các giải pháp nâng cao chất lượng soạn giáo án cho giáo viên - Pdf 24

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HUYỆN EAHLEO
TRƯỜNG TIỂU HỌC LÝ TỰ TRỌNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG SOẠN GIÁO ÁN CHO GIÁO VIÊN
NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ MINH KHAI
CHỨC VỤ: PHÓ HIỆU TRƯỞNG

1
THÁNG 01 NĂM 2011

2
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
a/ Cơ sở lý luận:
Học sinh tiểu học là mầm xanh mới nhú. Nơi đây, từ vòng tay ấm áp của thầy
cô, các em được bước vào một môi trường mới, bắt đầu thực hiện quá trình xã
hội hóa cá nhân. Mầm non mới nhú này đòi hỏi sự chăm chút chu đáo với tình
thương, trách nhiệm, tay nghề tinh xảo của các thầy giáo, cô giáo tiểu học. Bằng
trải nghiệm bản thân, mỗi chúng ta đều biết nhiều kĩ năng và thói quen tốt đẹp
đã được hình thành từ bậc học này và đã theo ta đi suốt cuộc đời. Các thầy, cô
giáo mẫu mực và tâm huyết đã để lại dấu ấn trong học sinh của mình từ bài học,
cách dạy, các hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ
động sáng tạo của học sinh. Trong bài viết “Đối với chất lượng giáo dục cấp tiểu
học” cuốn Giáo dục & Đào tạo Đăk Lăk số 27 tháng 11/2010. Thầy Phạm Văn
Nhăm, trưởng phòng giáo dục TH– MN đã nói “… Nâng cao chất lượng dạy và
học là một quá trình không thể đốt cháy giai đoạn, nóng vội mà phải từng bước

lợi cho giáo viên khi lập kế hoạch bài học nhưng khả năng thích ứng với sự đổi
mới này giáo viên còn nhiều hạn chế nhất định. Vì vậy việc thiết kế giáo án cần
có những đổi mới tích cực phù hợp với yêu cầu thực tế.
Nhận thấy việc tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng bài soạn cho
giáo viên là rất cần thiết và phù hợp với yêu cầu đổi mới. Vì thế tôi mạnh dạn
chọn đề tài “Các giải pháp nâng cao chất lượng soạn giáo án cho giáo viên ”
2) Mục đích nghiên cứu:
Trong quá trình dự giờ thăm lớp, qua kiểm tra giáo án của giáo viên tôi thấy
rõ việc xác định mục tiêu cho các hoạt động chưa hợp lý, chưa làm rõ các hình
thức tổ chức học tập, bố trí thời gian, chưa phân chia nhóm đối tượng học sinh
theo nhóm kiến thức, chưa xác định được phương án tổ chức cho từng nội dung
bài học kiến thức, sự lúng túng của giáo viên khi gặp các tình huống: câu hỏi
khó, câu trả lời ngoài luồng kiến thức từ phía học sinh đã ảnh hưởng không nhỏ
đến tâm sinh lý và kết quả học tập của các em.

4
Hơn thế, việc tìm ra các giải pháp đã giúp đội ngũ giáo viên có kĩ năng tốt
hơn trong thiết kế bài soạn theo hướng tinh giản và bổ sung tạo điều kiện cho
giáo viên có thời gian nghiên cứu nội dung giáo dục, góp phần nâng cao chất
lượng toàn diện, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong giai đoạn hiện nay.
Vì vậy việc đúc rút kinh nghiệm và tìm ra phương pháp soạn giảng phù
hợp, phương pháp dạy học hợp lý theo chuẩn kiến thức kĩ năng sẽ giúp học sinh
tự tin hơn trong quá trình học tập và đạt kết quả tốt hơn.
3) Đối tượng nghiên cứu:
- Đội ngũ giáo viên trong toàn trường, 24 giáo viên Trường TH Lý Tự
Trọng, huyện EaHLeo, tỉnh Đăk Lăk.
- Học sinh toàn trường: 650 em
4) Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Kĩ năng soạn bài của từng giáo viên theo từng khối lớp.
- Kế hoach giảng dạy của giáo viên.

