Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống vô tính hoa thược dược lùn bằng phương pháp giâm cành tại Việt Trì Phú Thọ - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến vẻ đẹp thiên nhiên, không thể không nhắc đến hoa. Hoa là sự
chắt lọc kỳ diệu nhất những tinh túy mà thế giới cỏ cây ban tặng cho con
người. Mỗi loài hoa ẩn chứa một vẻ đẹp, một sức quyến rũ riêng mà qua đó
con người có thể gửi gắm tâm hồn mình.
Hoa không chỉ đem lại cho con người sự thư thái thoải mái khi thưởng
thức mà nó còn đem lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất hoa. So với các
lĩnh vực nông nghiệp khác, hoa cây cảnh là một ngành kinh tế còn non trẻ
nhưng những năm qua đã phát triển với tốc độ mạnh mẽ nhờ giá trị mà nó đem
lại, giá trị sản lượng hoa cây cảnh toàn thế giới năm 2010 đạt hơn 100 tỷ USD.
Hoa thược dược có nguồn gốc từ Mêxico. Hiện nay đã được trồng phổ
biến nhiều nước trên thế giới: Hoa Kỳ, Anh, Australia, Mexico, Tây Ban Nha,
… Đặc biệt được chọn làm quốc hoa của Mexico
Thược dược cũng được người dân Việt Nam ưa chuộng và trồng khá
phổ biến ở một số vùng chuyên canh trồng hoa. Tuy nhiên các giống thược
dược trồng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là các giống hoa cũ, sử dụng với
mục đích cắt cành là chính, hoa thược dược trồng chậu gần như chưa có,
trong khi đó nhu cầu chơi hoa chậu đang có xu thế tăng cao. Hoa thược dược
lùn sử dụng trong trồng chậu mới được đưa vào sử dung, tuy nhiên vẫn chưa
có những nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật nhân giống.
Phú Thọ là một tỉnh trung du, có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong đó phát triển cây hoa thược dược trồng
chậu có rất nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, giống hoa thược dược lùn hiện nay
chủ yếu là nhập từ nơi khác về, đôi khi người dân không chủ động về nguồn
giống. Do vậy việc nghiên cứu sản xuất hom giống nhằm hạ giá thành sản
xuất, chủ động cung ứng giống cho thị trường là rất cần thiết. Xuất phát từ
1
thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện
quy trình nhân giống vô tính hoa thược dược lùn bằng phương pháp giâm
cành tại Việt Trì - Phú Thọ”.

- Thược dược cánh dẹt.
- Thược dược lai Dahlia Hybisty
- Thược dược tổ ong (Dahlia Ponyron)
- Thược dược lùn nhiều màu và sặc sỡ, chịu đựng thời tiết bất thuận,
sinh trưởng, phát triển mạnh.
Thược dược ở Việt Nam có hai giống hoa đơn và hoa kép. Giống hoa
đơn có một vòng cánh, màu sắc đẹp. Giống hoa kép có nhiều hình dáng và
màu sắc.
1.1.2. Đặc điểm sinh trưởng
Cây thược dược ở nước ta có hai giống hoa đơn và hoa kép. Giống hoa
đơn, còn mang tính chất của tổ tiên chỉ có một vòng cánh, màu sắc cũng đẹp,
3
song từ lâu ít thấy. Giống hoa kép rất đẹp, nhiều hình dáng và màu sắc. Có
giống cánh rối, cánh hoa như bị xé nhỏ, có giống cánh hoa xếp như tổ ong. Có
giống màu tím, màu đỏ cờ, đỏ tươi, màu nhung, tiết dê, huyết dụ, màu da
cam, màu gạch cua, cánh sen thẫm, cánh sen nhạt, trắng sữa, trắng trong, vàng
đậm, vàng hoàng yến.
Hoa nở rực rỡ song rất tiếc là không có mùi thơm. Đặc điểm riêng biệt
là lá mọc đối, có rễ củ phình to chứa chất dự trữ. Rễ ăn ngang nên đòi hỏi đất
tốt, sâu, pH trung tính. Cũng như đã số các cây họ cúc, thược dược cũng đòi
hỏi điều kiện nhiệt độ thấp và ánh sáng ngày ngắn để ra hoa, nên thời vụ chủ
yếu là vụ Đông xuân. Thược dược cho hoa từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Muốn cho hoa nở đúng tết, người ta thường trồng cây con vào đâu tháng 10
âm lịch rồi dựa vào các giống mà tiến hành bấm ngọn
Cây thân thảo cao 0,8 - 1m, có củ. Lá kép không lông, lá chét hình
trứng, có khi là lá đơn, mặt trên màu lục, mặt dưới màu nhạt. Hoa đầu to và
có cuống dài, bao chung gồm hai hàng lá bắc, hàng trong to và mỏng, hàng
ngoài nhỏ và dày. Quả không có mào lông hoặc chỉ có những vẩy nhỏ.
1.2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất hoa trồng chậu ở Việt Nam
Những năm giữa thập kỷ 1990 đánh dấu một sự khởi đầu mới của

