Phần I: Lời mở đầu
Thực hiện nghị quyết Đại hội VI, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền
kinh tế Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. Với đờng lối phát triển kinh tế mới đã khơi dậy tiềm năng,
huy động mọi nguồn lực của các tầng lớp dân c để phục vụ sản xuất kinh doanh nhằm
thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế Việt Nam.
Là một ngành có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế, hệ thống ngân hàng
Việt Nam từ sau năm 1988 đến nay đã có nhiều bớc tiến đổi mới sâu sắc: từ hệ thống
ngân hàng một cấp chuyển thành hệ thống ngân hàng hai cấp, tách riêng chức năng quản
lý nhà nớc (Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam) và chức năng kinh doanh (Hệ thống các Ngân
hàng thơng mại), đa dạng hoá về loại hình, sở hữu, từng bứơc hiện đại hoá các khâu
nghiệp vụ, mở rộng các loại hình dịch vụ và thực sự đi vào hoạt động kinh doanh tiền tệ.
Hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu to lớn góp
phần tích cực trong việc đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả, thúc đẩy tăng trởng nền kinh tế,
qua đó làm tăng vị thế của Việt Nam trên trờng Quốc tế. Điều này đã đợc Đảng - Chính
phủ đánh giá cao. Cùng với công cuộc đổi mới của nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nớc Việt
Nam nói chung, hệ thống các ngân hàng thơng mại nói riêng đã không ngừng cải tiến ph-
ơng thức hoạt động nhằm thu hút nguồn vốn trong các tầng lớp dân c để cung ứng vốn
cho nền kinh tế và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ nhằm phục vụ sự nghiệp đổi mới
của nền kinh tế.
Qua thời gian nghiên cứu học tập tại trờng cùng với việc thu thập thông tin trên các
phơng tiện thông tin đại chúng, em chọn đề tài Thực trạng và giải pháp mở rộng và phát
triển thanh toán không dùng tiền mặt tại các NHTM làm đề án môn học . Vì thời gian có
hạn và khả năng trình độ còn hạn chế, đề tài không tránh khỏi khiếm khuyết, em rất mong
nhận đợc sự đóng góp của các thày, cô giáo và các bạn đọc quan tâm để đề tài hoàn thiện
hơn.
Kết cấu của đề tài gồm :
Phần I: Lời mở đầu
Phần II: Nội dung của đề tài gồm 3 chơng:
2.1 . Chức năng trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trng và cơ bản nhất của Ngân hàng thơng mại, nó có ý
nghĩa đặc biệt trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực hiện chức năng này, một
mặt Ngân hàng thơng mại huy động và tập trung nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi
của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt khác, trên cơ
sở nguồn vốn đã huy động đợc, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất
kinh doanh, tiêu dùng của các chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục
của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Nh vậy Ngân hàng thơng
2
mại vừa là ngời đi vay, vừa là ngời cho vay, hay nói chách khác, nghiệp vụ tín dụng của
Ngân hàng thơng mại là đi vay để cho vay.
Vốn sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế vận động liên tục và
biểu hiện các hình thái khác nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất. Trong quá
trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp
phải đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn: Dự trữ - sản xuất - lu thông, từ đó sẽ tạo ra hiện
tợng thừa thiếu vốn tạm thời của các doanh nghiệp tại một thời điểm. Ngân hàng thơng
mại với vai trò là trung gian tín dụng sẽ đứng ra tập trung và phân phối vốn tiền tệ, điều
hoà cung và cầu vốn cho các doanh nghiệp của nền kinh tế, tạo điều kiện cho sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp không bị gián đoạn.
Chức năng trung gian tín dụng của các Ngân hàng thơng mại đợc hình thành từ rất
sớm, ngay từ lúc hình thành các Ngân hàng thơng mại. Ngày nay thông qua chức năng
trung gian tín dụng, Ngân hàng thơng mại đã và đang thực hiện chức năng xã hội của
mình, làm cho sản phẩm xã hội đợc tăng lên, vốn đầu t mở rộng và từ đó góp phần thúc
đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân.
2.2 . Chức năng làm trung gian thanh toán
Chức năng này là sự kế thừa và phát triển chức năng ngân hàng làm thủ quỹ của
doanh nghiệp, tức là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi tiền theo lệnh
của chủ tài khoản. Một trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng có nguồn gốc từ
xa xa đó là hoạt động thanh toán hộ cho khách hàng của mình.
Còn trong Ngân hàng thơng mại, chức năng trung gian thanh toán gắn bó chặt
tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt.
Quá trình tạo tiền của Ngân hàng thơng mại đợc thực hiện thông qua hoạt động
tín dụng và thanh toán trong hệ thống ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với Ngân
hàng trung ơng. Bút tệ của các Ngân hàng thơng mại tạo ra đó chính là khả năng biến
mức tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn
hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán qua nhiều ngân
hàng.
