TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN
BÀI TẬP NHÓM KẾ TOÁN QUỐC TẾ 2
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. Nguyễn Trí Tri
Nhóm thực hiện:
TP.Hồ Chí Minh, Ngày 07 tháng 10 năm 2012
I. KHÁI NIỆM KIỂM SOÁT TRONG KẾ TOÁN
A. GIỚI THIỆU CHUNG VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI
Kiểm soát là một khái niệm trong mọi hoạt động, mọi ngành nghề trong cuộc sống. Vì vậy
không thể có một khái niệm Kiểm soát chính xác và chung nhất. Trong lĩnh vực kế toán cũng
như vậy, nhiều tổ chức cũng đưa ra nhiều quan điểm riêng của mình về Kiểm soát.
Trước những thực trạng về sự ứng xử riêng lẻ của việc áp dụng IAS 27 và SIC – 12, thêm
vào là sự xung đột khái niệm giữa IAS 27 và SIC – 12 đã dấn đến những ứng xử không phù hợp
của các khái niệm về Kiểm soát. Cụ thể, IAS 27 xác định quyền kiểm soát là quyền chi phối
chính sách tài chính và hoạt động nhằm thu được những lợi ích từ các đơn vị nhận đầu tư, trong
khi đó SIC – 12 lại giải thích bối cảnh của các đơn vị trong mục đích đặt biệt và đào sâu hơn về
rủi ro và lợi ích.
Bắt nguồn từ IAS 27 (2008), định nghĩa về khái niệm Kiểm soát như sau: “Quyền Kiểm soát
là khả năng chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của một đơn vị để đạt được những lợi
ích từ hoạt động của đơn vị”
Kiểm soát được cho là tồn tại khi công ty mẹ sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua công
ty con nhiều hơn một nửa số quyền biểu quyết của một công ty khác trừ khi trong một số trường
hợp ngoại lệ chứng minh được rằng quyền sở hữu không đồng nghĩa với với quyền kiểm soát.
Ngoài ra, quyền Kiểm soát cũng có thể tồn tại khi công ty mẹ sở hữu ít một nửa hoặc ít hơn một
nửa quyền biểu quyết kèm thêm các điều kiện sau:
a. Có những thoả thuận khác với các bên liên quan
b. Có thể chi phối những chính sách tài chính và hoạt động theo một quy chế hay thoả thuận
c. Có thể bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm phần lớn các thành viên HĐQT hoặc tương đương
d. Có thể bỏ đa số phiếu tại cuộc họp HĐQT hoặc tương đương.
Chính vì những lý do nêu trên, US GAAP và IFRS đã cùng nhau hợp tác nhằm cố gắng đưa
b. Thu nhập
Một nhà đầu tư có biểu hiện, hoặc có quyền làm thay đổi lợi nhuận từ sự tham gia của mình
đối với bên nhận đầu tư khi các khoản lợi nhuận của đơn vị đầu tư có tiềm năng thay đổi như là
một kết quả của hiệu suất đầu tư. Lợi nhuận của nhà đầu tư có thể là chỉ tích cực, chỉ tiêu cực
hay cả tích cực lẫn tiêu cực.
Mặc dù chỉ có một nhà đầu tư có thể kiểm soát đơn vị nhận đầu tư, nhưng lại có nhiều hơn
các đơn vị khác chia sẻ khoản lợi nhuận kiếm được.
c. Mối quan hệ giữa quyền lực và thu nhập
Một nhà đầu tư kiểm soát một đơn vị nhận đầu không chỉ vì nhà đầu tư có quyền lực hơn các
nhà đầu tư khác mà còn có biểu hiện hoặc quyền ảnh hưởng đối với sự thay đổi của lợi nhuận với
bên nhận đầu tư mà còn có khả năng dùng quyền lực của mình tác động đến lợi nhuận của bên
nhận đầu tư.
II. VỤ BÊ BỐI TÀI CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN HỢP NHẤT BÁO CÁO TÀI CHÍNH -
OLYMPUS
A. BỐI CẢNH
Trụ sở Tổng công ty Olympus đặt tại Tokyo, được thành lập vào năm 1919, sản xuất máy ảnh
kỹ thuật số và thiết bị điện tử, bao gồm cả các thiết bị hình ảnh y tế. Doanh thu cho năm tài chính
2011 là $ 10,6 tỷ USD. Cổ phiếu Olympus được giao dịch trên cả sàn chứng khoán Tokyo và
Mỹ.
