I. Bối cảnh nghiên cứu:
Vàng là nguyên tố hóa học có ký hiệu là Au ( Tiếng Latin: Aurum) và có số nguyên
tử là 79. Vàng nguyên chất có màu vàng nhạt sáng đẹp, không bị rỉ trong không khí và
nước, có khối lượng nặng, mềm và sáng, dễ dát mỏng, dễ uốn, độ trơ cao. Đây là kim loại
quí, được sử dụng trong ngành trang sức, điêu khắc, trang trí, các ngành công nghiệp
công nghệ cao, điện tử, bán dẫn, công nghiệp hàng không vũ trụ… Lịch sử của vàng có
thể coi là lịch sử nhân loại mà cho đến ngày nay, mọi cố gắng tạo ra vàng nhân tạo đều
không thành công. Tính đến nay, hầu như chỉ có vàng giữ được vai trò “hai mang” độc
đáo của mình một cách lâu dài và bền vững: với tư cách hàng hóa thông thường và với tư
cách hàng hóa tiền tệ. Mặc dù thực tế chức năng tiền tệ của vàng không còn quan trọng
như thời kỳ bản vị vàng, Chính phủ rất nhiều nước vẫn giữ một lượng vàng đáng kể trong
dự trữ. Vàng vẫn còn chứng tỏ vai trò quan trọng của mình như một công cụ tài chính
bên cạnh các công cụ tài chính khác như chứng khoán và trái phiếu. Đặc biệt là đối với
các nước đang phát triển, nền kinh tế chưa thực sự vững chắc, giá trị đồng bản tệ chưa
thực sự ổn định. Cũng vì lý do đó tại một số nước vẫn duy trì chính sách quản lý vàng
một cách chặt chẽ.
Ở Việt Nam, cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế, vai trò của vàng cũng gắn liền
với bước thăng trầm của nền kinh tế. Vai trò tiền tệ của vàng đã phát huy rõ nét trong giai
đoạn nền kinh tế suy thoái, lạm phát với tốc độ phi mã, vàng được coi là công cụ dự trữ,
phương tiện thanh toán, đơn vị tính toán đối với tài sản có giá trị. Nhà nước đã sử dụng
vàng làm công cụ ổn định giá trị đồng Việt Nam, góp phần chống lạm phát.
Trong bối cảnh hiện nay khi nền kinh tế nước ta đã qua thời kỳ khủng hoảng và đang
có bước phát triển ổn định, lạm phát được duy trì ở mức thấp, xu hướng hội nhập toàn
cầu hoá ngày càng tăng, thì giá vàng cũng ổn định và biến động theo giá vàng của thị
trường vàng quốc tế. Vai trò tiền tệ của vàng ngày càng giảm, thị trường vàng trang sức
mỹ nghệ ngày càng phát triển, nhu cầu vàng trang sức mỹ nghệ ngày càng tăng theo mức
độ tăng của đời sống. Tuy nhiên do tập quán và thói quen vàng vẫn được sử dụng như
một loại tiền trong thanh toán dân gian, trong thanh toán quốc tế (lậu) ở biên giới nên
vàng vẫn có một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của nước ta.
Thị trường vàng Việt Nam qua nhiều năm hình thành và hoạt động vẫn là một thị
trường phát triển ở mức độ thấp, chủ yếu chỉ kinh doanh vàng vật chất. Trong khi, với bối
bán vì tin đồn. Do đó ảnh hưởng đến cung cầu trong nước.
- Các yếu tố khác: chính sách Ngân hàng Nhà nước, lãi suất tiền đồng,…
- Các đơn vị thanh toán:
+ 1kg = 32,148 ounce
+ 1ounce = 0,8294 lượng
+ 1kg = 26,66 lượng
2. Thực trạng việc quản lý thị trường vàng ở Việt Nam:
2.1 Thị trường vàng trong những năm gần đây:
- Từ năm 1989, khi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vàng bạc đá
quý Sài Gòn – SJC cho ra đời sản phẩm vàng miếng SJC đã đáp ứng được lợi ích
và nguyện vọng của người dân khi mua vàng có chất lượng được đảm bảo bằng
một thương hiệu của tổ chức kinh doanh của Nhà nước. Do vậy việc mua bán vàng
miếng SJC trên thị trường phát triển mạnh mẽ đến nay. Sau vàng miếng SJC có vài
có vài thương hiệu vàng miếng khác ra đời nhưng vàng miếng SJC vẫn chi phối
90-95% thị trường vàng miếng trong nước và doanh thu vàng miếng cũng chiếm
tới 70-80% doanh thu mua bán vàng trên toàn thị trường. Khi đó việc gia công
vàng miếng, chuyển đổi vàng nguyên liệu thành vàng SJC tương đối dễ dàng cho
cả các cá nhân và tổ chức kinh doanh vàng. Nhờ nguồn cung vàng miếng SJC luôn
đáp ứng nhu cầu của thị trường, giá vàng trong nước luôn dao động và theo sát giá
vàng thế giới.
