PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển, bước đầu hội nhập sâu vào nền kinh
tế thế giới và các tổ chức kinh tế khu vực. Đây là cơ hội và cũng là thách thức vì
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải tự khẳng định được vị trí, chỗ đứng vững
chắc của mình trên nền kinh tế thị trường.
Như ta đã biết, chỉ khi nào chi phí sản xuất được quản lý tốt thì doanh nghiệp mới
có thể kiểm soát tốt được giá thành sản phẩm, để từ đó nâng cao được khả năng cạnh
tranh của mình so với đối thủ cùng ngành cũng như gia tăng lợi nhuận. Để có thể thực
hiện được điều này thì việc thiết lập một hệ thống KSNB chặt chẽ, hiệu quả là một
trong những vấn đề cấp thiết đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là hệ thống KSNB về
chi phí. Công tác kiểm soát về chi phí thường xuyên, chặt chẽ, khoa học sẽ giúp cho
các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nó là công cụ hữu hiệu để
điều chỉnh các hoạt động của doanh nghiệp, cung cấp những thông tin hữu ích cho nhà
quản lý đánh giá được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết
định quản lý đúng đắn nhằm đảm bảo và tăng cường hiệu quả hoạt động, đảm bảo và
tăng cường độ tin cậy của các báo cáo tài chính, cũng như sự tuân thủ luật pháp.
Nhận thức được tầm quan trọng này, và với kiến thức học được kết hợp với thời
gian thực tập tại Công ty TNHH Bia Huế, em xin chọn đề tài “Một số góp ý nhằm
hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Bia Huế”.
Ngoài ra qua tìm hiểu em thấy đây là đề tài có tính thực tiễn rất cao vì qua đó có thể
giúp doanh nghiệp đánh giá lại công tác quản lí để nâng cao hiệu quả trong quản lí chi
phí trong thời gian tới. Tuy nhiên có ít nghiên cứu về kiểm soát nội bộ chi phí sản xuất
ở trường Đại học Kinh tế Huế, và những đề tài này chưa đi sâu nghiên cứu vào kiểm
soát chi phí trong doanh nghiệp sản xuất như công ty TNHH Bia Huế. Đó cũng là lý
do để em chọn đề tài này cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
1
2. Mục đích nghiên cứu của Đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm ba mục đích:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận căn bản về hệ thống kiểm soát nội
bộ trong doanh nghiệp.
BỘ TẠI DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1. Khái niệm
Hiện nay, trên thế giới đang chấp nhận rộng rãi định nghĩa về hệ thống kiểm
soát nội bộ theo COSO (Committee of Sponsoring organization) thuộc Hội đồng quốc
gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính đưa ra vào năm 1992, đó là:
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân
viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm
thực hiện ba mục tiêu dưới đây:
- Báo cáo tài chính đáng tin cậy
- Các luật lệ và quy định được tuân thủ
- Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả”
Ở Việt Nam, theo quyết định 36/2006/QĐ-NHNN ban hành ngày 01/08/2006 có
đưa ra khái niệm về hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ như sau: “ Hệ thống kiểm tra,
kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu
tổ chức của tổ chức tín dụng được thiết lập trên cơ sở phù hợp với quy định pháp luật
hiện hành và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp
thời các rủi ro và đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra”.
Một điểm khác biệt trong định nghĩa về kiểm soát nội bộ của Việt Nam với định
nghĩa của COSO đó là sự nhấn mạnh thêm về mục tiêu ngăn ngừa và phát hiện gian
lận và sai sót. Tuy vậy, nhìn chung hệ thống kiểm soát nội bộ được định là một hệ
thống gồm các chính sách, tiêu chuẩn, thủ tục được thiết lập tại đơn vị nhằm cung cấp
một sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
4
1.1.2. Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ (Ths. Đoàn Văn Hoạt 2004)
Theo COSO 1992 thì việc xác định đúng đắn các thành tố của hệ thống kiểm
soát nội bộ là rất quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng kiểm soát. Tùy thuộc
vào loại hình hoạt động, mục tiêu và quy mô của công ty mà hệ thống kiểm soát nội bộ
được thiết kế khác nhau. Tuy nhiên, theo COSO 1992 một hệ thống kiểm soát nội bộ
gồm năm thành phần cơ bản đó là: (1) môi trường kiểm soát, (2) đánh giá rủi ro, (3)
+ Nhận dạng rủi ro
+ Phân tích và đánh giá rủi ro
Hoạt động Các chính sách và thủ tục để bảo + Phân chia trách nhiệm đầy đủ
5
kiểm soát
đảm những chỉ thị của nhà quản
lí được thực hiện và có các hành
động cần thiết đối với rủi ro
nhằm thực hiện các mục tiêu của
đơn vị
+ Kiểm soát quá trình xử lí thông tin
+ Kiểm soát vật chất
+ Kiểm tra độc lập việc thực hiện
+ Phân tích soát xét việc thực hiện
Thông tin
và truyền
thông
Hệ thống này đươc thiết lập để
mọi thành viên trong đơn vị có
khả năng nắm bắt và trao đổi
thông tin cần thiết cho việc điều
hành, quản trị và kiểm soát thông
tin.
