LỜI MỞ ĐẦU
Nước là một tài nguyên quí của con người. Mọi hoạt động sản xuất sinh
hoạt đều cần dùng nước. Chính vì vậy mà hàng ngày có một lượng lớn nước
được tiêu thụ và đồng thời cũng ngần ấy lượng nước thải được thải ra môi
trường. Hà Nội là một trong những thành phố lớn nhất của Việt Nam. Lượng
nước thải của thành phố thải ra hàng ngày là rất lớn và chủ yếu tập trung vào
ba nguồn lớn là: nước thải sinh hoạt, từ sản xuất và từ bệnh viện. Tuy nhiên ,
hệ thống sử lí nước thải của thành phố lại chưa có, còn của các doanh nghiệp
thì lại chỉ có một số ít doanh nghiệp có hệ thống sử lí ,còn lai hầu như là thải
trực tiếp ra môi trường từ đó gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh
hưởng tới sức khoẻ đời sống của nhân dân, ảnh hưởng tới sản xuất cũng như
gây mất mĩ quan đô thi.
Ở Hà Nội hiện nay, khi mà hệ thống thoát nước của thành phố chưa đáp
ứng với mức phát triển hiện nay của thành phố, cũng như quy mô dân số và
các cơ sở sản xuất ở trong thành phố. Do vậy việc thoát nước chủ yếu thông
qua việc thải ra các con sông đào hay các cống trong thành phố. Sông Tô lịch
là con sông lớn nhất trong bốn con sông chảy trong thành phố có nhiệm vụ
tiêu thoát nước trong thành phố là sông Sét, Lừ, Kim Ngưu và Tô Lịch. Nó là
con sông ô nhiễm nhất và cũng là con sông có nhiều vấn đề liên quan đến môi
trường do số lượng dân cư sống hai bên bờ sông là khá đông đúc.
Sông tô Lịch hiện nay đang là con sông mà hệ thống nước mặt đang bị ô
nhiễm nghiêm trọng nhất ở Hà Nội hiện nay. Nhà Nước và thành phố hiện nay
cũng đang thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải tạo môi trường sông và nước
thải của thành phố vào con sông này, mà đây lại là loại hình không có thu để
tự trang trải.
Theo nghi Định 67/2003NĐ-CP của chính phủ từ 1/1/2004 trở đi bắt đầu
thực hiện thu phí nước thải. Xuất phát từ thục tế môi trường sông Tô Lịch và
1
1
mục đích của việc thu phí là: nhằm nâng cao nhận thức của các tổ chức và
Một dạng của thuế pigou, là loại phí đánh vào lượng chất thải thực tế
người sản xuất. để xác định mức phí người ta căn cứ vào chi phí cần thiết để
làm giảm một đơn vị ô nhiễm.
Pháp lệnh về phí và lệ phí của Uỷ Ban thường Vụ Quốc hội khoá 10 (số
38/2001 PL-UBTVQH 10 ngay 28/8/20001 ) qui định: “phí là khoản tiền mà
tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch
vụ được qui định trong danh mục phí”.
Danh mục phí thuộc lĩnh vực môi trường được qui định tại mục A .
Khoản 10 pháp lệnh gồm 11 khoản trong đó các loại phí liên quan tới môi
trường như sau:
- Phí bảo vệ môi trường
- Phí thẩm định báo cáo tác động môi trường
- Phí vệ sinh.
- Phí phòng chống thiên tai.
- Phí sử dụng an toàn bức xạ.
- Phí thẩm định an toàn bức .
Riêng phí bảo vệ môi trường được tại nghị định số 57/2002NĐ-CP
ngày 3/6/2002 của chính phủ qui định chi tiết thi hành pháp lệnh phí và lệ phí
qui định thành 6 loại như sau.
- Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
4
4
- Phí bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, khí thải từ việc sử dụng than
đá và các nguyên liệu khác.
- Phí bảo vệ môi trường với chất thải rắn.
- Phí bảo vệ môi trường tiếng ồn.
- Phí bảo vệ môi trường đối với sân bay, nhà ga bến cảng, phí bảo vệ
môi trường với viêc khai thác dầu mỏ, khí đốt và khoảng sản khác.