- Đến năm 2009, thị trường vàng trong nước vẫn còn ảm đạm, việc mua bán
vàng của người dân chủ yếu là cho tích lũy, trang sức, chưa có hiện tượng đầu cơ
thu gom, thị trường vàng không ảnh hưởng đến tỷ giá ngoại tệ trên thị trường ngoại
hối và thị trường tự do, giá vàng trong nước luôn bám sát, cân bằng và có nhiều lúc
thấp hơn giá vàng thế giới. Giá vàng phiên giao dịch kết thúc của năm 2009 ở mức
1.096,20 USD/ounce, tăng 24,8% trong năm 2009 và là mức tăng giá mạnh nhất
trong vòng 3 thập kỷ.
- Năm 2010, giá vàng thế giới biến động mạnh, phiên giao dịch kết thúc năm
2010 là 1.405,6 USD/ounce , tăng so với phiên cuối năm 2009 là 28,25%. Giá vàng
trong nước cũng biến động theo, nên bắt đầu tạo ra làn sóng đầu cơ vàng và chủ
tỷ USD. Đó là thành công rất lớn của Ngân hàng Nhà nước khi đã tạo được thị
trường ngoại hối ngày một vững chắc, nhập siêu về mức thấp nhất trong 5 năm tính
từ năm 2007.
Trái ngược với kết quả của thị trường ngoại hối, thị trường vàng trong nước
vẫn không được cải thiện và diễn biến phức tạp. Kết thúc năm 2011, giá vàng thế
giới đóng cửa 1574,5 USD/ounce, tăng 16,8% so với giá vàng cuối năm 2010. Giá
vàng miếng trong nước vẫn do hạn chế nguồn cung nên mức chênh lệch giá vàng
trong nước và thế giới nhìn chung phổ biến ở khoảng 2-3 triệu, cao nhất tới hơn 4
triệu đồng/lượng. Hoạt động của một số cá nhân và tổ chức kinh doanh vàng có
yếu tố đầu cơ, chạy theo tâm lý đám đông của giá vàng vẫn tiếp diễn. Mục tiêu
quản lý vàng để kéo giá trong nước và thế giới vẫn không đạt được và ngày càng
xa vời. Các tổ chức, công ty kinh doanh vàng lớn bị “kết tội” đầu cơ và lũng đoạn
giá vàng để kiếm lãi lớn.
- Năm 2012, tỷ giá ngoại tệ với VND tiếp tục ổn định, thị trường ngoại tệ tự do
ổn định, trầm lắng, Ngân hàng Nhà nước đã hoàn toàn làm chủ thị trường ngoại
hối. Việt Nam xuất siêu 284 triệu USD, đây là lần đầu tiên Việt Nam xuất siêu kể
từ năm 1993. Nhờ nguồn ngoại tệ chảy nhiều vào ngân hàng nên dự trữ ngoại tệ
của Ngân hàng Nhà nước đạt kỷ lục theo con số ước tính trên 30 tỷ USD, tăng gần
50% so với năm 2011, một kết quả thành công tốt đẹp, tạo nền tảng vững chắc cho
sự ổn định nền tài chính quốc gia.
Thị trường vàng trong 6 tháng đầu năm 2012 vẫn diễn biến như năm 2011,
chênh lệch giá vàng trong nước và giá vàng thế giới từ 2 - 3 triệu đồng/lượng.