Theo Reuters, giá trị thị trường của cổ phiếu công ty giảm 76% giữa ngày 14 Tháng 10 năm
2011 và ngày 09 tháng 11 năm 2011, làm mất hơn 6 tỷ USD của các cổ đông. Khi công ty sa thải
Giám đốc điều hành, Michael Woodford, hai tuần sau khi được bổ nhiệm đã kích hoạt sự suy
giảm trong giá cổ phiếu diễn ra vào ngày 14 Tháng Mười 2011.
Olympus là một trong những công ty giúp nền kinh tế Nhật Bản được hưởng sự thịnh vượng
to lớn trong những thập niên 1980. Chỉ số của sự thịnh vượng này - Nikkei 225 đã tăng từ dưới
6.000 vào tháng Giêng năm 1980 đến đỉnh điểm 38.915 vào cuối tháng 12 năm 1989, tăng 550%
trong hơn mười năm.
Những quan chức Olympus thừa nhận rằng đã giấu những khoản lỗ đầu tư chưa thực hiện từ
những năm 1990. Trong năm 2008, công ty đã sử dụng một loạt các vụ mua lại với giá cao hơn
thực tế để che giấu những tổn thất này. Lợi thế thương mại của các vụ mua lại sau đó được nhanh
các quỹ và tổ chức rất nhiều làm cho các nhà điều tra khó khăn để tìm ra các giao dịch và để hiểu
những gì đã xảy ra. Ví dụ như vốn vay bằng tiền và việc mua các công cụ tài chính của Olympus
thực sự là để che lấp các khoản lỗ chưa thực hiện tại giá trị sổ sách. Bên cạnh đó các quỹ này có
thể vay tiền từ các ngân hàng nước ngoài bởi vì Olympus đã đồng ý gửi tiền trong ngân hàng
hoặc gửi trái phiếu chính phủ có tính thanh khoản cao với các ngân hàng nhằm tạo điều kiện
thuận lợi.
Các quỹ The Central Forest Corp. (CFC) và Quick Progress Co (QP) là trung tâm của kế
hoạch. CFC và QP là các đơn vị mua chứng khoán Olympus với các khoản lỗ chưa thực hiện.
Trong một ví dụ, Olympus gửi trái phiếu Chính phủ Nhật Bản trong Ngân hàng LGT ở
Lichtenstein. Ngân hàng LGT sau đó cung cấp một hạn mức tín dụng và một khoản vay cho
CFC. Trong một ví dụ khác, Olympus đã thực hiện một khoản đầu tư lớn trong SG Bond, một
đối tác ở đảo Cayman. SG Bond và một đơn vị khác tham gia trong một chuỗi phức tạp các giao
dịch, chuyển tiền được cung cấp bởi Olympus từ một nơi đến một nơi khác nữa cho đến khi các
đơn vị nhiều lần ra khỏi Olympus xuất hiện để mua các tài sản có vấn đề giá trị sổ sách
Trong bước thứ hai "loss diposition scheme", Olympus chuyển tiền vào các quỹ không hợp
nhất, tạo điều kiện cho họ trả các khoản nợ của họ tại ngân hàng thuận lợi. Một khi các khoản
vay của quỹ không hợp nhất đã được giải quyết, Olympus đã không còn được yêu cầu để duy trì
tiền gửi tại các ngân hàng và tất cả các mối quan hệ với số lỗ chưa thực hiện đã bị cắt đứt. Tuy
nhiên, Olympus đã không giao dịch trực tiếp với các đơn vị phi hợp nhất. Thay vào đó, Olympus
đã tạo một trang web của đơn vị khác thực hiện nhiều giao dịch với các khoản tiền rất phức tạp
Hai đơn vị bị kiểm soát (Neo và Class Fund IT Ventures) mua cổ phần trong một số công ty
mục tiêu nhỏ. Olympus sau đó trả giá cao hơn để mua cổ phần của công ty mục tiêu từ các đơn vị
bị kiểm soát. Các đối tượng bị kiểm soát được sử dụng số tiền thu được từ các doanh thu bán
hàng để giải quyết khoản vay của CFC từ Ngân hàng LGT, do đó Olympus làm giảm khoản tiền
gửi phải duy trì tại Ngân hàng LGT. Để không bị lộ, Olympus hiếm khi mua cổ phần trực tiếp từ
hai đơn vị bị kiểm soát mà sẽ đầu tư vào các công ty mục tiêu. Thay vào đó, Olympus sắp xếp rất
nhiều các giao dịch giữa các đơn vị bị kiểm soát. Quá trình này tốn rất nhiều chi phí. Đại diện
bên thứ ba báo cáo rằng Olympus đã trả khoảng ¥ 73,2 tỷ yên cho các cổ phiếu mà giá thực tế
của nó chỉ có 700 triệu Yên.