Như vậy phí bảo vệ môi trường nói chung và phí nước thải nói riêng có
thể được hiểu là một khoản nghĩa vụ tài chính mà các tổ chức, cá nhân phải
đối với chất gây ô nhiễm nhất định nào đó được tính bằng cách nhân với
lượng nồng độ chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn.
Malaysia một nước trong khu vực, vào giữa những năm 1979, chính
phủ Malaysia đã tiến hành áp dụng hệ thu phí đối với ngành chế biến dầu cọ
thô, chế biến cao su tự nhiên và các hoạt động khai hoang. Hệ thống này được
thiết lập trên cơ sở các tiêu chuẩn về nồng độ cho phép trong nước thải cảu
các chất gây ô nhiễm. Các lệ phí ấn định cho việc xả thải các chất gây ô
nhiễm ở dưới mức tiêu chuẩn. Vượt quá mức tiêu chuẩn phải bị sử phạt mức
nộp lệ phí.
Còn với các quốc gia phat triển OECD áp dụng phí đánh vào nguồn gây
ô nhiễm nước, loại phí này được áp dụng riêng không liên quan gì đến hệ
thống xử lí nước thải từ các nhà máy xí nghiệp. ở hầu hết các nước OECD phí
sử dụng hệ thống thoát nước thải là công trình công cộng, chịu sự quản lí và
giám sát của chính quyền địa phương. Do đó, các hộ gia đình và cơ sở sản
xuất thường phải trả lệ phí do sử dụng hệ thống công cộng này.
Từ kinh nghiệm, cũng như thực tế của các quốc gia đã làm trước chúng
ta có thể thấy rằng, phí bảo vệ ô nhiễm môi trường nói chung và phí nước thải
nói riêng được áp dụng là một thực tế khách quan và cũng là xu hướng chung
và tất yếu của thế giới
Còn với nước ta phí bảo vệ môi trường có mục đích khuyến khích các
nhà sản xuất, kinh doanh đầu tư giảm thiểu ô nhiễm, thay đổi hành vi ô nhiễm
theo hướng tích cực cho môi trường, có lợi cho môi trường. Ngoài ra phí bảo
6
6
vệ môi trường còn có mục đích khác là tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà
nước để đầu tư khắc phục và cai thiện môi trường. Với mục đích này, phí bảo
vệ môi trường là công cụ kinh tế được xây dựng trên nguyên tắc “người gây ô
nhiễm phải trả tiền đóng góp tài chính để khắc phục ô nhiễm môi trường và
cải thiện môi trường ” và ai hưởng lợi từ việc môi trường trong lành phải
đóng phí khắc phục ô nhiễm.
8
8
III. Nguyên tắc xác định phí nước thải.
Theo nghị định 67/2003/NĐ-CP của chính phủ ban hành việc thu phí
nước thải và thông tư 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thi hành nghị
định 67. Nghị định 67 quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;
chế độ thu, nộp, quản lí và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
Còn thông tư 125 hướng dẫn thi hành nghị định 67. trong đó quy định rõ đối
tượng phải chịu phí bảo vệ môi trường với nước thải và cách tính phí.
Đối với nước thải công nghiệp cách tính phí được tính:
Số phí = tổng lượng nước thải * hàm lượng chất gây ô nhiễm trong
nước thải(mg/l)*10
-3
* mức thu đối với chât gây ô nhiễm ra MT(đồng/kg)
Đối với sinh hoạt:
Số phí = lượng nước sử dụng * giá bán(đồng/m
3
) * tỉ lệ thu phí(%)
Qua các văn bản pháp luật có thể thấy phí nước thải nước ta được tính
dựa vào các tiêu chí:
+ Tổng lượng thải
+ hàm lượng các chất gây ô nhiễm có trong nước tính bằng mg/l
+ Đặc tính các chất gây ô nhiễm. Mỗi chất gây ô nhiễm khác nhau có
một mức thu phí tối đa và tối thiểu khác nhau, tuỳ theo mức độ độc hại của
mỗi loại chất và được quy đinh tại nghị định 67. Các chất gây ô nhiễm chủ
yếu được qui đinh trong luật là: BOD, COD, TSS, Hg, Pb, As, Cd.
Stt
Chất gây ô nhiễm có trong nước
thải
Mức thu
ý thức bảo vệ môi trường. Nhà nước và địa phương có thêm nguồn thu từ đó
đầu tư trở lại vào môi trường nhằm bảo vệ môi trường. Kích thích các doanh
nghiệp đầu tư vào hệ thống sử lí nước thải hoặc đổi mới công nghệ nhằm làm
giảm lượng ô nhiễm, từ đó nâng cao chất lượng môi trường.
