Tài chính tiền tệ
Mục lục
Phần mở đầu ..................................................................................................................2
Phần nội dung ...............................................................................................................4
CHƯƠNG I:
GIỚI THIỆU VỀ TIỀN ĐIỆN TỬ
1.1. Khái niệm về tiền điện tử......................................................................................4
1.2. Các hình thức giao dịch tiền điện tử ngày nay...................................................5
1.2.1. Một số loại thẻ thanh toán…………………………………………………5
1.2.2. Tiền mặt điện tử…………………………………………………………....7
1.2.3. SEC điện tử………………………………………………………………...7
1.3. Ví điện tử...............................................................................................................11
CHƯƠNG II:
CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN TIỀN ĐIỆN TỬ HIỆN NAY Ở VN
2.1. Một số loại thẻ thông dụng.................................................................................18
2.1.1. Thẻ ATM………………………………………………………………….18
2.1.2. Thẻ tính dụng……………………………………………………………..22
2.1.3. Thẻ ghi nợ………………………………………………………………….23
2.2. Những tiện ích khi sử dụng tiền điện tử ở VN..................................................25
2.3. Những khó khăn khi sử dụng tiền điện tử ở VN..............................................28
CHƯƠNG III:
NHỮNG ĐIỀU CÁC HÌNH THỨC GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ NGÀY NAY Ở VN
CẦN CẢI THIỆN
Page 1
Tài chính tiền tệ
Phần kết luận ...............................................................................................................37
Phần mở đầu
Năm 1996, chính phủ Hoa Kỳ bắt đầu một chiến dịch để tạo ra một vũ trụ,
tất cả các hệ thống thanh toán điện tử-để giảm gần 70 tỷ đồng người Mỹ viết
Page 2
Tài chính tiền tệ
Tài chính tiền tệ
Từ sau những năm 1990, sự mở rộng và phổ biến của Internet đã tạo ra
phương thức mua hàng và bán hàng qua mạng (thương mại điện tử). Hầu hết
mọi người đều mong đợi một ngày nào đó tiền giấy sẽ không còn là phương
thức thanh toán trong những phiên giao dịch nữa.
Khi Internet thực sự bùng nổ vào năm 2000, một số chuyên gia tin rằng
đây là mốc quan trọng đánh dấu bước khởi đầu của tiền điện tử (e-money).
Những dịch vụ thanh toán trực tuyến rất thành công nhất như PayPal, cũng như
sự phổ biến của tiền điện tử ở Nhật Bản với 15 triệu người sử dụng... đã đưa
tiền điện tử lên một tầm cao mới.
Tuy nhiên, vào thời kì suy thoái năm 2000, rất nhiều công ty "dot-com"
được thành lập, nhưng đã nhanh chóng bị đổ vỡ và trở thành công ty "dot-
bom". Do đó, tiền điện tử còn là vấn đề cần phải cân nhắc và xem xét lại một
cách kĩ lưỡng, cẩn thận hơn
Tiền điện tử được bắt đầu sử dụng từ những năm cuối của thập kỉ 90,
dựa vào những dự đoán về lượng khách hàng sử dụng thẻ tín dụng để mua
hàng. Chuyển đổi tiền giấy sang tiền điện tử (e-money) dường như là một giải
pháp hấp dẫn. Trong thời gian này, những hoạt động đầu tiên của tiền điện tử
đã bắt đầu xâm chiếm Web. Nhưng loại tiền này vẫn còn quá ít so với việc sử
dụng thẻ tín dụng. Được sử dụng với mục đích chính là giao dịch trực tuyến,
các loại tiền này được phát hành bởi các công ty như Beenz.com, Flooz.com và
một số các công ty khác.
Trong quá trình tìm hiểu và trình bày chúng em không thể tránh khỏi những
thiếu xót và hạn chế, chúng em rất mong được sự góp ý của thầy và các bạn
để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành
cảm ơn !