Ngày 3-4-2012, Chính phủ ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt
động kinh doanh vàng. Nghị định có hiệu lực từ 1-10-2012, nguồn cung gia công
vàng miếng SJC chính thức bị thắt chặt hoàn toàn nên thị trường khan hiếm vàng
miếng SJC. Mức chênh lệch giá vàng miếng SJC và thế giới ngày càng lớn và đến
cuối năm 2012 thì chênh lệch là trên 5 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó hệ thống cửa hàng bán lẻ vàng miếng SJC mới theo Nghị định 24
chưa được thành lập nên việc mua bán vàng miếng SJC của người dân hết sức khó
khăn và đẩy giao dịch vàng của người dân ở khắp nơi thành phạm pháp. Các tổ
trách nhiệm xây dựng, trình các cấp có thẩm quyền ban hành chiến lược, kế hoạch
về phát triển thị trường vàng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm
pháp luật về quản lý hoạt dộng kinh doanh vàng theo quy định tại Nghị định này:
bổ sung vàng miếng vào dự trữ ngoại hối Nhà nước; thực hiện can thiệp, bình ổn
thị trường vàng thông qua các biện pháp: (1) Xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên
liệu theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định này; (2) Tổ chức và quản lý sản
xuất vàng miếng thông qua việc quyết định hạn mức, thời điểm sản xuất và phương
thức thực hiện sản xuất vàng miếng phù hợp trong từng thời kỳ. Chi phí tổ chức
sản xuất vàng miếng được hạch toán vào chi phí hoạt động của Ngân hàng Nhà
nước; (3) Thực hiện mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước và tổ chức
huy dộng vàng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Nghị định 24/2012/NĐ-CP khẳng định quyền sở hữu và giao dịch vàng miếng
của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật. Ngân
hàng Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất và nhập khẩu vàng nguyên
liệu để sản xuất vàng miếng, thống nhất quản lý hoạt động kinh doanh vàng nhằm
ổn định thị trường vàng, bảo đảm hoạt động sản xuất gia công vàng trang sức, mỹ
nghệ phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu theo quy định của pháp luật
vì lợi ích chung, bảo đảm không biến quyền kinh doanh vàng miếng thành độc
quyền và mang lại khối lợi nhuận khổng lồ béo bở cho bất kỳ doanh nghiệp hay
một thương hiệu vàng nào.
Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh vàng có liên
quan phải bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung ứng vàng miếng, không
gây ách tắc và méo mó cung - cầu, giá cả thị trường vàng trong nước, bảo đảm
những nguồn lợi từ chênh lệch giá vàng trong nước với giá vàng thế giới phải được
quản lý chặt chẽ và quy tụ thành nguồn thu bổ sung cho ngân sách nhà nước chung
theo quy định của pháp luật.
Tính đến ngày 10/01/2013, Ngân hàng Nhà nước đã cấp phép kinh doanh vàng
miếng cho 22 ngân hàng và 16 doanh nghiệp, với 2.497 điểm kinh doanh tại 63
tỉnh thành trên cả nước (TP. Hồ Chí Minh có khoảng 900 điểm và Hà Nội khoảng
400 điểm). Những đơn vị chưa được cấp phép kinh doanh, mua bán vàng miếng sẽ
đầu là chưa thật thành công do đặt giá chào bán cao hơn 500 nghìn đồng/lượng so
với giá thị trường tại cùng thời điểm, nên chỉ bán được dưới 8% lượng vàng chào
bán và chỉ có dưới 10% đơn vị tham gia trúng thầu. Tuy nhiên, các phiên đấu thầu
vàng về sau đã thành công hơn nhiều cả về quy mô vàng bán ra, cũng như số đơn
vị trúng thầu, đồng thời tạo nguồn thu mới cho Ngân sách Nhà nước.
Đánh giá việc quản lý thị trường vàng theo cơ chế mới, các báo cáo và phát
ngôn chính thức của Ngân hàng Nhà nước đều khẳng định: Ngân hàng Nhà nước
can thiệp thị trường vàng không vì mục tiêu lợi nhuận, đồng thời chỉ theo đuổi mục
tiêu ổn định thị trường, chứ không có mục tiêu ổn định hay là làm cho giá vàng
trong nước hay giá vàng thế giới thu hẹp lại.
Một trong những nội dung bình ổn thị trường vàng mà Nghị định 24 đã làm
được là ổn định được giá vàng trong nước một cách tương đối, làm cho động cơ để
đầu cơ vào vàng khi giá thế giới biến động không còn hấp dẫn như trước đây nữa
và tránh được tác động lên xuống thất thường của giá vàng nước ngoài mà từ đó
ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô.
Về tổng thể, sau một năm thực hiện khuôn khổ pháp lý mới về quản lý thị
trường vàng, quyền sở hữu, tích trữ/ mua bán vàng miếng hợp pháp của người dân
được bảo vệ. Thị trường vàng đã được sắp xếp lại một cách cơ bản, hoạt động ổn
định và vàng không còn ảnh hưởng mạnh tới thị trường ngoại hối như trước dây.
Hoạt động đầu cơ bị đẩy lùi, thị trường, tỷ giá ổn định/ lạm phát được kiểm chế,
ngoài ra, đã mua lại được của dân gần 100 tấn vàng.
Có thể nói, tuyệt đại đa số yêu cầu của Quốc hội về thị trường vàng đã được
thực hiện và bước đầu có kết quả rất tích cực, ngoại trừ thực tế giai đoạn 2012 -
2013, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới ở mức cao hơn nhiều so với
giai đoạn trước. Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, đến nay, toàn bộ hoạt động
nhập vàng do nhà nước đảm nhiệm và toàn bộ chênh lệch giữa giá vàng trong nước
và giá vàng thế giới là thuộc về Ngân hàng Nhà nước để đầu tư lại cho nền kinh tế,
thực hiện các công trình phúc lợi xã hội.