Hiện nay tổng lượng nươc thải sinh hoạt của khu vực nội thành Hà Nội
khoảng 500.000m
3
/ngày đểm trong đó có khoảng 100.000m
3
ngày đêm là
nước thải của các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, bệnh viên. toàn bộ lượng nước
thải này được tiêu thoát chủ yếu qua 4 con sông chính cẩu thành phố là: sông
Tô Lịch, sông Sét, sông Kim Ngưu và sông Lừ. Nước thải sinh hoạt phần lớn
qua sử lí sơ bộ tại các bể tự hoại trước khi thải vào tuyến cống chung, kênh,
mương, ao, hồ. Tuy nhiên các bể tự hoại này làm việc kém hiệu quả do xây
dựng không đúng quy cách, không hút phân cặn thường xuyên nên hàm lượng
chất bẩn trong nước cao, gây ảnh hưởng xấu trong chất lượng nước trong các
kênh mương.
Sông Tô lịch là con sông lớn nhất trong bốn con sông tiêu thoát nước
chính của thành phố Hà Nội. Qua đánh giá thực tế ban đầu bằng việc quan sát
trực tiếp sông, có thể nói sông đang bị ô nhiễm nặng dù mùa khô hay mùa
mưa. vào những ngày nóng bức mùi từ sông bốc lên gây ảnh hưởng nghiêm
trọng tới đời sống, sức khoẻ, cũng như sản xuất của ngưòi dân hai bên bờ
sông. Không những thế nó còn gây mất mĩ quan đô thị làm giảm hình ảnh thủ
đô cũng như môi trường của thành phố.
Tuy nhiên với việc áp dụng phí nước thải với các cơ sở sản xuất và các
hộ gia đình, sẽ có những tác động tích cực tới môi trường. Phí nước thải có
thể buộc các doanh nghiệp phải làm giảm lượng gây ô nhiễm, từ đó nâng cao
chất lượng môi trường. Với nguồn thu từ phí nước thải, chinh phủ có thể đầu
10
nhiều các ống cống lớn nhỏ của các hộ dân cư và các doanh nghiệp trên địa
bàn.
Tình trạng ô nhiễm do nước thải của thành Phố Hà Nội. Nước thải của
thành phố Hà Nội thải ra hệ thống thoát nước hàng ngày khoảng 500.00m
3
ngày/đêm trong đó có khoảng 100.000 m
3
ngày/đêm là nước thải công nghiệp,
của các cơ sở dịch vụ và bệnh viện
Thực trạng ô nhiễm tại sông Tô Lịch
Sông Tô Lịch là con sông lớn nhất trong bốn con sông và cũng là con
song bị ô nhiễm nặng nhất, điều này được thể hiện thông qua nước thải đổ
12
12
vào sông Tô Lịch mỗi ngày là 242.506m
3
ngày/đêm. Trong đó nước thải công
nghiệp của các nhà máy trên địa bàn Hà Nội là 68.206m
3
ngày/đêm, ttổng
lượng nước thải của khu cục công cộng và bệnh viện là 43.300 m
3
ngày/dêm.
Do Hà Nội chưa có hệ thống xử lí nước thải, nên nước thải được đổ
trực tiếp qua các con sông và qua các hồ. Mặc dù hệ thống này có khả ngăng
tự làm sạch rất lớn, nhưng do mức độ ô nhiễm quá cao đẫn tới khả năng này
hầu như không còn được phát huy được nữa mà một phần do tốc độ đô thị hoá
quá nhanh. Năm 1996 sông Tô Lịch tiếp nhận chỉ khoảng 3000m
3
nước thải
Nhà máy bia Hà Nội.
13
13
Nhà máy Trung Kính
Nhà máy nhựa Đại kim
Nhà máy Sơn tổng hợp.