Minh, Đà Lạt… Tuy nhiên, diện tích trồng thược dược còn nhỏ, chưa đáp ứng
đủ nhu cầu thị trường. Theo Sở NN&PTNT Hà Nội, năm 2011, diện tích
trồng hoa, cây cảnh là 2.009ha, trong đó có 68,9% diện tích (1.350ha trên 42
vùng tập trung, diện tích 20ha/vùng) tại 18 xã của 5 quận, huyện: Từ Liêm,
Mê Linh, Tây Hồ, Đan Phượng, Thường Tín. Còn lại hoa được trồng phân tán
tại các xã, phường, sản xuất nhỏ lẻ, một số diện tích mới chuyển từ cây trồng
kém hiệu quả sang trồng hoa. Các chủng loại hoa, cây cảnh chính của Hà Nội
là hoa hồng 770ha, chiếm 38,3%; cúc 450ha, chiếm 22,4%; đào 288,2ha,
chiếm 14%; đồng tiền 179,5ha, chiếm 8,9%; quất 184,7ha, chiếm 8,2%; lily,
5
lan 14,4ha, chiếm 0,7%; Các chủng loại hoa khác như thược dược, lay ơn,
cẩm chướng… có 67,3ha, chiếm 3,3% diện tích. Trung bình hằng năm sản
xuất hoa, cây cảnh đã cung ứng cho thị trường 1.000 - 1.100 triệu cành hoa,
khoảng 1 triệu chậu hoa và 1,2 triệu cây cảnh các loại.
Trong những năm gần đây nhu cầu đời sống ngày càng cao, bên cạnh
phát triển hoa theo truyền thống, một hướng trồng hoa mới ngày càng được
nhiều người tiêu dùng quan tâm là trồng hoa chậu. Trước đây, trồng hoa chậu
chỉ phát triển hạn hẹp trong phạm vi gia đình, số lượng nhỏ để đáp ứng nhu
cầu giải trí tô đẹp cho ngôi nhà. Hiện nay, trồng hoa chậu đã vượt ra khỏ
không gian gia đình để phát triển thành ngành kinh doanh mang lại hiệu quả
kinh tế cao.
Đứng trước nhu cầu ngày càng cao của thị trường, nhiều giống hoa mới
phục vụ cho ngành sản xuất hoa chậu đã được nhập nội đáp ứng đòi hỏi của
khách hàng. Hiện nay có rât nhiều loại hoa thích hợp cho trồng chậu:
- Hoa Kiết tường (Lisianthus): phù hợp hoa sử dụng cắt cành hoặc hoa
trồng chậu… Hoa kiết tường có nhiều loại: cánh đơn, cánh kép màu sắc đa
dạng, phong phú: màu đồng nhất như tím, hồng, trắng, vàng hoặc pha trộn
nhiều màu. Khi hoa tàn có thể cắt ngang để tái sinh chồi mới.
- Hoa Băng xê (Viola): với sự phát triển của ngành lai tạo hiện nay thị
trường hoa rất đa dạng màu sắc, trồng hoa chậu có thể trồng một màu hoặc