Việc thu hẹp giá vàng trong nước và thế giới không làm bình ổn thị trường
vàng, không loại bỏ được các tác động tiêu cực lên kinh tế vĩ mô, không làm giảm
giá sàn độc quyền cao có mục tiêu, trong bối cảnh các Ngân hàng Thương mại có
nhu cầu cao về vàng miếng để đáp ứng nhiệm vụ tất toán trạng thái vàng trước
30/6/2013 theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước.
Đồng thời, đó còn do hiện tượng các Ngân hàng Thương mại và công ty kinh
doanh vàng trúng thầu trì hoãn hoặc cố tình giảm giá vàng chậm hơn cho lượng
vàng mình tung ra thị trường so với tốc độ sự sụt giảm mạnh bất ngờ, liên tục và
khó đoán định của vàng thế giới, cũng như e ngại rủi ro từ nguyên tắc "không liên
thông" giữa thị trường trong nước với thế giới mà Ngân hàng Nhà nước đang cố
gắng theo đuổi. Tuy vậy, giá vàng miếng trong nước cũng có tính ổn định hơn,
đồng điệu xu hướng, dù với mức giảm nhẹ hơn giá thế giới và hiện đang ở mức
thấp nhất kể từ đầu tháng 7/2011.
Khuôn khổ pháp lý mới đối với quản lý thị trường vàng sau khi Nghị định 24
được ban hành, kết hợp với các biện pháp cụ thể mà Ngân hàng Nhà nước đã triển
khai thực hiện, thị trường vàng trong nước có nhiều chuyển biến rất tích cực so với
trước kia.
Mặc dù giá vàng trong nước và thế giới biến động mạnh, nhưng không như
thời gian trước đây, khoảng cách lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới
không đi kèm với hiện tượng “sốt vàng”, cũng như không kéo theo hiện tượng
nhập lậu vàng qua biên giới; thị trường vàng miếng được minh bạch, quản lý chặt
chẽ đến người mua, người bán cụ thể để chống đầu cơ, làm giá; định hướng chính
sách không khuyến khích người dân đầu tư vào vàng, nhưng chính sách, cơ chế
vẫn tạo điều kiện thuận lợi để người dân được mua bán, tích trữ vàng.
Quản lý thị trường vàng theo Nghị định 24 đã có những tác động tích cực đối
với kinh tế vĩ mô và đối với lợi ích của đa số người dân có đầu tư vàng. Về kinh tế
vĩ mô, tỷ giá và thị trường ngoại tệ tương đối ổn định, không bị tác động tiêu cực
bởi sự biến động của giá vàng. Về lợi ích của người dân, đa số người dân cũng như
đa số doanh nghiệp nói chung sẽ được hưởng lợi trên nhiều phương diện từ sự ổn
định của kinh tế vĩ mô. Đồng thời, đa số người đầu tư vàng sẽ giảm bớt thiệt hại
khi việc mua, bán vàng miếng được thuận tiện với nhiều tổ chức, doanh nghiệp
kinh doanh vàng miếng. Chênh lệch giữa giá bán và giá mua tại cùng thời điểm
sách tiền tệ có hiệu quả, ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước độc quyền
nhập khẩu vàng nguyên liệu, độc quyền sản xuất và quản lý chặt chẽ việc mua, bán
vàng miếng là điều hợp lý, đã có nhiều tác động tích cực và có ít những tác động
tiêu cực nhất trong điều kiện tiền tệ của thị trường Việt Nam giai đoạn vừa qua.
Việc lo lắng về tiếp tục nhập khẩu vàng nguyên liệu, sản xuất vàng miếng, đấu
thầu để cung ứng vàng ra thị trường có thể làm cạn dự trữ ngoại hối nhà nước chưa
thật có cơ sở nếu phân tích toàn diện về thị trường tài chính. Mặc dù Ngân hàng
Nhà nước phải dùng nguồn ngoại tệ thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước để nhập khẩu
vàng, nhưng do quản lý chặt chẽ được thị trường vàng miếng, thị trường ngoại
hối , Ngân hàng Nhà nước thu mua được một quy mô lớn ngoại tệ từ thị trường tự
do.
Giai đoạn trước đây, vàng miếng được coi là hàng hóa thông thường. Khi
chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới ở mức trên 400 nghìn
đồng/lượng, trên thị trường thường xuất hiện tình trạng nhập khẩu vàng lậu. Để ổn
định thị trường trong giai đoạn này, hàng năm Ngân hàng Nhà nước phải cho phép
nhập khẩu bình quân khoảng 50-60 tấn vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng
(nhập lậu cũng khoảng 50-70 tấn). Toàn bộ lượng ngoại tệ để nhập khẩu vàng được
lấy từ nền kinh tế mặc dù Ngân hàng Nhà nước không sử dụng dự trữ ngoại hối để
nhập khẩu vàng. Do vậy, nhập khẩu vàng trên quy mô lớn đã ảnh hưởng nghiêm
trọng đến tỷ giá, CPI, sự ổn định kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô
dự trữ ngoại hối nhà nước.