Ngoài những bệnh viện đã thống kê ở trên sông còn tiếp nhận những
nguồn nước thả từ sinh hoạt với khối lượng nước lớn và không kém phần độc
hại. Phần lớn nước thải ra sông đều không qua sử lí và được thải trực tiếp
hoặc gián tiếp gây làm tăng nồng độ các chất dinh dưỡng, nghiêm trọng nhất
là nước thải của các bệnh viện, nhà máy. Đây là nguồn gây ra ô nhiễm
chínhchô nươớc sông, làm cho quá trình xử lí sinh học bị giới hạn hoặc bị quá
tải và có thể bị huỷ hoại hoàn toàn do các chất hữu cơ và các chất thải công
nghiệp độc hại. Các chất hữu cơ như phốtpho và nitơ là lí do chủ yếu là cho
nước sông phì dinh dưỡng.
Sự quá tải của rác thải là nguyên nhân chính gây ra ngăn cản dòng
sông, làm cho lòng sông bị thu hẹp đáng kể, tăng khả năng ngập úng, tăng
lươợng bùn đáy sông. Mặc dù sông đã được cải tạo bằng việc xây dựng kè đá
hai bên bờ sông nhằm làm giảm lượng rác thải xuống sông cũng như các loại
đất đá và tạo một cảnh quan mới cho phù hợp với sự phát triển của thành phố.
Thành phố sử dụng nguồn vốn vay ODA của Nhật Bản song vẫn chưa thấy có
dấu hiệu khả quan nào đối với môi trường tại sông Tô Lịch, đặc biệt khi sông
nằm trong lòng thủ Đô Hà Nội và nó sẽ gây ảnh hưởng đến hình ảnh một thủ
đô tươi đẹp của nước ta, hướng tới văn minh hiện đại. Việc ô nhiễm của sông
Tô Lịch gây ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ tới dân cư sống hai bên bờ
sông mà con gây ảnh hưởng tới các khu vực xung quanh, khi mà ỏ hai bên bờ
sông có nhều trưòng học và một số bệnh viện và đây cũng là một điểm có
giao thông đi lại với cường độ lớn của thành phố.
14
3
-
0.25 0.45
NH
4
2.33 6.7
Nguồn: Công ty tư vấn xây dựng Hà Nội.
Qua số liệu của bảng trên ta có thể nhận thấy:
a) Về mùa khô, nước sông bị ô nhiễm nặng. Hàm lượng BOD và COD
đều vượt quá chỉ tiêu cho phép, BOD đo dược khoảng 25 mg/ldến 30 mg/l.
hàm lượng các chất hữu cơ NO
3
-
đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, sông luôn
ở tình trạng thừa dinh dưỡng. Do tập tính lâu đời mà cư dân hai bên dòng
sông thường vất rác xuống lòng sông, nước sông có màu đen, mùi hơi đặc biệt
vào những ngày nắng nóng, rác và rau bèo hai bên bờ sông ngăn cản dòng
sông chảy.
15
15
b) về mùa mưa nước sông chảy mạnh hơn, lưu tốc độ dòng chảy tăng
do ảnh hưởng của nước mưa đã pha loãng. Song có một thực tế qua phân tích
và nghiên cứu nguồn nước của sông cho thấy nước sông Tô Lịch chủ yếu là
nước thải do tốc độ dòng chảy chậm và tại đầu nguồn của sông tại khu vực
đường Hoàng Quốc Việt cho thấy đầu nguồn của sông không hề bắt nguồn từ
bất cứ nguồn nước nào của thành phố, mà nguồn nước của sông chủ yếu từ
các nguồn nước thải chưa qua sử lí đổ trực tiếp vào sông tạo thành một hệ
thống hình thành nguồn nước cho sông Tô Lịch.
II.2. Nguyên nhân gây ô nhiễm.
Thành phố Hà Nội trong nhiều năm qua không chỉ là một địa phương
Dẫn tới khi một nhà máy được xây dụng xong thì bao nhiêu nước thải chưa
qua sử lí đều đổ vào sông hồ. Theo báo cáo hiên trạng môi trường Hà Nội
năm 2003 lượng nước thải trong tổng số 500.000 m
3
được thải ra môi trường
hàng ngày chỉ có khoảng 6% được sử lí và đạt tiêu chuẩn, số còn lại được thải
ra ngoài môi trường. Đây cũng là địa bàn có nhiều các công ty các doanh
nghiệp, các cơ sỏ sản xuất.