hạt phải chờ thời gian quá lâu, không thể đạt được yêu cầu mọc nhanh; một số
loài hoa quý khi gieo hạt có thể làm thoái hóa chất lượng. Lúc đó phải dùng
phương pháp nhân gióng vô tính để làm tăng số lượng cây hoa.
Nhân giống vô tính là biện pháp chủ yếu trong trồng trọt vì biện pháp
này sẽ tạo ra sự đồng đều về hình thái, giữ được đặc trưng đặc tính của cây
mẹ, năng suất chất lượng cao và ổn định, hệ số nhân giống cao. Để giâm hom
7
đạt kết quả tốt cần phải đảm bảo đầy đủ yêu cầu của cơ sở kỹ thuật giâm hom.
Theo Hartmen và Kester (1988) cho biết có 3 nguồn nhân tố chính ảnh hưởng
tới kết quả giâm hom: Vật liệu dùng để giâm, kỹ thuật xử lý hom giâm và môi
trường giâm.
Nhân giống vô tính cây trồng là phương pháp tạo cây con từ các cơ
quan, bộ phận dinh dưỡng của cây như cành, thân, rễ, lá, củ Ðây là hình
thức nhân giống phổ biến ở nhiều loại cây trồng. Có hai hình thức nhân giống
vô tính: Nhân giống vô tính tự nhiên và nhân giống vô tính nhân tạo
1.3.1. Nhân giống vô tính tự nhiên
Là hình thức nhân giống mà con người lợi dụng khả năng sinh sản dinh
dưỡng của cây trồng, lợi dụng khả năng phân chia các cơ quan dinh dưỡng
của cây trồng để hình thành một cá thể mới có khả năng sống độc lập với cây
mẹ và mang các tính trạng của cây mẹ.
* Phương pháp tách cây
Phương pháp này đơn giản, giữ được đặc tính ưu việt của cây mẹ, bộ rễ
phát triển, dễ sống và mọc nhanh. Phương pháp này thích hợp với các loài cây
bụi và cây có rễ chùm.
Thời gian tách cây tùy theo từng loài hoa: Hoa nở mùa xuân tách vào mùa
thu (tháng 10 - 11) hoa nở vào mùa thu tách cây vào mùa xuân (tháng 3 - 4).
Có hai phương pháp tách cây:
- Đào cây lên, bỏ đất để lộ rễ, cắt rời các bộ phận rễ cây con từ cây mẹ,
làm như vậy không ảnh hưởng đến cây mẹ, bảo vệ được sự hoàn chỉnh của bộ
rễ.

nguồn giống chất lượng, mà còn có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây
so với nhân giống từ hạt, nuôi cấy mô tế bào.
Đối với thực vật nói chung, để duy trì nòi giống của mình chúng đều
phải thông qua cơ quan sinh sản, hoặc chúng có khả năng tái sinh từ bộ phận
9
của các cơ quan sinh dưỡng như lá, chồi rễ, thân Nếu đưa các bộ phận của
chúng vào môi trường thích hợp nó sẽ phát triển thành rễ, mầm và hình thành
cây con. Khi mô tế bào thực vật bậc cao bị thương thì vách tế bào sẽ hóa bần
làm cho tế bào sống tách rời nhau. Các tế bào sống còn lại phân chia nhiều lần
song song với mặt cắt để hàn kín vết thương. Loại mô đó gọi là mô sẹo
(callus). Haber Landt (1921) cho rằng, khi tế bào nhu mô hình thành mô sẹo
thì các tế bào bị thương hình thành một loại vật chất xâm nhập vào các tế bào
mô vĩnh cửu chưa bị thương xung quanh, gây sựn kích thích phân sinh, chât
đó gọi là thương kích tố (Wuond - hormones). Thường kích tố nếu phát sinh ở
miệng vết thương có libe thì có một chất gọi là thương kích tố libe
(Leptohormone). Nói một cách khác, những tế bào ở bề mặt vết cắt vốn đã
ngừng phân chia, nhưng do bị tổn thương gây kích thích nên bắt đầu phân
chia trở lại, cùng với sự biến đổi của các tế bào tượng tầng và các tế bào nhu
mô ở cạnh, mô sẹo được hình thành. Sự hình thành mô sẹo ở các cành non
thường mạnh hơn cành già. Mô sẹo lúc đầu là một khối tế bào nhu mô ( vách
mỏng) sau đó phân hóa thành mô dẫn, tượng tầng và hình thành điểm sinh
trưởng, từ điểm sinh trưởng phát triển rễ bất định (Hoàng Minh Tấn, 2006).
Phương pháp giâm hòm có: Giâm cành, giâm lá, giâm chồi và giâm rễ.
Trong đó giâm cành tốc độ sinh sản nhanh hơn, hiệu quả tốt hơn cả.
- Giâm lá: Chọn lá, cắt vát gân lá cắm cuống lá vào đất ẩm phần cắt
phủ cát lên, hai bên lá đặt hai tấm kính làm cho lá dính vào cát sau một thời
gian bỏ kính ra.
- Giâm cành: Đất dùng để giâm cành thường là đất cát. Giâm cành phải
chọn cành khoẻ của năm hiện tại, lấy phần ngọn cành hoặc phần giữa để làm
cành giâm. Cành giâm của cây thân cỏ có độ dài là 12 - 14 cm, cây thân gỗ có