+ Hệ thống thông tin bao gồm cả hệ
thống kế toán phải bảo đảm chất
lượng thông tin.
+ Hệ thống truyền thông: phải đảm
bảo các kênh thông tin bên trong và
bên ngoài hoạt động hữu hiệu
Giám sát
tiếp cho cơ quan kiểm toán cấp trên hay lãnh đạo cao cấp của đơn vị.
- Doanh nghiệp có các văn bản quy định chung cũng như những hướng dẫn cho
hoạt động quản lý chung và các nghiệp vụ cụ thể. Ví dụ: như quy định về xuất kho,
nhập kho, vận chuyển nội bộ…
- Doanh nghiệp có hệ thống văn bản thống nhất quy định việc tuyển dụng, đào
tạo, đánh giá nhân viên, đề bạt, tăng lương hay phụ cấp nhằm khuyến khích mọi người
nỗ lực làm việc.
- Doanh nghiệp đã thiết lập “Bảng mô tả công việc” cho nhân viên trong đơn vị.
- Doanh nghiệp đã áp dụng những quy tắc, những tiêu chuẩn, hay công cụ kiểm
tra thích hợp với các chuẩn mực thông dụng đã được chấp nhận trong loại hình hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình đảm bảo kết quả kiểm toán không bị méo mó, sai
lệch do sử dụng các công cụ chuẩn mực kiểm toán không phù hợp.
- Doanh nghiệp không đặt ra các chuẩn mực, tiêu chí phi thực tế hoặc những
danh sách ưu tiên, ưu đãi, lương, thưởng bất hợp lý.
7
- Doanh nghiệp thường xuyên luân chuyển nhân sự, đặc biệt là những vị trí nhạy
cảm. Quan tâm, nhắc nhở, bảo vệ quyền lợi của những người làm việc trong các khu
vực có vị trí độc hại, nặng nhọc theo quy định.
1.1.3.2 Đánh giá rủi ro
Việc đánh giá rủi ro được coi là có chất lượng nếu:
- Ban lãnh đạo đã quan tâm, khuyến khích nhân viên quan tâm phát hiện, đánh
giá và phân tích tác hại của các rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn.
- Doanh nghiệp có đề ra các biện pháp,kế hoạch, quy trình hành động cụ thể
nhằm giảm thiểu tác hịa rủi ro đến một giới hạn chấp nhận nào đó hoặc danh nghiệp đã
có biện pháp để tất cả nhân viên có nhận thức rõ ràng về tác hại của các rủi ro cũng
như giới hạn rủi ro tối thiểu mà đơn vị có thể chấp nhận được.
- Doanh nghiệp đã đề ra các mục tiêu tổng thể cũng như chi tiết để mọi nhân viên
có thể lấy đó làm cơ sở tham chiếu khi triển khai công việc.
1.1.3.3. Hoạt động kiểm soát
- Doanh nghiệp có tập hợp và thông báo kết quả sản xuất đều đặn và đối chiếu kết
tiêu kế hoạch đã định. Khi phát hiện ra các sai lệch, doanh nghiệp đã triển khai các
biện pháp điều chỉnh thích hợp.
- Công việc kiểm toán nội bộ được thực hiện bởi người có kinh nghiệm và
chuyên môn thích hợp và người này có quyền báo cáo trực tiếp cho cấp phụ trách cao
hơn hoặc cho ban lãnh đạo.