ích, đem lại kết quả thiết thực trong công tác dạy và học. Thực hiện tốt nhiệm vụ
trọng tâm của ngành “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và
sáng tạo”. Góp phần vào việc xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực
đạt kết quả cao hơn.
Phân tích tình hình soạn giáo án của giáo viên trong những năm qua:
Nhà trường đã thường xuyên đánh giá bằng những phương pháp như:
Tổ chức thi giáo án tốt, thi giáo viên dạy giỏi, thi làm đồ dùng dạy học đơn
giản như: ( thẻ từ, bảng phụ, phiếu học tập,…), khảo sát kết quả học tập của học
sinh, kết quả sinh hoạt tổ chuyên môn, từ phiếu đánh giá giờ dạy, phiếu thăm
dò… Tôi nhận xét, thống kê chất lượng soạn giáo án trong năm học 2004 – 2005
(năm đầu tiên mới tách trường) từ đó tìm hiểu thêm quá trình lập kế hoạch của
giáo viên còn những khó khăn, thuận lợi như thế nào để nhà trường có hướng
điều chỉnh. Kết quả khảo sát như sau:

6
Kết quả khảo sát năm học 2004 – 2005:
* Số giáo viên có giáo án tốt:
Tổng số
Tốt Khá
Số lượng % Số lượng %
14 7 50,0 7 50,0
* Số giáo viên có giờ dạy tốt
Tổng số
Tốt Khá
Số lượng % Số lượng %
14 8 57,14 6 42,86
* Số giáo viên có kĩ năng soạn bài:
Tổng số
Tốt Khá
Số lượng % Số lượng %

lý, thói quen làm việc nên giáo viên còn phụ thuộc giáo án cũ, sách giáo viên và
sách thiết kế trong soạn bài. Qua khảo sát thực tế tình hình soạn bài của giáo
viên cho thấy đa số giáo viên không lập kế hoạch bài học mà chép lại bài soạn
cũ hoặc chép bài soạn từ sách giáo viên, sách thiết kế; một số khác chỉ thực sự
quan tâm đến việc soạn bài khi mới ra trường hoặc khi được bố trí giảng dạy lớp
mới (trước đó chưa giảng dạy), còn sau đó chép lại giáo án cũ. Chỉ có rất ít giáo
viên nghiên cứu kỹ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế và các tài liệu
liên quan, đọc lại bài soạn (kế hoạch bài học) đã lập từ năm trước, sau đó đối
chiếu với tình hình học sinh lớp mình đang giảng dạy để lập kế hoạch bài học
hợp lý.
Từ những thực trang trên cho thấy, mặc dù CV 896 đã ban hành nhưng vẫn
tồn tại những cách làm khác nhau từ phía người thực hiện.
3) Kết quả nghiên cứu:
Sau một thời gian thử nghiệm, chuyên đề, kiểm tra đánh giá, thực hành qua
các tiết dự giờ đối với tất cả giáo viên từ khối 1 đến khối 5, bản thân tôi đã có
nhiều kết quả khả quan. Từ năm học 2004 – 2005 đến năm học 2009 – 2010.
Các số liệu về xếp loại hồ sơ, giờ dạy được xếp loại như sau:
* Kết quả xếp loại giáo viên về hồ sơ, giờ dạy như sau:
N. học KẾT QUẢ XẾP LOẠI
TÔT KHÁ ĐYC
TS.
giáo
viên
Hồ sơ Giờ dạy T. số
Hồ sơ
Giờ dạy T. số
Hồ sơ
Giờ dạy