lộ những nhược điểm như: Do thụ phấn tự do trong tự nhiên nên dễ lẫn giống,
11
cây con không đồng đều, năng suất thấp, hạt hoa thường nhỏ, không hoàn
chỉnh nên tỷ lệ nảy mầm thấp.
1.4.2. Giâm cành
Các giống hoa thược dược kép nhân giống bằng chồi mầm hoặc chồi
ngọn, chồi nách. Khoảng tháng 4 - 5 khi cây thượt dược không cho hoa nữa
thì cắt bỏ thân, chừa lại 20 - 30cm, đánh cây cả bầu, cất vào chỗ râm mát
hoặc đủ đất bó thành từng bó, cất vào trong nhà. Đầu tháng 8 đem củ trồng,
nếu mất đoạn gốc cây, tự củ không thể phát chồi mầm được chăm sóc tốt,
sau 15 - 20 ngày từ các đốt thân mọc lên các chồi mầm. Cứ 12 - 15 ngày lấy
chồi mầm một lần đem giâm. Nếu đất ở nơi cao ráo, để nguyên cả cây, mùa hè
cần có các cây cao để che râm. Tháng 7 - 8 cây phát chồi mầm, tách lấy nhiều
chồi có 4 - 6 lá.
Giâm vào khay cát hay nền cát tưới ẩm và che nắng 6 - 7 ngày chồi
mầm ra rễ. Chọn cây có rễ "răng cá”, tức là rễ mới ra còn trắng sữa đem
trồng, cây sẽ khỏe mau hồi và lên tốt.
Cũng như đã số các cây họ cúc, thược dược cũng đòi hỏi điều kiện
nhiệt độ thấp và ánh sáng ngày ngắn để ra hoa, nên thời vụ chủ yếu là vụ
Đông xuân. Thược dược cho hoa từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Muộn cho
hoa nở đúng tết, người ta thường trồng cây con vào đầu tháng 10 âm lịch rồi
dựa vào các giống mà căn ngày bấm ngọn.
Phương pháp nhân giống thược dược bằng cành đơn giản, dễ làm,
không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, bà con nông dân có thể tự sản xuất được cây
giống có chất lượng mà vẫn giữ được những đặc tính di truyền tốt của giống
gốc. Qui trình gồm các bước [8]:
- Chuẩn bị vườn cây mẹ: Nếu cần trồng từ 15-20 ha hoa thược dược
cần có 1 ha vườn giống cây mẹ đảm bảo chất lượng, sạch sâu bệnh. Ngoài
tiêu chuẩn của vườn sản xuất hoa, việc bố trí lựa chọn vườn cây mẹ phải
đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật như cao ráo, kín gió, gần đường để thuận tiện

kích thích sinh trưởng như IAA, IBA hoặc NAA pha loãng nồng độ từ 25 đến
50ppm, nhúng gốc cành vào dung dịch trong 10-15 giây để kích thích cây
nhanh ra rễ.
13
- Giâm cành: Cắm gốc cành sâu 1,5 - 2cm trên nền luống hoặc trong
các khay nhựa chuyên dụng có chứa cát sạch. Có thể giâm bằng 2 cách: giâm
khô (cắm gốc cành vào cát sạch rồi tưới nước) hoặc giâm ướt (tưới đẫm nước
cho cát ẩm rồi giâm cành). Thời gian cho cành giâm ra rễ khoảng từ 10-15
ngày tùy theo thời tiết (mùa nóng và mùa lạnh mất từ 15-20 ngày, những
tháng mát mẻ chỉ mất từ 7-10 ngày) do đó cần căn cứ thời vụ trồng sản xuất
để bố trí giâm cành cho thích hợp. Thường xuyên tưới đủ nước bằng cách
phun sương cho cành giâm nhanh ra rễ (những ngày đầu phun 3-4 lần/ngày,
những ngày sau phun giảm dần nhưng vẫn đảm bảo cho lá luôn xanh tươi).
Cắt bỏ những lá vàng, lá già, phun bổ sung phân bón lá khi cành đã hồi phục
và ra rễ cho cây sinh trưởng tốt. Sau 12-15 ngày kể từ khi giâm, mỗi cây cho
3-5 rễ dài 2-3cm, lá ổn định là có thể bấng đem trồng ra vườn sản xuất được
14
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hoa Thược Dược lùn TDL-03: Có khả năng sinh trưởng, phát triển
tốt, tỷ lệ sống cao > 90%, thời gian từ trồng đến ra hoa 80-90 ngày, chiều cao
cây từ 30-32 cm, đường kính tán từ 28-30 cm, phù hợp với trồng trong chậu,
khả năng nhiễm sâu bệnh hại ở mức thấp, hoa có màu đỏ, thời gian sử dụng
hoa chậu từ 20-25 ngày.
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013
- Địa điểm: Nhà lưới, Trung tâm thực nghiệm Trường Đại học Hùng
Vương
2.3. Nội dung nghiên cứu