- Những khiếm khuyết của hệ thống kiếm soát nội bộ được phát hiện bởi kiểm
toán viên nội bộ hay độc lập đều được báo cáo kịp thời và trực tiếp với cấp phụ trách
cao hơn, kể cả ban lãnh đạo để điều chỉnh đúng lúc.
- Doanh nghiệp yêu cầu các cấp quản lý trung gian báo cáo ngay với lãnh đạo về
mọi trường hợp gian lận, nghi ngờ gian lận, về các vi phạm nội quy, quy định của
9
doanh nghiệp hay luật pháp có khả năng làm giảm uy tín của doanh nghiệp và gây
thiệt hại kinh tế đối với công ty.
Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đủ năm thành phần và tất cả các
nội dung nêu trên được đảm bảo thì hệ thống này được đánh giá tốt và sẽ mang lại lợi
ích quản lý và kinh tế to lớn cho doanh nghiệp.
1.2. CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.2.1. Những vấn đề cơ bản trong hoạt động kiểm soát chi phí sản xuất
1.2.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất là những biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá cần thiết để sản xuất sản phẩm mà doanh nghiệp phải
chi ra trong một kỳ nhất định (tháng, quý, năm)
Chi phí sản xuất được xác định trên cơ sở khối lượng sản phẩm, hệ thống định
mức, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và các chế độ chính sách của doanh nghiệp phù hợp với
những yếu tố khách quan của thị trường trong từng kỳ.
1.2.1.2. Phân loại chi phí
• Phân loại theo công dụng của chi phí
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Là giá trị các loại nguyên liệu, vật liệu
chính, vật liệu phụ…tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực
đã đặt ra trước đó. Thông qua đó có thể xác định được các nhân tố ảnh hưởng, khả
năng tiềm tàng, các nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến sự tăng, giảm chi
phí. Từ đó đề ra những biện pháp khắc phục những tồn tại, xây dựng các phương án
hoạt động mới, khai thác các khả năng tiềm tàng, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho những kỳ sau.
11
1.2.2.2. Vai trò của kiểm soát chi phí đối với người quản lý
Kiểm soát chi phí nó mang tính liên tục và đều đặn. Trong công việc quản lý,
điều quan trọng không phải là nhà quản lý xác định được đâu là chi phí biến đổi, chi
phí cố định mà điều quan trọng là nhà quản lý phải nhận diện được đâu là chi phí kiểm
soát được để đề ra biện pháp kiểm soát chi phí thích hợp. Nên bỏ qua những chi phí
không thuộc phạm vi kiểm soát của mình nếu không việc kiểm soát chi phí sẽ không
mang lại hiệu quả làm tốn kém thời gian và công sức bỏ ra .
1.2.2. Nội dung công tác kiểm soát chi phí sản xuất:
1.2.2.1. Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
1.2.2.1.1. Kiểm soát vật chất
a. Kiểm soát chu trình mua nguyên vật liệu
Quá trình mua nguyên vật liệu nói riêng và mua hàng nói chung là tập hợp các
quyết định và các quy trình cần thiết cho sự tiếp nhận quyền sở hữu hàng hoá và dịch
vụ từ nhà cung cấp. Quá trình này thường bắt đầu bằng một đơn đặt hàng của doanh
nghiệp đến nhà cung cấp và chấm dứt bằng sự chuyển đổi hàng thành một khoản phải
trả hoặc việc chi tiền thanh toán cho nhà cung cấp.
•
Phân chia trách nhiệm
Bao gồm việc áp dụng nguyên tắc phân công phân nhiệm và bất kiêm nhiệm
nhằm ngăn chặn sự gian lận. Chẳng hạn, nếu bố trí một người thực hiện cả hai chức
năng mua hàng và nhận hàng có thể dẫn đến tình trạng mua hàng kém chất lượng.
Hoặc nếu một người kiêm nhiệm cả hai chức năng nhận hàng và thủ kho có thể dẫn
đến tình trạng nhận hàng khống.
12
hàng, phòng kế toán, phòng đề nghị mua hàng để giúp kiểm tra nhận hàng và đề nghị
thanh toán sau đó.