Phần nội dung
CHƯƠNG I
Page 4
Tài chính tiền tệ
điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn... đồng thời chuyển ngân lập tức vào tài
khoản của cửa hàng, khách sạn. Thẻ ghi nợ còn được sử dụng để rút tiền mặt
tại máy rút tiền tự động.
Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên
tài khoản của chủ thẻ.
• Thẻ rút tiền mặt (Cash card):
là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng. Với chức
năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ
thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín
dụng thấu chi mới sử dụng được.
1.2.1.1. Xét theo phạm vi lãnh thổ, thẻ được phân chia thành:
Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các
ngoại tệ mạnh để thanh toán. Các loại thẻ này đều được chấp nhận thanh toán
ở các website thương mại điện tử có kết nối với cổng thanh toán OnePAY của
Vietcombank.
Thẻ trong nước, thẻ nội địa: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia,
do các ngân hàng, tổ chức trong nước phát hành, đồng tiền giao dịch phải là
đồng bản tệ của nước đó. Hiện nay một số thẻ thanh toán nội địa đã có chức
năng thanh toán trực tuyến: thẻ đa năng Đông Á, thẻ Connect 24 của
Vietcombank.
1.2.1.2.Theo công nghệ sản xuất, thẻ được phân chia thành:
Page 6
Tài chính tiền tệ
Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm
thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn
sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo.
Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa
thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm
qua , nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự
mã hoá được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không
ngân hàng, thanh toán ngay khi có yêu cầu.
1.2.3.2. Phân loại:
• Theo cách xác định người thụ hưởng:
• Séc lệnh: trả tiền cho cá nhân hoặc thực thể có tên ghi trên séc hoặc trả
cho bên được chuyển nhượng.
• Séc vô danh: trả tiền cho người nắm giữ tờ séc.
• Theo các yêu cầu để đảm bảo an toàn trong thanh toán séc:
• Séc trơn: mặt sau để trắng hoàn toàn, séc này có thể được ngân hàng
trả tiền mặt.
• Séc gạch chéo: mặt sau được gạch hai đường chéo song song, séc này
chỉ có thể được trả tiền bằng hình thức ghi có vào tài khoản của người
thụ hưởng tại ngân hàng.
• Séc gạch chéo đặc biệt: mặt trước hoặc mặt sau của tờ séc được gạch
hai đường chéo song song, giữa hai đường chéo là tên ngân hàng hoặc
cả chi nhánh ngân hàng. Séc này chỉ có thể được nộp vào ngân hàng
hay chi nhánh ngân hàng ghi trên đó. Ngoài ra séc gạch chéo đặc biệt
cũng có thể ghi tên ngân hàng nhờ thu để thuận tiện cho việc giải quyết
khi séc bị ngân hàng thanh toán từ chối thanh toán.
Page 8
Tài chính tiền tệ
• Ngoài ra, theo mức độ đảm bảo sẽ nhân được tiền cho người thụ hưởng
còn có:
• Séc ngân hàng (hay séc tiền mặt): là séc do ngân hàng phát hành nên
người thụ hưởng sẽ được đảm bảo thanh toán trừ trường hợp phát hiện
ra tờ séc đã bị gian lận. Sở dĩ nó được gọi là séc tiền mặt vì có giá trị gần
như tiền mặt do sẽ được thanh toán ngay.
• Séc bảo chi: là một tờ séc được ngân hàng của người phát hành đảm
bảo rằng tài khoản của người đó có đủ tiền để được trích ra khi thanh
toán. Trong trường hợp này, ngân hàng thường ghi hoặc đóng dấu bảo
chi lên tờ séc.