CT4: Thuốc kích thích Dana 08
2.4.1.3. Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến khả năng tái
sinh của cành giâm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD) với 4
công thức và 3 lần nhắc lại.
CT1: Đất phù sa (Đ/C)
CT2: Cát sạch
CT3: Cát : Đất phù sa (1:1)
CT4: Cát : Đất phù sa : Trấu hun (1:1:1)
2.4.1.4. Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi chồi đến khả năng tái
sinh của cành giâm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD) với 5
công thức và 3 lần nhắc lại.
16
CT1: Chồi có 1 lá thật
CT2: Chồi có 2 lá thật(Đ/C)
CT3: Chồi có 3 lá thật
CT4: Chồi có 4 lá thật
CT5: Chồi có 5 lá thật
2.4.1.5. Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ che sáng đến khả
năng tái sinh của cành giâm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD) với 5
công thức và 3 lần nhắc lại.
CT1: Không che (Đ/C)
CT2: Che 80%
CT3: Che 60%
CT4: Che 40%
CT5: Che 20%
2.4.1.6. Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đế khả
năng tái sinh của cành giâm

cắm hom 10 ngày), 5 ngày theo dõi một lần.
Tỷ lệ sống (%) =
Tổng số hom sống
x 100
Tổng số hom theo dõi
- Chiều cao cây: Tại mỗi ô lấy 5 điểm ngẫu nhiên theo phương đường
chéo. Tại mỗi điểm chọn 2 cây để quan sát. Đo từ vết cắt hom đến đỉnh sinh
trưởng. Tính trị số trung bình.
- Số lá: Tại mỗi ô lấy 5 điểm ngẫu nhiên theo phương đường chéo. Tại
mỗi điểm chọn 2 cây để quan sát. Đếm trực tiếp số lá trên thân. Tính trị số
trung bình
- Đường kính thân: Tại mỗi ô lấy 5 điểm ngẫu nhiên theo phương
đường chéo. Tại mỗi điểm chọn 2 cây để quan sát. Dùng thước pamel đo
đường kính thân. Tính giá trị trung bình
- Tỷ lệ cây xuất vườn :
Tỷ lệ xuất vườn (%) =
Tổng số hom xuất vườn
x 100
Tổng số hom theo dõi
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
18
3.1. Ảnh hưởng vị trí chồi mầm đến khả năng nhân giống của hoa thược
dược lùn TDL-03 vụ thu đông năm 2012
3.1.1. Ảnh hưởng vị trí chồi mầm đến tỷ lệ ra rễ, tỷ lệ nảy mầm, tỷ lệ sống
giống hoa thược dược lùn TDL-03
Khả năng nảy mầm là một trong những yếu tố rất quan trọng, nó đánh
giá chất lượng xuất vườn cũng như khả năng sinh trưởng phát triển của hom
giống trong giai đoạn sau này. Qua nghiên cứu thí nghiệm, kết quả về tỷ lệ ra
rễ và nảy mầm của các công thức thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.1

Tỷ lệ xuất vườn là một chỉ tiêu quan trọng được người nông dân quan
tâm, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế. Qua theo dõi ảnh hưởng của
vị trí chồi mầm đến một số chỉ tiêu xuất vườn và tỷ lệ xuất vườn ở các công
thức thí nghiệm chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 3.2:
Bảng 3.2: Ảnh hưởng vị trí chồi mầm đến tỷ lệ xuất vườn và một số chỉ
tiêu xuất vườn giống hoa thược dược lùn TDL-03
Công
thức
Tỷ lệ xuất
vườn (%)
Chiều dài
hom (cm)
Số lá/
hom (lá)
Đường
kính hom
(cm)
Thời gian
xuất vườn
(ngày)
1 (ĐC) 84,44 8,47 8,00 0,52 24
2 74,44 7,53 6,00 0,53 30
3 68,89 7,57 5,33 0,43 35
4 37,78 7,00 4,67 0,45 35
LSD
0,05
13,43 1,47
CV% 4,7 4,2
Qua bảng 3.2 cho thấy: Tỷ lệ xuất vườn của các công thức tham gia thí
nghiệm biến động từ 37,78 - 84,44%. Trong đó công thức 3 và công thức 4 có

