãi suất thả nổi bắt đầu khởi động lại. Một số người có dự định tái đầu tư
trước khi lãi suất được điều chỉnh lại đã nhận thấy rằng họ không đủ khả năng để làm điều
đó; thật đáng tiếc là một số khác cũng nhận thấy là họ không đủ khả năng để thanh toán
các khoản nợ cao hơn ở hiện tại. Những vấn đề khác liên quan đến tịch thu tài sản để thế
nợ nảy sinh sau đó.
Vòng tròn này cứ tiếp tục cho đến khi tài sản vốn của ngân hàng được định giá lại
đúng (tuy nhiên chúng ta chưa làm được điều này), kết thúc việc thu hẹp cho vay đang tiếp
diễn. Vòng tròn thu hẹp này trở nên gay gắt hơn bởi những yêu cầu về đánh giá theo giá
thị trường. Với sự sụt giảm giá trị của các công cụ phái sinh đảm bảo bằng tài sản thế
chấp, thị trường cho loại tài sản này đã biến mất thực sự. Do đó, giá trị thị trường của loại
tài sản này gần như bằng 0 (mặc dù thực tế nó được trông chờ là sẽ tăng giá trong vòng 5
năm tới). Tuy nhiên nếu giá trị hiện tại của loại tài sản này là 0 thì mức độ thắt chặt tín
dụng phải mãnh liệt hơn nữa.
Bởi vì thị trường nhà đất và các công cụ phái sinh đảm bảo bằng tài sản thế chấp là
những vấn đề cốt yếu đầu tiên gây ra khủng hoảng nên những thảo luận phía trên tập trung
chủ yếu vào các lĩnh vực này. Không may là đường xoắn ốc khủng hoảng ngày càng đi
giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thể bị giảm
phát.
Thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng nặng nề. Thị
trường trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa bị mất khả năng thanh khoản. Ngành xây
dựng Mỹ đóng góp 15% GDP có thể phải cắt giảm một nửa sản lượng và cắt 1-2 triệu
công việc.
Các khoản cho vay thế chấp không có khả năng thu hồi và giá trị tài sản đảm từ
những ngôi nhà bị sụt giảm là nguyên nhân giá trị đánh giá lại (mark to market) của các
gói trái phiếu phát hành bị giảm giá không phanh, đặc biệt là các gói trái phiếu có rủi ro
cao (gói Z). Các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa nợ dưới
chuẩn là người chịu hậu quả nặng nề. Dự báo số tổn thất do giảm giá trị trái phiếu cho
toàn thị trường lên tới khoảng 220 tỷ – 450 tỷ USD.
Hàng loạt ngân hàng đầu tư trót nắm giữ các gói trái phiếu rủi ro mà chưa kịp
chuyển giao cho thị trường đã phải ghi nhận các khoản tổn thất lên đến hàng trăm tỷ USD
như Citi (21 tỷ USD), Merrill Lynch (25 tỷ USD), UBS (18 tỷ USD), Morgan Stanley (10
tỷ USD), JP Morgan (2,2 tỷ USD), Bear Stearns (2 tỷ USD), Lehman Brothers (1,5 tỷ
USD), Goldman Sachs (1,3 tỷ USD). Tổng thiệt hại tài chính của các ngân hàng đầu tư
trong năm 2007 ước tính lên tới gần trăm tỷ USD. Citi và Merrill Lynch phải cầu viện tăng
vốn khẩn cấp từ các quỹ đầu tư Châu Á. Hàng ngàn nhân viên phố Wall bị sa thải.
6
Không chỉ thiệt hại về giảm giá trái phiếu, mảng kinh doanh béo bở từ chứng khoán
hóa của các ngân hàng đầu tư cũng bị tạm ngưng hoạt động. Cổ phiếu các ngân hàng đầu
tư rớt thảm hại trong 6 tháng cuối năm 2007. Với tổn thất nặng nề này, các ông chủ phố
Wall lần lượt phải ra đi, cụ thể là các ông chủ UBS, Citigroup, Merrill Lynch và Bear
Stearns.
Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá. Do dollar Mỹ là phương tiện
thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua dollar để
nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy dollar Mỹ lên giá. Điều này làm cho xuất
khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại.
2.2 Đối với thế giới