•
Kiểm soát công tác mua nguyên vật liệu của nhân viên mua hàng
−
Nhân viên mua hàng phải kiểm tra nội dung của cả 3 liên hoá đơn
GTGT để đảm bảo chúng có cùng nội dung, đặc biệt là số tiền ghi trên đó và phải ký
cùng lúc 3 liên
nhằm tránh gian lận của người bán để trốn thuế.
−
Doanh nghiệp nên hoán đổi vị trí các nhân viên mua hàng để tránh
tình trạng một người có thể có mối quan hệ với một số nhà cung cấp nhất định trong
một thời gian dài để nảy sinh sự thông đồng.
−
Nên áp dụng hình thức thu thập thông tin từ các phòng đề nghị mua
hàng về công tác thu mua của bộ phận thu mua.
b. Kiểm soát nhập kho nguyên vật liệu
−
Khi nhận hàng, bộ phận nhận hàng phải kiểm tra về mẫu mã, chất lượng,
thời gian hàng đến và các điều kiện khác để lập báo cáo nhận hàng.
−
Phân công nhân viên tiếp nhận độc lập với kho và phòng kế toán.
−
Hàng phải được kiểm soát chặt chẽ từ khi nhận hàng cho đến lúc chuyển
vào kho.
14
−
Báo cáo nhận hàng (hoặc Phiếu nhập kho) là bằng chứng về việc nhận hàng
và kiểm tra hàng, và dùng để theo dõi thanh toán. Báo cáo này thường sẽ được gửi cho
bộ phận mua hàng, bộ phận kho và kế toán nợ phải trả. Nếu bộ phận nhận hàng được
lượng và giá trị. Nhờ đó, đơn vị sẽ kiểm soát được lượng hàng trong kho, bảo đảm
thống nhất giữa tổng hợp và chi tiết vào cuối kỳ, số liệu kiểm kê sẽ được đối chiếu với
sổ sách để phát hiện các trường hợp nhầm lẫn, thất thoát hàng tồn kho.
Trong các đơn vị sử dụng phương pháp kiểm kê định kỳ, kiểm soát nội bộ thường
được kiểm toán viên đánh giá là không hữu hiệu vì bộ phận kế toán không thực hiện
được chức năng kiểm tra đối chiếu của mình đối với vật tư.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, để kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì cần phải tổ
chức công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm, gọi chung là hệ thống kế
toán chi phí. Một hệ thống kế toán chi phí hữu hiệu sẽ là cơ sở bảo đảm sự đúng đắn
của các số liệu về sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho và báo cáo tài chính của
doanh nghiệp sản xuất, thông qua việc:
16
−
Thu thập thông tin đầy đủ về các chi phí phát sinh và đối tượng gánh chịu chi
phí.
−
Áp dụng đúng đắn các phương pháp kế toán, bao gồm việc phân bổ chi phí cho
các sản phẩm trong các giai đoạn khác nhau (sản phẩm dở dang, thành phẩm).
−
Phát hiện các sai sót trong quá trình ghi chép thông qua việc đối chiếu giữa số
liệu về giá thành thực tế với giá thành định mức và giá thành kỳ trước.
Để tổ chức hệ thống kế toán chi phí, đơn vị cần hoàn thiện hệ thống thông tin kế
toán trong chu trình sản xuất. Bên cạnh việc bảo đảm nhân viên kế toán có đủ năng
lực, một vấn đề quan trọng là tổ chức các chứng từ và sổ sách thích hợp, bao gồm:
−
Báo cáo sản xuất và báo cáo sản phẩm hỏng: Là chứng từ ban đầu phản ánh sự
vận động của nguyên vật liệu trong sản xuất. Đây cũng là cơ sở giúp xác định chi phí
phát sinh qua từng giai đoạn của quy trình sản xuất.
−
Chứng từ chi phí: Bao gồm các chứng từ ghi nhận về sự phát sinh của chi phí
−
Thường xuyên đối chiếu giữa bảng chấm công của người
quản lý bộ phận và kết quả của máy ghi giờ; hoặc giữa báo cáo sản lượng hoàn thành
với phiếu nhập kho.
Các bảng chấm công hay báo cáo sản phẩm hoàn thành phải được gửi sang cho
bộ phận tính lương.
c. Chức năng tính lương
Bộ phận tính lương phải bảo đảm rằng:
−
Nếu không có hồ sơ do bộ phận nhân sự gửi qua, bộ phận tính lương tuyệt
đối không được ghi tên của bất kỳ người nào vào bảng lương.