Sau giâm … (ngày)
3 5 7
1 (ĐC) 0,00 33,33 66,67
2 6,67 63,33 96,67
21
3 3,33 63,33 86,67
4 0,00 60,00 76,67
LSD
0,05
10,87
CV% 7,1
Qua bảng số liệu 3.3 cho thấy :
- 3 ngày sau khi cắm hom tỷ lệ ra mô sẹo ở các công thức tham gia thí
nghiệm có sự chênh lệch biến động từ 0% - 6,67%. Trong đó cao nhất là công
thức 2 (6,67%) và thấp nhất là công thức đối chứng và công thức 4 (0%).
- 5 ngày sau cắm hom tỷ lệ ra mô sẹo ở các công thức xử lý thuốc kích
thích ra rễ có tỷ lệ tăng rõ rệt so với 3 ngày sau khi cắm hom biến động từ
33,33 % - 63,33%. Trong đó cao nhất là công thức 2 và công thức 3 đều là
63,33% , thấp nhất là công thức đối chứng (33,33%).
- 7 ngày sau khi cắm hom tỷ lệ ra mô sẹo ở các công thức biến động từ
66,67% - 96,67 % . Trong đó thấp nhất là công thức đối chứng (66,67%) và
cao nhất là công thứ 2 (cao hơn đối chứng 30%), tiếp đến là công thức 3 (cao
hơn đối chứng 20%) cao hơn hẳn so với đối chứng ở mức tin cậy 95%.
Ảnh hưởng của loại thuốc kích thích ra rễ đến tỷ lệ ra mô sẹo giống
thược lùn TĐL-03 được thể hiện ở hình 3.1:
22

Hình 3.1: Biểu đồ ảnh hưởng của các loại thuốc kích thích ra rễđến tỷ lệ
ra mô sẹo giốngthược dược lùn TDL-03 vụ thu đông năm 2012
3.2.2 Ảnh hưởng của loại thuốc kich thích ra rễ đến tỷ lệ ra rễ giống thược

- 20 ngày sau cắm hom tỷ lệ sống ở công thức biến động từ 64,44 –
100% Trong đó cao nhất công thức 2 là 100% (cao hơn đối chứng 35,56%),
tiếp đến công thức 3 (cao hơn đối chứng 14,45 %), công thức 4 (cao hơn đối
chứng 10%) ở mức tin cậy 95%.
Ảnh hưởng của các loại thuốc kích thích ra rễ đến tỷ lệ ra ra rễ giống
thược dược lùn TDL-03 được thể hiện trong hình 3.2:
Hình 3.2: Biểu đồ ảnh hưởng của các loại thuốc kích thích ra rễ đến tỷ lệ
ra ra rễ giống thược dược lùn TDL-03 vụ thu đông năm 2012
3.2.3 Ảnh hưởng của các thuốc kích thích ra rễ đến sinh trưởng bộ rễ
24
Qua theo dõi sinh trưởng bộ rễ ở các công thức thí nghiệm chúng tôi
thu được kết quả thể hiện ở bảng 3.5:
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của các loại thuốc kích thích ra rễ đến sinh trưởng
bộ rễ giống thược lùn TDL-03 vụ thu đông năm 2012
Công thức Số rễ (rễ/hom) Chiều dài rễ (cm)
1 (ĐC) 10,17 7,56
2 18,73 12,46
3 12,80 10,43
4 11,57 8,21
LSD
0,05
2,34 1,7
CV% 9,3 9,4
Qua bảng 3.5 cho thấy :
- Về số rễ trên cây: Sau 30 ngày cắm hom số rễ trên cây của các công
thức thí nghiệm đều cao hơn hẳn so với công thức đối chứng biến động từ
10,17 đến 18,73 rễ/cây. Trong đó công thức 2 đạt số rễ cao nhất 18,73 ( cao
hơn đối chứng 8,56 rễ/cây) ở độ tin cậy 95%.
- Về chiều dài rễ: Sau 30 ngày cắm hom chiều dài rễ của các công thức
tham gia thí nghiệm đều cao hơn so với công thức đối chứng, Trong đó Chiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status