Do dân số nước ta đa phần làm nông nghiệp có thói quen tuỳ tiện, trong
khi đó người dân ở hai bên bờ sông tuy sống ở đô thị lớn nhưng đây chỉ là hệ
quả của việc đô thị hoá của nước ta trong mấy năm qua dẫn tới có một số
người chưa thoát khỏi tập quán cũ thường xuyên vứt rác xuống dòng sông. Có
thể nói lòng sông Tô Lịch ngoại trừ việc ô nhiễm nước thải còn có cả ô nhiễm
rác thải. Hàng ngày các công nhân của công ty môi trường Hà Nội đều phải đi
vớt rác từ dưới lòng sông. Ngoài ra còn từ một số nguyên nhân khác gây nên
ô nhiễm của sông.
Qua phân tích cho thây thành phâng các chất ô nhiễm có trong nước
sông bao gồm nhiều loại chất khác nhau nhưng chủ yếu gồm những loại chất
sau: BOD, COD, Hg, Pb, chất rắn lơ lửng(SS), coliform, nitơ tổng hợp NH
4
+
PH, DO v.v… các chất này có nồng độ tuỳ thuộc vào tùng vị trí đo tại sông
Tô Lịch và cũng tuỳ thuộc vào từng mùa.
17
17
PHẦN III. THU PHÍ
I: Văn bản pháp luật
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, hoà nhập với các hoạt
động BVMT trong khu vực và trên toàn cầu. Quốc hôi thông qua luật bảo vệ
môi trươờng ngày 27/12/1993 và luật chính thức có hiệu lực ở Việt Nam ngày
- Cơ sở khai thác chế biến khoáng sản.
- Cơ sở nuôi tôm công nghiệp; cơ sở sản xuất và ươm tôm giống;
- Nhà máy cấp nước sạch; hệ thống xử lí nước thải tập trung.
b) Nước thải sinh hoạt là nước thải ra môi trường từ:
- Hộ gia đình;
- Cơ quan nhà nước
- Đơn vị vũ trang nhân dân;
- Trụ sở điều hành, chi nhánh, văn phòng của các tổ chúc, cá nhân;
- Cơ sở rửa ô tô xe máy; bệnh viện phòng khám chữa bệnh; nhà hàng,
khác sạn;cơ sở sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác;
III. Mục tiêu của việc thu phí bảo vệ môi trường.
Chính sách thu phí bảo vệ môi trường với nước thải công nghiệp đã
được chính phủ ban hành thông qua nghị định 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ
môi trường với nước thải (bao gồm nước thải sinh hoạt và nước thải công
nghiệp) ngày 13/6/2003 và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/2004. bên
cạnh đó ngày 18/12/2003, Bộ tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
ban hành thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNTN đẻ hướng dẫn
thực hiện nghị định này. Tuy nhiên cho đến tháng 4/2004 vẫn chưa có địa
phương nào trên cả nước thực hiện thu phí bảo vệ môi trường và phí nước thải
với công nghiệp. Và mãi tới tháng 9/2004 mới có tin tức về việc thu phí nước
thải của một số địa phương.
Mục tiêu hàng đầu của chính sách thu phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải công nghiệp là làm cho doanh nghiệp thay đổi hành vi theo hướng
19
19
thân thiện với môi trường; nghĩa là Chính phủ mong muốn doanh nghiệp
giảm ô nhiễm, chứ không đơn thuần là thu được nhiều phí từ phía doanh
nghiệp. Tổ chức thực hiện chính sánh thành công, chính chỉ là nhằm đạt được
những mục tiêu đó.
Tuy nhiên muốn đạt đựoc mục tiêu cũng phải có thời gian. Theo các
nghiệp giảm lượng ô nhiễm tức là không làm nâng cao chất lượng nước sông
Tô Lịch. Thu phí xét cho cùng cũng chỉ là một biện pháp kinh tế, đánh vào
kinh tế để các doanh nghiệp phải trích một phàn lợi nhuận làm giảm ô nhiễm
môi trường. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến xác suất ảnh hưởng đến việc
giảm ô nhiễm của doanh nghiệp kể từ khi chính sách được thực hiện. Về mặt
lí thuyết, có 3 yếu tố chính: quy mô và khả năng tài chính của doanh nghiệp,
nhận xét của doanh nghiệp về chính sách thu phí, ý thức của doanh nghiệp
trong việc bảo vệ môi trường.