19
−
Chỉ khi nào đã nhận được văn bản chính thức của bộ phận nhân sự, bộ phận
tính lương mới có quyền điều chỉnh trên bảng lương về các trường hợp tăng giảm
lương, xoá tên
d. Chức năng phát lương
Chức năng này phải được thực hiện do một người độc lâp với các bộ phận nhân
sự, theo dõi lao động và tính lương. Nhân viên này sẽ căn cứ vào bảng lương để phát
lương cho từng nhân viên. Hiện nay, hầu hết các công ty sử dụng dịch vụ của Ngân
hàng phát lương cho nhân viên. Đơn vị mở các tài khoản cá nhân cho nhân viên ở
ngân hàng và tiền lương sẽ được chuyển khoản trực tiếp vào các tài khoản này.
1.2.2.2.2. Kiểm soát quá trình ghi chép
Sổ kế toán chi tiết: mở cho các tài khoản 334, 335, 338. Sổ này mở cho từng tài
khoản, mỗi tài khoản có thể mở một hoặc một số trang tuỳ theo đặc điểm của đơn vị
Bảng thanh toán tiền lương, thưởng. Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích
theo lương. Các chứng từ này phải được lập đầy đủ nội dung, các chỉ tiêu theo mẫu
quy định. Người lập chứng từ phải chịu trách nhiệm về tính chính xác thông số ghi
chép trên chứng từ. Mọi chứng từ kế toán phải được luân chuyển theo trình tự và thời
gian do đơn vị quy định.
vào chi phí của niên độ.
−
Xây dựng chế độ kiểm kê định kỳ TSCĐ như thiết kế và áp dụng các biện
pháp bảo vệ tài sản, chống trộm cắp, hoả hoạn, mua bảo hiểm đầy đủ cho tài sản.
−
Xây dựng các quy định về tính khấu hao
−
Kiểm soát tính phù hợp của công việc phân bổ chi phí khấu hao vào giá
thành.
−
Xây dựng các kế hoạch, dự toán định mức chi phí khấu hao cho từng đối
tượng.
22
−
Phân chia trách nhiệm giữa các chức năng: Bảo quản tài sản, phê chuẩn và
ghi sổ việc mua, thanh lý nhượng TSCĐ.
d. Kiểm soát chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền
Chi phí này bao gồm các khoản chi phí sửa chữa TSCĐ, thuế thu nhập, thuế đất,
tiền ăn giữa ca; chi phí điện nước, điện thoại; chi phí bảo hộ an toàn lao động; chi phí
phòng cháy, phòng chống báo lụt Các khoản chi này rất cần thiết và chiếm tỷ trọng
khá lớn trong chi phí sản xuất nên công tác kiểm soát chi phí này cần được tăng cường
thường xuyên. Khi kiểm soát chi phí này cần:
−
Kiểm soát tính hợp lý, hợp lệ của các thủ tục chứng từ (phương án sửa
chữa, biên bản sự cố, phiếu xuất kho ) liên quan dến các khoản chi phí xử lý sự cố,
sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn, các khoản dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng
tiền khác (chi phí tiếp khách, điện, nước, điện thoại )
−
Kiểm soát các khoản chi phí bằng kế hoạch, dự toán, định mức.
−
20 năm qua, nhờ có cách làm hiệu quả, Cty Bia Huế (Huda) đã có bước phát triển
mạnh mẽ không ngừng.
Từ công suất ban đầu là 3 triệu lít/năm, đến năm 2003 công suất đưa lên 50 triệu
lít/năm, năm 2007 công suất đã lên đến gần 110 triệu lít/năm. Tháng 9/2006, Công ty
tiến hành xây dựng một nhà máy bia tại Khu công nghiệp Phú Bài giai đoạn 1 với
công suất 80 triệu lít/năm. Ngày 29/4/2008, nhà máy mày chính thức được khánh
thành và những mẻ bia đầu tiên. Tuy nhiên chỉ trong một thời gian ngắn, tình trạng
cung không đủ cầu lại tiếp tục diễn ra. Trước sức ép của thị trường, Công ty lại một
lần nữa phải đầu tư xây dựng để mở rộng sản xuất. Sau 12 tháng thiết kế, xây dựng,
25