• Tờ séc bị khiếm khuyết, phổ biến là: trị giá của tờ séc bằng chữ và bằng
số không giống nhau; ngày tháng đề trên séc là một ngày trong tương lai;
không có tên của người hưởng lợi ghi trên séc; séc bị sửa đổi một cách
không hợp lệ; séc nhàu nát, bị rách mà không có xác nhận của ngân
hàng là do tình cờ; séc được hai ngân hàng gạch chéo nhưng không có
đảm bảo của một trong hai ngân hàng đó đối với ngân hàng thanh toán...
• Trường hợp séc không được thanh toán do tài khoản của người ký phát
không đủ tiền gọi là séc không đủ khả năng thanh toán. Người ký phát sẽ
được ngân hàng mà người đó ký phát đến thông báo để thực hiện nghĩa
vụ thanh toán cho người thụ hưởng. Nếu người ký phát không thực hiện
người thụ hưởng có quyền khởi kiện. Các quốc gia có thể có hệ thống
theo dõi những người ký phát séc không đủ khả năng thanh toán, ngoài
việc phải chịu trách nhiệm pháp lý, các đối tác thương mại thường sẽ
không chấp nhận thanh toán bằng séc đối với những người đã từng ký
phát séc không đủ khả năng thanh toán. Theo luật của Việt Nam, người
ký phát séc không đủ khả năng thanh toán có thể bị đình chỉ có thời hạn
hoặc vĩnh viễn quyền ký phát séc.
Page 10
Tài chính tiền tệ
1.2.3.5. Tình hình sử dụng séc ở việt nam:
Ở nước ta, thanh toán bằng séc đã ra đời từ những năm 1960 nhưng đến nay,
phương tiện thanh toán này ngày càng giảm. Mặc dù thanh toán bằng séc có
nhiều thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán, người mua hàng ký
séc đưa cho người bán và người bán chỉ cần cầm séc và CMND ra ngân hàng
là có thể nhận được tiền hoặc chuyển vào tài khoản nhưng hiện nay, tỷ lệ thanh
toán bằng séc mới chiếm khoảng 2% trong tổng thanh toán phi tiền mặt;
nguyên nhân thanh toán bằng séc bị hạn chế là do chưa có quy định bắt buộc
về hạn mức phải thanh toán bằng séc mà hiện chỉ “động viên” dùng séc và một
nguyên nhân khác là sự lo ngại của người bán hàng sợ tài khoản của người
mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi ro. Việc thanh toán séc cũng gặp
trực tuyến và rút ngắn quy trình thanh toán, giao nhận hàng hóa như quản lý
đơn hàng, tích hợp website bán hàng, quản trị các phương thức vận chuyển…
Ví điện tử là một loại tài khoản dùng để thanh toán trong các giao dịch nhưng
tiền trong ví chỉ là tiền ảo, khác với tài khoản trong ngân hàng là tiền thật. Nó
giống như một người giữ tiền trung gian đứng ra thay mặt ngân hàng thực hiện
thanh toán cho người sử dụng trong các hoạt động thương mại điện tử. Người
dùng chỉ cần đăng ký tài khoản ví điện tử qua website dịch vụ của nhà cung
cấp, rồi tiến hành nạp tiền vào ví từ tài khoản ngân hàng, tài khoản thẻ ATM,
thẻ trả trước...
Sau đó có thể dùng ví điện tử để thanh toán các giao dịch áp dụng hình thức
thanh toán này. Đơn vị cung cấp ví điện tử có trách nhiệm đảm bảo qu yền lợi
cân bằng giữa các bên. Chẳng hạn khi mua hàng, người dùng thanh toán bằng
ví điện tử thì tổ chức phát hành ví điện tử có trách nhiệm thông báo với bên bán
hàng là đã nhận được tiền và yêu cầu bên bán giao hàng cho người dùng.
Người dùng nhận hàng nhưng nếu không vừa ý, không đúng như thỏa thuận
khi mua có thể thông báo lại với “người giữ tiền trung gian” và “người” này có
trách nhiệm không thanh toán lại cho nơi bán hàng hay đòi lại tiền nếu đã thanh
toán. Chính vì điều này làm ví điện tử trở nên an toàn hơn so với tài khoản
ngân hàng khi dùng để thanh toán.