Thời gian tới, để nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thị
trường vàng; để giá vàng trong nước có thể gần sát với giá vàng thế giới, những
biện pháp mới nhưng vẫn trong khuôn khổ pháp lý của NĐ 24 có thể được Ngân
hàng Nhà nước xây dựng, thực thi. Ví dụ, Ngân hàng Nhà nước nên thành lập
doanh nghiệp đặc biệt, trực thuộc Ngân hàng Nhà nước chuyên về kinh doanh vàng
miếng, không vì mục tiêu lợi nhuận, nhưng phải bảo toàn vốn; có giải pháp hợp lý
để cung ứng nguồn vàng nguyên liệu thường xuyên cho các doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh vàng trang sức; thành lập màng lưới các cơ sở kiểm định chất lượng
vàng tại các tỉnh, thành, thị trấn, huyện .
chính sách và từng bước chủ động vai trò là người kiến tạo và mua bán cuối cùng
trên thị trường; bảo đảm quyền lợi hợp pháp và hài hòa của các chủ thể tham gia
thị trường vàng miếng theo quy định; có những giải pháp thích hợp để huy động
được nguồn vàng trong dân cư phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Các hoạt động đấu thầu vàng miếng sẽ được tiếp tục với sự tuân thủ các nguyên tắc
thị trường ngày càng đầy đủ hơn và sự tham gia rộng rãi, tự do hơn của các đối
tượng và chủ thể thị trường. Các yêu cầu về phương thức thanh toán và cung ứng
vàng trúng thầu cũng cần được nâng cao hơn để bảo đảm an ninh ngoại hối và
quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường này.
Đặc biệt, cần khẳng định mục tiêu cao nhất của quản lý nhà nước đối với thị
trường vàng miếng là góp phần ổn định và dễ dự đoán các động thái thị trường
vàng trong nước theo sát các động thái giá và xu hướng thị trường vàng thế giới;
theo yêu cầu của Quốc hội, cần gia tăng sự liên thông thị trường của vàng trong
nước với vàng quốc tế, từng bước thu hẹp sự cách biệt giá trong nước và quốc tế;
giải tỏa sức ép các yếu tố tâm lý về sự khan hiếm vàng giả tạo, cũng như các hoạt
động đầu cơ, buôn lậu, găm giữ vàng và kỳ vọng tăng giá một chiều trong tương
lai; giảm dần giao dịch vàng miếng để chuyển sang giao dịch tập trung, có tổ chức
các sản phẩm khác của vàng với hệ thống các công cụ bảo hiểm rủi ro; ngày càng
hội nhập và tiếp cận được những sản phẩm tài chính quốc tế; ưu tiên lợi ích ổn
định vĩ mô và cân đối, bảo đảm an toàn dự trữ ngoại hối; ngăn chặn các hiện tượng
liên kết làm giá, giữ giá, đẩy giá trong và sau đấu thầu vàng miếng; giám sát việc
sử dụng vàng và giá bán lẻ đối với lượng vàng trúng thầu; giảm thiểu việc các tổ
chức tín dụng cho vay để kinh doanh vàng; nâng cao hơn các yêu cầu minh bạch
hóa và phòng chống rửa tiền trong kinh doanh vàng
Hơn nữa, cần tránh ngộ nhận và đồng nhất việc độc quyền nhập khẩu và dập
vàng thương hiệu quốc gia giống như độc quyền sản xuất tiền của Chính phủ, càng
không thể quản lý vàng theo thương hiệu quốc gia như một dạng tiền tệ chính thức
quốc gia.
Chủ trương thực hiện quản lý vàng theo Nghị định 24/2012/ NĐ-CP để chống
"vàng hóa'' (nhất là chống việc coi vàng như công cụ thanh toán) là đúng và cần
tin đồn thất thiệt và những hiện tượng lạm dụng để trục lợi cũng quan trọng không
kém trong hoạt động quản lý nhà nước đối với thị trường vàng.
Được biết, với lý do bảo mật thông tin về vàng nhập khẩu, Ngân hàng Nhà
nước đang kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bổ sung mặt hàng vàng nhập khẩu của
Ngân hàng Nhà nước vào danh mục hàng hóa đặc biệt được áp dụng quy chế miễn
khai báo, miễn kiểm tra và miễn báo cáo thủ tục hải quan (cùng danh mục hàng
hóa phục vụ an ninh, quốc phòng như tiền, vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ in,
đúc tiền của Ngân hàng Nhà nước đã được Thủ tướng chấp thuận không phải thực
hiện thủ tục khai báo hải quan) vào Luật Hải quan sửa đổi.