3. Ngân hàng thơng mại và thanh toán không dùng tiền mặt
Ngân hàng thơng mại là ngân hàng kinh doanh tiền tệ nhằm mục tiêu cơ bản là
lợi nhuận, vì vậy nên màng lới các ngân hàng hình thành rộng khắp để thoả mãn nhu
cầu tiền tệ tín dụng và thanh toán của nền kinh tế hàng hoá phát triển rộng khắp quốc
gia và vơn ra quốc tế.
Nhìn lại lịch sử hình thành ban đầu của ngân hàng, chúng ta thấy dịch vụ đầu tiên
mà ngân hàng cung cấp là quản lý vốn cho khách hàng, bên cạnh đó ngân hàng còn đảm
bảo thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn thuận tiện cho khách hàng, do vậy tạo đợc
sự tín nhiệm cho khách hàng, và ngân hàng đã thu hút đợc nguồn vốn quan trọng nhất cho
hoạt đông của mình. Ngân hàng là trung tâm thanh toán cho khách hàng làm cho quá
trình lu thông hàng hoá đợc tiến hành một cách có hiệu quả. Nền kinh tế ngày càng
phát triển thì tần số giao dịch ngày càng tăng nhanh và khối lợng tiền tệ ngày càng lớn,
hoạt động kinh tế đã mở rộng ra phạm vi quốc tế. Trong điều kiện đó các doanh nghiệp
4
không thể thanh toán trực tiếp cho nhau đợc, mà cần phải có sự tham gia của các ngân
hàng trong nớc và quốc tế. Chính vì vậy, ngân hàng trở thành trung gian thanh toán của
nền kinh tế. Bởi lẽ, nếu không có sự tham gia của ngân hàng vào thanh toán thì hoạt động
trao đổi lu thông hàng hoá sẽ bị ách tắc, chậm chạp, ảnh hởng đến sự phát triển của nền
kinh tế.
Với sự ra đời của ngân hàng, những chi trả về hàng hoá và dịch vụ cuả xã hội đợc
thực hiện qua ngân hàng với nhiều hình thức thanh toán đơn giản, thích hợp và kỹ thuật
ngày càng tiên tiến. Ngân hàng nhận làm thủ qũy cho doanh nghiệp, làm trung gian
thanh toán hộ các khoản giao dịch theo yêu cầu của hai bên mua - bán, với chức năng
ờng phát triển nó chiếm vị thế và vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác thanh toán
II- Thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị tr ờng
1. Những vấn đề cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt :
1.1. Bản chất của thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt là chỉ các nghiệp vụ chi trả tiền hàng, dịch vụ và
các khoản khác trong nền kinh tế quốc dân đợc thực hiện bằng cách trích chuyển tài khoản
trong hệ thống tín dụng hoặc bù trừ công nợ mà không sử dụng tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện từ lâu trong trong lịch sử loài ngời. Tuy
nhiên, nó chỉ thực sự đợc phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trờng. Ngày nay,
thanh toán không dùng tiền mặt đợc áp dụng rộng khắp trong lĩnh vực tài chính, đối nội
cũng nh đối ngoại, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chu chuyển tiền tệ và đợc coi là cách
thức thanh toán có hiệu quả nhất.
Xét về mặt bản chất, thanh toán không dùng tiền mặt phản ánh sự vận động của
vật t hàng hoá, dịch vụ lu thông. Sự phát triển rộng khắp của thanh toán không dùng tiền
mặt trong nền kinh tế thị trờng hiện đại là yêu cầu tất yếu của sự phát triển vợt bậc của
nền kinh tế hàng hoá. Do đó nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, khối lợng hàng hoá
dịch vụ trao đổi trong nớc cũng nh nớc ngoài tăng nhanh, tất yếu phải có cách thức trả
tiền thuận tiện, an toàn và tiết kiệm.
Mặt khác, thanh toán không dùng tiền mặt còn gắn với sự phát triển của hệ thống tài
chính - tín dụng, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Sự tồn tại và phát triển của
hệ thống này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội và cá
nhân mở tài khoản tiền gửi thanh toán tiền hàng - dịch vụ thông qua việc trích chuyển tài
khoản trong hệ thống này. Thanh toán không dùng tiền mặt là một phạm trù vừa mang tính
chất lý thuyết trừu tợng, vừa mang tính công nghệ cụ thể:
6
- Đứng về mặt phạm trù lý luận, thanh toán không dùng tiền mặt là sự vận động
của tiền tệ. ở đây tiền vừa là công cụ kế toán, vừa là công cụ để chuyển hoá giá trị của
hàng hoá dịch vụ.