Kiểm toán viên độc lập đã không cho phép Olympus mang lợi thế thương mại giao dịch ở
kinh tế tại các nước rất nhiều để thực hiện các giao dịch và chuyển đổi. Gian lận này rất khó để
làm sáng tỏ.
Tháng 1-2012, quan chức Sở Giao dịch chứng khoán (GDCK) Tokyo cho biết Olympus phải
chịu phạt vì vụ gian lận kế toán nhưng chưa đến mức bị hủy niêm yết trên sàn. Tuy nhiên,
Olympus gần như bị đặt trong tình cảnh hưởng án treo vì Sở GDCK cho biết sẽ theo dõi chặt chẽ
diễn biến liên quan và có hành động thích hợp.
Sai trái của Olympus làm hoen ố bộ mặt giới doanh nghiệp Nhật Bản, đến mức Thủ tướng Nhật
Bản Yoshihiko Noda phải lên tiếng cải chính: “Đây chỉ là bê bối của một công ty. Xã hội Nhật
Bản không như thế. Không nên đánh giá Nhật Bản qua những hành vi của một công ty”.
D. HẬU QUẢ CỦA CÁC NHÀ QUẢN LÝ
Ngày 16 tháng hai năm 2012, bảy người đã bị bắt giữ vì đã tham gia trong vụ bê bối này, bao
gồm cả Tsuyoshi Kikukawa - Chủ tịch công ty cho đến khi vụ bê bối đã phá vỡ, và hai cựu giám
đốc. Ba người này đã bị bắt giữ vì tình nghi làm sai lệch báo cáo tài chính. Bốn người bị bắt còn
lại là những nhân viên ngân hàng và các cộng sự của họ, bị cáo buộc gian lận chứng khoán. Nếu
bị kết tội, những người này có thể đối mặt với 10 năm tù giam.
E. ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI KIỂM TOÁN VIÊN
ShinNihon Ernst & Young (E & Y) đã trở thành kiểm toán viên độc lập của Olympus trong
năm 2010, thay thế Azsa KPMG (KPMG). E & Y dựa trên báo cáo kiểm toán không đủ tiêu
chuẩn do KPMG cho năm 2008 và 2009. Cả hai công ty kiểm toán từ chối bất kỳ những cáo
buộc làm sai trái. Ủy ban của bên thứ ba không buộc tội KPMG hoặc E & Y là đồng lõa trong
việc gian lận, họ tin rằng các kiểm toán viên cần phải làm nhiều hơn.
Kiểm toán viên nên thực sự mang lại lợi ích cho công ty, phải thường xuyên duy trì thái độ
hoài nghi để tìm ra sự thật của các giao dịch và thực hiện nhiệm vụ của mình từ một vị trí công
bằng.
III. ẢNH HƯỞNG CỦA KHÁI NIỆM KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI VIỆC LẬP VÀ TRÌNH
BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
A. QUY ĐỊNH RÕ RÀNG HƠN VỀ VẤN ĐỀ QUYỀN KIỂM SOÁT KHI TỶ
LỆ QUYỀN BIỂU QUYẾT NHỎ HƠN HOẶC BẰNG 50%
IFRS 10 cung cấp hướng dẫn rõ ràng về khả năng kiểm soát đơn vị nhận đầu tư khi mà nhà
đầu tư nắm giữ quyền biểu quyết nhỏ hơn hoặc bằng 50%. Theo IFRS 10, Quyền kiểm soát còn
- Xác lập các phương pháp kế toán để lập nên BCTC hợp nhất.
Chuẩn mực này nói rằng công ty mẹ không cần phải hợp nhất nếu đáp ứng các điều kiện
dưới đây:
- Là công ty con bị sở hữu hoàn toàn hoặc công ty con bị sở hữu một phần bởi một thực
thể khác và các chủ sở hữu khác của nó, bao gồm cả những bên không có quyền bỏ
phiếu, đã được thông báo về, và không phản đối, công ty mẹ không trình bày BCTC hợp
nhất
- Các công cụ nợ hoặc công cụ vốn không được giao dịch trên thị trường đại chúng(thị
trường chứng khoán trong nước hoặc nước ngoài hoặc thị trường phi tập trung OTC, bao
gồm cả các thị trường địa phương và khu vực).
- Công ty chưa nộp hoặc đang trong quá trình hoàn tất nộp BCTC lên ủy ban chứng khoán
hoặc tổ chức được quy định khác để phát hành các công cụ trên thị trường đại chúng.