Đồng thời, đề nghị các Bộ Công an, Giao thông vận tải; Tài chính và Tổng cục
Hải quan, Cục Hàng không dân dụng Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Nhà nước
thực hiện tổ chức tiếp nhận, bốc dỡ, vận chuyển và bảo vệ các chuyến hàng đảm
bảo an toàn, bí mật. Thủ tướng đã giao các Bộ Tài chính, Giao thông vận tải, Công
an xem xét, xử lý đề xuất này. Trường hợp vượt thẩm quyền, các Bộ báo cáo Thủ
tướng Chính phủ quyết định.
Trước đó, vào đầu tháng 5/2013, Bộ Tài chính đã công bố Dự thảo quyết định
của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với
vàng nguyên liệu xuất khẩu, nhập khẩu của Ngân hàng Nhà nước trực tiếp hoặc ủy
thác xuất khẩu, nhập khẩu. Theo đó, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng ban hành
quyết định miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với vàng nguyên liệu xuất
khẩu, nhập khẩu của Ngân hàng Nhà nước, mà không phân biệt hàm lượng vàng
của vàng nguyên liệu khi xuất khẩu, nhập khẩu.
Có thể thấy, những đề nghị và điều chỉnh trên, bên cạnh những tác động tích
cực là tạo thuận lợi và an toàn cho quản lý vàng theo yêu cầu nghiệp vụ và theo
tinh thần Nghị định 24/2012/NĐ-CP, song cũng cần có sự cân nhắc kỹ và nhất là
cần chủ động xây dựng và thực hiện tốt các cơ chế kiểm soát, giám sát và giải pháp
phòng ngừa các tác động mặt trái, nhất là hiện tượng lạm dụng, buôn lậu vì mục
đích trục lợi cá nhân hay lợi ích nhóm, vi phạm pháp luật, làm tổn hại lợi ích và an
ninh quốc gia.
Qua thời gian, chắc chắn khuôn khổ thể chế về quản lý thị trường vàng nói
cách nhanh chóng, khai thông các luồng đầu tư vốn. Cần nghiêm túc nghiên cứu
vấn đề này.
• Chưa nên áp dụng các sản phẩm phái sinh trên thị trường vàng trong điều
kiện hiện nay, vì về mặt quản lý là chưa đủ sức, về mặt kinh doanh là chưa đủ điều
kiện phòng chống rủi ro. Hơn nữa, sản phẩm phái sinh đang cần có thời gian đánh
giá lại trên thế giới về vai trò thực sự của nó trên các thị trường tài chính.
- Nên cho phép xuất nhập khẩu vàng như loại hàng hóa thông thường, vấn đề
là chính sách thuế và phí đối với xuất nhập khẩu vàng. Nên sử dụng công cụ thị
trường trong quản lý vàng, hơn là dùng các quyết định hành chính. Có như vậy, sự
khác biệt giữa vàng trong nước và quốc tế sẽ giảm dần, từ đó giảm hoạt động đầu
cơ lũng đoạn thị trường.
Trong các loại vàng xuất khẩu, có thể cho phép xuất khẩu vàng miếng thay vì
vàng trang sức và vàng nguyên liệu, vì điều này gây tốn kém về chi phí cho doanh
nghiệp xuất nhập khẩu vàng.
Tóm lại, vàng là loại hàng hóa có tính lưu động cao nhất trong các loại tiền tệ.
Trong lịch sử, người ta đã 4 lần thử loại bỏ vai trò tiền tệ của vàng nhưng đều
không thành công. Đối xử với vàng, vì vậy, không chỉ là như hàng hóa thông
thường, mà cái chính là phải xem nó là hàng hóa tiền tệ, không thay đổi dù chỉ là
chút ít vai trò thống soái hiển nhiên của nó. Điều này đặt cho chúng ta những suy
ngẫm nghiêm túc trong việc xây dựng thị trường vàng, trong dự trữ nhà nước của
Việt Nam thời gian tới để tránh các biện pháp tức thời tới vàng - VND - tỷ giá - lãi
suất…
3.3 Bài học về quản lý thị trường vàng ở Trung Quốc và Ấn Độ:
3.3.1 Kinh nghiệm quản lý thị trường vàng của Trung Quốc
Tại Trung Quốc, hoạt động kinh doanh vàng được thống nhất quản lý bởi đầu
mối duy nhất là Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (People’s Bank of China-PBOC –
Ngân hàng Trung ương của Trung Quốc). Trong giai đoạn từ năm 1949 đến 2001,
Trung Quốc thực hiện kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng, PBOC đóng
vai trò độc quyền thị trường vàng trong nước. Tuy nhiên, cùng với việc tự do hóa
thị trường tài chính, Trung Quốc đã có những bước tiến mạnh mẽ trong việc tự do
Mặt khác, cơ chế độc quyền trong phân phối và kiểm soát giá đã làm cho giao dịch
trên thị trường bị méo mó, giá cả không tuân theo quy luật cung cầu trong khi nhu
cầu vàng người dân lại ngày càng cao. Tình trạng này làm tăng lượng vàng nhập
lậu kém chất lượng từ các nước có chung đường biên giới với Trung Quốc. Nhận
thấy tình hình tiêu cực trên, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã đổi mới, từng
bước xóa bỏ cơ chế độc quyền trong sản xuất, kinh doanh và phân phối vàng.