Page 12
Tài chính tiền tệ
1.3.2. Cách sử dụng:
Cách thức sử dụng các ví điện tử nhìn chung là tương tự nhau. Để sở hữu
một chiếc ví điện tử, người tiêu dùng chỉ cần vào website của nơi cung cấp dịch
vụ và khai báo thông tin chính xác, sau đó tiến hành nạp tiền vào ví. Có nhiều
phương thức giúp người dùng nạp tiền vào ví, như: chuyển khoản qua ngân
hàng, nạp từ tài khoản thẻ ATM, nạp bằng thẻ trả trước,… Hầu hết các ví điện
tử được gắn kết với tài khoản tiền gởi, hoặc tài khoản thẻ của người dùng, để
có thể dễ dàng chuyển tiền giữa ví điện tử và tài khoản tiền gửi.
Ví điện tử cũng cho phép chủ sở hữu nạp tiền từ tài khoản ngân hàng, rút
người bán chuyển hàng cho người mua (hoặc có xác nhận giao dịch mua bán
đã hoàn tất) thì tiền từ tài khoản lưu ký mới chính thức được chuyển vào tài
khoản của người bán
Ví điện tử cung cấp giải pháp đảm bảo an toàn giữa người mua và người
bán. Khi hai người giao dịch chưa quen biết nhau thì có hai rủi ro: thứ nhất,
người mua không phải muốn mua thật, họ chỉ làm đơn hàng giả. Khi đó, rủi ro
về phía người bán. Ví điện tử sẽ giải quyết, giúp tránh đơn hàng giả là vì ngay
lúc đó, tiền sẽ được rút ra khỏi ví người mua. Rủi ro thứ hai là khi giao hàng, có
thể gặp những trường hợp như mặt hàng giao đến không đúng với cam kết
trên mạng, cũ hơn hoặc trầy xước… Khi đó, rủi ro về phía người mua. Ví điện
tử sẽ giúp giải quyết việc nầy, vì sau thời gian giao nhận còn có thời gian khiếu
kiện. Trong thời gian khiếu kiện, người mua có thể khiếu kiện đơn hàng và nhà
cung cấp đóng vai trò trung gian sẽ đứng ra giải quyết. Sau thời gian khiếu
kiện, xem như giao dịch diễn ra tốt đẹp và tiền mới về ví người bán.
• Thanh toán nhanh chóng, tiện lợi:
Nếu như ATM cho phép người dùng thanh toán trực tiếp tại các quầy thanh
toán khi mua sắm offline thì ví điện tử trực tuyến giúp họ thanh toán khi mua
hàng online một cách nhanh chóng và thuận tiện, qua máy tính kết nối internet,
với độ bảo mật cao hơn nhiều, giảm thiểu được rủi ro sử dụng tiền mặt, hoặc lộ
thông tin thẻ ATM, lại không phải đi lại nhiều,... Hơn nữa, ví điện tử trực tuyến
không chỉ phục vụ cho các cá nhân mà còn cho các doanh nghiệp bán hàng
Page 14
Tài chính tiền tệ
qua mạng, giúp họ có được một phương thức thanh toán trực tuyến an toàn và
ít chi phí.
Người dùng hiện nay dùng ví điện tử để thanh toán chủ yếu trong thương
mại điện tử, thanh toán hóa đơn, mua vé tàu xe, máy bay... sắp tới sẽ áp dụng
trong thanh toán chính phủ điện tử. Trong tương lai sẽ có thể áp dụng để thanh
toán ở ngoài đời như vé xe buýt, quán ăn, cà phê... Ví điện tử đem lại rất nhiều
lợi ích cho người tiêu dùng, giúp họ thanh toán khi mua hàng online một cách