- Đứng về mặt công nghệ thì thanh toán không dùng tiền mặt là những nghiệp vụ
phải thông qua nhiều giai đoạn liên hoàn, đòi hỏi những thao tác về kỹ thuật thanh toán
nhận tiền là các chủ nợ thì cơ sở để nhận tiền là các hợp đồng hay khế ớc vay nợ.
- Các trung gian thanh toán là các tổ chức tài chính nh Ngân hàng thơng mại,
Kho bạc nhà nớc.
Khi tiến hành các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt phải sử dụng các
chứng từ thanh toán riêng. Chứng từ thanh toán là các phơng tiện chuyển tải những điều
kiện thanh toán và đợc sử dụng làm căn cứ để thực hiện việc chi trả. Chứng từ thanh
toán gồm lệnh thu hoặc lệnh chi có những mức độ phức tạp khác nhau, nhng dù sao thì
mỗi chứng từ thanh toán cũng phải chứa đựng những yếu tố cơ bản nh: Tên, địa chỉ ng-
ời trả và ngời nhận, số tiền trả, lý do trả tiền, chữ ký và dấu của chủ tài khoản - kế toán
trởng hay ngời thừa hành trực tiếp lập chứng từ. Kèm theo lệnh chi hoặc lệnh thu có thể
còn có các giấy tờ phụ trợ khác nh: Giấy báo liên hàng, Bảng kê thanh toán...vv. Những
chứng từ này phục vụ cho việc xử lý kế toán của các trung gian thanh toán
1.3. Những qui định có tính nguyên tắc trong thanh toán không dùng tiền mặt
Muốn tổ chức và thực hành công tác thanh toán không dùng tiền mặt trong nền
kinh tế, ngoài tổ chức cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ làm công tác thanh toán cần phải
nghiên cứu sâu sắc lý luận xã hội, chế độ thể lệ thanh toán khoa học và thực tiễn đảm
bảo công tác thanh toán đợc thực hiện thuận tiện, an toàn, chính xác và nhanh chóng.
Hiện nay thanh toán không dùng tiền mặt đợc thực hiện trên cơ sở: Nghị định số 30/
CP ngày 09/05/1996 của Chính phủ ban hành về Quy chế phát hành và sử dụng séc;
Thông t số 07/TT-NH1 ngày 31/02/1994 của Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam hớng dẫn
thực hiện Nghị định số 30/CP; Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam về việc ban hành Quy chế phát hành, sử
dụng và thanh toán thẻ ngân hàng và Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20/9/2001 của
Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (có
hiệu lực từ ngày 01/01/2002). Nội dung của các văn bản pháp qui đợc tóm tắt thành
những qui định có tính nguyên tắc sau :
1.3.1. Mở và sử dụng tài khoản thanh toán:
8
Tài khoản thanh toán là tài khoản do ngời sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để thực hiện giao dịch thanh toán theo quy định
* Sử dụng và uỷ quyền sử dụng tài khoản của đồng chủ tài khoản.
Ngoài các quy định về sử dụng tài khoản và uỷ quyền sử dụng tài khoản, việc sử
dụng tài khoản của đồng chủ tài khoản còn phải tuân theo các quy định sau:
- Mọi giao dịch thanh toán trên tài khoản chỉ đợc thực hiệ khi có sự chấp thuận
của tất cả những ngời là đồng chủ tài khoản.
- Đồng chủ tài khoản đợc uỷ quyền cho ngời khác sử dụng tài khoản trong phạm
vi quyền và nghĩa vụ của mình. Việc uỷ quyền phải đợc lập thành văn bản theo quy
định của pháp luật.
- Trờng hợp một đồng chủ tài khoản bị chết, bị tuyên bố mất tích hoặc mất năng
lực hành vi dân sự thì quyền sử dụng tài khoản và nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài
khoản của ngời đó đợc thựchiện theo quy định của pháp luật.
* Tài khoản thanh toán, điều kiện, thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán
Loại tài khoản thanh toán, tính chất tài khoản thanh toán, điều kiện, thủ tục mở và
sử dụng tài khoản thanh toán do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định phù hợp với
quy định của Ngân hàng Nhà nớc và các quy định khác của pháp luật.
* Phong toả tài khoản
Tài khoản thanh toán bị phong toả một phần hoặc toàn bộ số tiền có trên tài
khoản trong các trờng hợp sau:
+ Khi có sự thoả thuận giữa chủ tài khoản và ngời cung ứng dịch vụ thanh toán;
+ Khi có quyết dịnh hoặc yêu cầu bằng văn bản của ngời có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật;
+ Các trờng hợp khác do pháp luật quy định;
Việc phong toả tài khoản thanh toán chấm dứt khi:
+ Kết thúc thời hạn thoả thuận phong toả tài khoản giữa chủ tài khoản và tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán;
10