- Giai đoạn từ 2001-2006: Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001. Đây cũng là năm đánh dấu mốc
quan trọng trong việc tự do hoá thị trường vàng của Trung Quốc. Tháng 4/2001,
Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa lần đầu tiên chính thức công bố kế hoạch xoá bỏ
cơ chế quản lý độc quyền trong mua và phân phối vàng, bãi bỏ việc kiểm soát và
ấn định giá vàng cũng như giảm thuế suất. Hiệp Hội Vàng Trung Quốc (CGA) và
Sở/Sàn giao dịch vàng Thượng Hải (Shanghai Gold Exchange - SGE) được thành
lập. Đây được coi là bước đột phá trong chính sách quản lý thị trường vàng của
Trung Quốc sau hơn 50 năm thực hiện kiểm soát chặt chẽ.
Đặc biệt, vào tháng 11/2001 Trung Quốc xoá bỏ chế độ cấp phép đối với hoạt
động sản xuất, bán buôn và bán lẻ vàng trong nước. Tuy nhiên, doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài vẫn chưa được phép tham gia vào lĩnh vực này.
3.3.2 Kinh ngiệm quản lý thị trường vàng của Ấn Độ:
• Chính sách quản lý thị trường vàng và “chống vàng hóa” của Ấn Độ
Từ tháng 3/2012 trở lại đây, Chính phủ và Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (The
Reserve Bank of India – RBI – Ngân hàng Trung ương của Ấn Độ) dồn dập đưa ra
các quy định mới để tăng cường quản lý thị trường vàng, thậm chí kêu gọi người
dân bớt “yêu” vàng, và không mua vàng, bên cạnh việc sử dụng tiết kiệm xăng
dầu. Ngày 21/3/2012, RBI ra quy định các công ty tài chính phi ngân hàng không
được cho vay dựa trên tài sản đảm bảo bằng vàng miếng và tiền xu vàng. Trong
báo cáo định kỳ ngày 30/10/2012, RBI quan ngại việc nhập khẩu vàng tăng mạnh
trong những năm gần đây do các ngân hàng cho vay mua vàng dưới mọi hình thức
và điều này thúc đẩy nhu cầu vàng nhằm mục đích đầu cơ. Đến tháng 11/2012,
RBI chính thức có quy định cấm các ngân hàng cho vay để mua vàng dưới mọi
Ngày 22/6/2013, RBI yêu cầu các nhà nhập khẩu phải tái xuất ít nhất 20%
lượng vàng nhập khẩu – thường là đồ trang sức. Sau đó, ngày 30/8/2013, RBI lại
tiếp tục tăng thuế nhập khẩu vàng từ 8% lên 10%.
Có nhiều điểm tương đồng trong các chính sách tăng cường quản lý thị trường
vàng của Ấn Độ giống với Việt Nam, đó là cùng theo hướng siết chặt, cắt bỏ dần
hoạt động cho vay bằng vàng, cho vay thế chấp bằng vàng, cũng như hạn chế việc
nhập khẩu vàng. Chính phủ Ấn Độ gần đây tuyên bố có thể sẽ áp dụng thêm các
biện pháp hạn chế nhập khẩu vàng hơn nữa cho đến khi lượng vàng vật chất nhập
khẩu đạt ở con số mong muốn.
Tuy nhiên, tại Ấn Độ, sự say mê giao dịch vàng vẫn được duy trì bất chấp các
biện pháp tăng thuế nhập khẩu của chính phủ với mục tiêu cắt giảm thâm hụt cán
cân vãng lai. Theo Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), trên thực tế, nhu cầu vàng
trang sức, vàng thỏi và tiền xu vàng tại Ấn Độ trong quý 2/2013 vẫn tăng mạnh so
với cùng kỳ năm ngoái, ngay cả khi các biện pháp tăng thuế được áp dụng, cho dù
nhập khẩu vàng giảm mạnh trong quý 3/2013 theo số liệu nhập khẩu chính thức.