- Công ty mẹ cuối cùng hoặc công ty mẹ trung cấp của tập đoàn lập BCTC hợp nhất thích
hợp tuân thủ theo IFRSs.
Sự thay đổi trong sở hữu của công ty mẹ - trường hợp chưa mất quyền kiểm soát:
Sự thay đổi trong sở hữu của công ty mẹ không phải là kết quả từ việc mất quyền kiểm soát
đến từ các giao dịch ảnh hưởng đến vốn chủ sở hữu. Nó bao gồm trường hợp khi công ty mẹ mua
thêm cổ phiếu sau khi có được quyền kiểm soát, hoặc là khi công ty mẹ bán một phần đầu tư
trong công ty con mà không làm mất quyền kiểm soát.
Nếu công ty mẹ mua thêm cổ phần của công ty con, nó được giải thích như là giao dịch với chủ
sở hữu ( về mặt khái niệm nó giống như trường hợp nhận thêm cổ phần).
Tương tự, nếu công ty mẹ thanh toán một phần đầu tư trong công ty con nhưng vẫn giữ lại
quyền kiểm soát, điều này giải thích như là giao dịch vốn chủ sở hữu, và không có bất kì khoản
lãi và lỗ nào được ghi nhận.
Trong các trường hợp trên, giá trị ghi sổ của lợi ích các bên kiểm soát và không kiểm soát được
điều chỉnh để phản ánh sự thay đổi trong tỷ lệ tương ứng trong công ty con. Nếu có sự khác biệt
giữa các khoản mà lợi ích cổ đông không kiểm soát được điều chỉnh với giá trị hợp lý nhận
được, sự khác biệt này được ghi nhận trực tiếp và phân bổ cho chủ sở hữu công ty mẹ.
Trường hợp mất quyền kiểm soát:
Mất quyền kiểm soát thường xảy ra khi công ty mẹ thanh lý một phần đầu tư trong công ty
các giao dịch nội bộ của tập
đoàn; Trong BCTC của công ty
mẹ khi báo cáo này được lập và
công bố cùng với báo cáo tài
chính hợp nhất; Trong báo cáo
tài chính của công ty con do
công ty mẹ sở hữu toàn bộ nếu
công ty mẹ cũng được thành lập
tại cùng một quốc gia và công
bố báo cáo tài chính hợp nhất
tại quốc gia đó; Và trong báo
cáo tài chính của công ty do
Nhà nước quản lý, không cần
trình bày các giao dịch với một
công ty do nhà nước quản lý
khác.
IFRS 3 và VAS 11 - Hợp nhất kinh doanh
Không bao gồm các trường
hợp hợp nhất kinh doanh theo
hợp đồng và hợp nhất các
doanh nghiệp tương hỗ
Chi phí giao dịch được vốn
hoá thành một phần của chi phí
Lợi thế thương mại không được
phân bổ và phải được soát xét
hằng năm về việc suy giảm giá
trị. Ngược lại, lợi thế thương
mại được phân bổ trong thời
gian sử dụng hữu ích ước tính
không quá 10 năm sau ngày
nhất nếu công ty mẹ đó là một
công ty con thuộc sở hữu
100% hoặc gần 100%, với điều
kiện là trong trường hợp công
ty thuộc sở hữu gần 100%,
công ty mẹ được sự chấp nhận
của các chủ sở hữu phần vốn
góp thiểu số. Cần phải đáp ứng
nhiều điều kiện hơn theo IAS
27 trước khi việc miễn soạn
Các khoản đầu tư vào công ty
con trong báo cáo tài chính
riêng của công ty mẹ có thể
được ghi sổ theo giá gốc hoặc
ghi nhận là tài sản tài chính theo
quy định tại IAS 39.
Khi doanh nghiệp mất quyền
kiểm soát một công ty con, IAS
27 yêu cầu doanh nghiệp huỷ
ghi nhận các tài sản và nợ phải
trả và các phần vốn góp chủ sở
hữu có liên quan của công ty
con cũ. Bất kỳ khoản lãi lỗ đều
được ghi nhận trong lãi lỗ. Bất
kỳ khoản đầu tư nào được giữ
lại trong công ty con cũ đều
lập được cho phép
Không có hướng dẫn cụ thể.
Tuy nhiên, không được phép
ghi nhận giá trị hợp lý của
2. Giáo trình Kiểm soát nội bộ - ĐH Kinh tế TP HCM
3. Website ifrs.org
4. Website coso.org