Doanh nghiệp muốn giảm thiểu tải lượng ô nhiễm so với tải lượng ô
nhiễm hiện tại bằng cách nào đi nữa cũng phụ thuộc vào khả năng tài chính
của bản thân doanh nghiệp. Doanh nghiệp có qui mô lớn và có nguồn tài
chính tốt sẽ dễ dành đầu tư cho hệ thống sử lí, thuê công ty thu gom, và giảm
sản lượng… hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và yếu kém về tài chính.
Doanh nghiệp có tài chíh mạnh sẽ dễ dàng thuê đất trong khu vực công
nghiệp,dễ dàng trong việc đâut tư nhà xưởng để di dời ra khỏi khu vực hiện
tại hơn các doanh nghiệp yếu kém. Và giải quyết vấn đề này cần khuyến
khích về thuế doanh nghiệp. các doanh nghiệp vừa và nhỏ có doanh thu thấp
do đó có ít tiền và khó đàu tư cho cơ sở hạ tầng và các kiến thúc kĩ thuật cần
thiết để áp dụng các biện pháp kĩ thuật môi trường.
Ý thức doanh nghiệp là một phần quan trọng trong việc đảm bảo được
rằng các chính sách về môi trường có thể được các doanh nghiệp thực hiện.
Các doanh nghiệp thường các biện pháp làm giảm ô nhiễmc môi trường đồng
nghĩa với việc giảm đi lợi nhuận của doanh nghiệp hoặc làm tăng thêm chi
phí. Do đó việc thực hiện nó chỉ có những doanh nghiệp vừa có mục đích
kinh tế vừa có “ý thức giữ gìn môi trường”.
21
21
Ý thức bảo vệ môi trường có ảnh hưởng đến hành vi của doanh nghiệp
với môi trường, tuy nhiên việc lượng hoá là rất khó. í thức bảo vệ môi trường
có xác suất rất lớn đến doanh nghiệp thực hiện các biện pháp giảm ô nhiễm
. Tuy mức phí hiện nay vẫn còn thấp
22
22
so với khu vực và trên thế giới, nhưng việc thực hiện nó hiện nay chỉ là bước
đầu và tin rằng nó sẽ còn nhiều sửa đổi cho phù hợp với thực tế.
Còn về vấn đề thu phí nước thải công nghiệp hiên nay thì các tỉnh phía
nam đi trước một bước so với những nơi khác. Thành Phố Hồ Chí Minh đã
thu được 160 tỉ đồng tiền phí nước thải công nghiệp, ngoài ra một số tỉnh
khác như Khánh Hoà, Phú Yên, Sóc Trăng cũng đã thu được hàng trăm tỉ
đồng tiền phí nước thải.
IV. Khó khăn
Tuy nhiên việc thực hiện thu phí nước thải còn gặp nhiều khó khăn.
việc xác định nồng độ và các chất thải đòi hỏi một quy trình công nghệ hiện
đại, nhận thức của các doanh nghiệp nước ta vẫn chỉ coi đống phí chỉ là một
nghĩa vụ một hình thức bắt buộc. Cho nên nếu có thể né tránh được thì né
tránh. Vì vậy mà sự hợp tác của doanh nghiệp với nhà nước trong việc xác
định mức phí của doanh nghiệp chưa cao. Ngoài ra khi lấy mẫu nước thải có
rất hiều yếu tố tấc động khiến việc lấy mẫu không được chính xác.
V. Kiến nghị
Để nhằm nâng cao hiệu quả của việc thu phí nước thải cũng như đạt
đựoc mục đích của thu phí là vấn đè môi trường. Mà cụ thể ở đây là nâng cao
chất lượng nước tại sông Tô Lịch, theo em ngoài biện pháp thu phí trên còn
thực thi thêm một số biện pháp.
Vì nước sông Tô Lịch chủ yếu là nước thải chưa được sử lí nên việc cần
thiết là phải có một nhà máy sử lí nước thải tập trung tại một số địa điểm cụ
thể. Ngoài ra một số biẹnn pháp khác như sủ dụng giấy phép sả thải, theo đó
một công ty tìm cách xả lượng thải theo giấp phép mà mình có được.
Nhà nước nên có nhũng chính sách ưu dãi với nhũng doanh nghiệp gây
ô nhiễm và phải di dời về thuế cũng như về vốn. Thục hiện các phương tiện
thông tin đại chúng đẻ giúp cho moi người và các doanh nghiệp hiểu được
Em xin cảm ơn.
24
24
25
25