Lực mua vàng kỷ lục này không xuất phát hoàn toàn từ “tình yêu” vàng. Chắc
chắn người dân quyết định mua vàng một phần là do lo ngại nghèo đói cũng như
sự bất ổn trong các chính sách của chính phủ. Một chính sách tốt có thể kích thích
kinh tế tăng trưởng và khiến thị trường phản ứng tốt. Một chính sách tồi lại đem
đến những hậu quả trái ngược. Khi người dân mua vàng cho người thân và bạn bè,
cũng là lúc họ mua vàng với mục đích bảo vệ. Trong vòng 3 năm qua, từ tháng
8/2010 đến tháng 8/2013, lợi nhuận từ vàng ở Ấn Độ tính theo đồng Rupee – một
đồng tiền yếu so với USD - là 49,5%, trong khi đó lợi nhuận của vàng tính theo
đồng USD ở Mỹ chỉ là 12,4%.
Theo Thomson Reuters GFMS, tổng hợp số liệu của Hội đồng vàng Thế giới,
năm 2012 có 102 tấn vàng nhập lậu vào Ấn Độ. Năm 2013, các nhà bán lẻ và các
trung tâm bán vàng miếng dự đoán vàng nhập lậu vào Ấn Độ có thể lên tới 140
tấn, tăng 40% so với năm ngoái.
• Kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc huy động vàng
Để thu hút một phần khối lượng vàng của quốc gia do tư nhân nắm giữ (hiện
Tuy nhiên, việc huy động vàng ở Ấn Độ cũng có một số vấn đề đặt ra là:
(i) Nhu cầu mua vàng miếng sẽ tương ứng với số lượng vàng gửi vào ngân
hàng thương mại (NHTM) nên không làm giảm được sự phụ thuộc vào vàng miếng
nhập khấu.
(ii) Chính phủ sẽ mất tiền nếu đồng Rupee giảm giá trị mạnh so với Đô la Mỹ
hoặc giá vàng tăng mạnh trong suốt thời hạn gửi vàng.
(iii) Mất khoản thu thuế đối với lãi gửi vàng trong khi có thể đánh thuế đối với
lãi tiền gửi Rupee.
(iv) NHTW Ấn Độ có lượng vàng dự trữ khoảng 557,7 tấn vàng (năm 2009).
Số vàng này đang không mang lại lợi nhuận cho NHTW Ấn độ, tuy nhiên họ đã
chọn việc cho phép NHTM đi vay vàng từ người dân và trả lãi suất. Nếu số vàng
huy động tăng lên và NHTW cung cấp hợp đồng bán vàng kỳ hạn cho ngân hàng
huy động thì có nghĩa là NHTW đã bán khoản dự trữ ngoại hối của mình và có thể
phải giao vàng trong tương lai.
3.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam:
Thị trường vàng Việt Nam hiện nay có quy mô khoảng 40 tỷ USD, vẫn rất nhỏ
bé nếu xét trên bình diện toàn thế giới. Theo đánh giá của Hội đồng Vàng Thế giới,
thị trường vàng Việt Nam là một thị trường nhiều tiềm năng, tuy nhiên vẫn còn
kém phát triển, mang nặng tính thủ công, chưa áp dụng được các công nghệ sản
xuất và nghiệp vụ kinh doanh hiện đại trên thị trường quốc tế.
Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thị trường vàng và huy động vàng của quốc
tế, đặc biệt kinh nghiệm của Trung Quốc và Ấn Độ, có thể rút ra các bài học sau.
(i) Thị trường vàng cần quản lý theo quy luật cung – cầu trên cơ sở liên thông,
gắn kết với thị trường vàng thế giới. Tuy nhiên, do vàng là tài sản quốc gia và là
hàng hóa mang tính tiền tệ đặc biệt nên Nhà nước có cơ chế quản lý sao cho huy
động tối đa nguồn lực này phục vụ mục tiêu phát triển và bình ổn kinh tế vĩ mô, có
thể điều tiết được thị trường khi cần.
(ii) Cùng với quá trình tự do hoá thị trường tài chính, thị trường vàng cũng cần
tự do từng bước nhằm phù hợp với trình độ phát triển chung của thị trường tài
chính. Theo kinh nghiệm của nhiều nước trong đó có Trung Quốc, tiến trình tự do
/>hien-Nghi-dinh-24/32470.tctc
/>Viet-Nam-nhin-tu-Nghi-dinh-242012NDCP/31783.tctc
/>option=com_content&view=article&id=1497&catid=43&Itemid=9
/>truong-vang-trung-quoc-va-an-do-2866678.html