8

2006 - 2007 23 11 47,83 12 52,17
2007 - 2008 23 13 56,52 10 43,48
2008 - 2009 24 16 66,67 8 33,33
2009 - 2010 24 17 70,83 7 29,17
- Năm học 2009 – 2010 : Trường tổ chức thi “Giáo án điện tử ”, có 5 giáo
án dự thi cấp huyện, cấp tỉnh.
- Năm học 2010 – 2011( Học kì I) : Tổ chức thi “Giáo án điện tử ”, có 4
giáo án dự thi cấp tỉnh.
4) Các nhóm giải pháp:
* Nhóm biện pháp kĩ năng soạn bài:
Bài soạn là kế hoạch của giáo viên để dạy học từng tiết, nó thể hiện một
cách sinh động mối liên hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp và điều kiện
dạy học. Vì vậy để nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh cần phải hình
thành kỹ năng soạn bài cho giáo viên. Kỹ năng soạn bày gồm các kỹ năng sau:
- Kỹ năng xác định mục tiêu bài dạy.(lưu ý kĩ năng hỗ trợ)

9
- Kỹ năng xác định nội dung và cấu trúc bài dạy.
- Kỹ năng xác định các thông tin (tranh ảnh, tài liệu …) phục vụ cho hoạt
động dạy học.
- Kỹ năng xác định các hoạt động dạy học (hình thức tổ chức, phương pháp
dạy học)
* Nhóm biện pháp xác định mục tiêu:
Về mục tiêu bài học bao gồm: Kiến thức, kỹ năng và thái độ. cần căn cứ
mục tiêu môn học và mức độ cần đạt của bài học cụ thể của đối tượng học sinh
để điều chỉnh (thêm, bớt) ở từng mục cho phù hợp.
- Khi điều chỉnh ở mục tiêu, giáo viên cần thể hiện ở các hoạt động học, tránh
mâu thuẩn (mục tiêu điều chỉnh, nội dung chép lại SGV)
- Phần bổ sung hỗ trợ chỉ khi cần thiết, tránh lạm dụng làm ảnh hưởng đến nôi
dung của bài học.

học.
- Tài liệu (sách giáo khoa, các tài liệu bổ sung và tham khảo khác)
- Phương pháp và kĩ năng giảng dạy.
- Các bước và các bài tập dành cho học sinh/ tiến trình dạy. (VD: Hoạt
động 1 sẽ tiến hành bài tập nào…HĐ2….)
- Sắp xếp công việc, các hoạt động tương tác trong lớp học (làm theo cặp
hay theo nhóm, cá nhân, cả lớp…)
- Thời gian dành cho từng bài tập ở mỗi hoạt động. ( VD: Câu 1a thảo
luận nhóm trong thời gian ? phút)

11
- Các vấn đề dễ nảy sinh.( VD: Ở bài tập câu b, có 1 HS đã đưa ra nhiều
cách giải khác nhau nhưng rất hợp lý và gây hứng thú học tập ,và thời gian
của hoạt động này được tăng lên. Vậy người giáo viên phải biết điều chỉnh
hoạt động kế tiếp sau cho đúng thời gian quy định.)
- Một số bài tập và hoạt động dự trữ nếu tiết học còn thừa nhiều thời gian.
- Bài tập về nhà.
Đi vào cụ thể và chi tiết, trong quá trình và sau khi soạn xong một giáo án,
giáo viên cần trả lời được những câu hỏi sau đây:
- Đi đến những đâu? (mục tiêu của bài học)
- Làm thế nào để đi đến đó? (phương pháp dạy, kĩ năng, sắp xếp công việc)
- Sử dụng những phương tiện gì? (tài liệu, các phương tiện hỗ trợ giảng
dạy, nguồn tài liệu…)
- Hướng đi có đúng không? (thời gian giảng dạy, bài tập ứng dụng…)
- Tự đánh giá kết quả dạy và học sau khi áp dụng giáo án giảng dạy đó?
* Nhóm giải pháp xác định nội dung bài học:
Để xác định tốt nội dung bài học theo Công văn 896/GD&ĐT-GDTH ngày
13/02/2006 của Bộ Giáo dục & Đào tạo, giáo viên phải biết nghiên cứu nội dung
bài học trong sách giáo khoa và xác định được:
- Nội dung chính, phụ trong bài dạy.

- Thái độ : Học sinh luôn có ý thức tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước.
II/ Đồ dùng dạy-học: - Giấy khổ to, bút màu cho các nhóm
III/ Các hoạt động dạy-học:
Hoạt động của GV tg Hoạt động của HS
1. Ổn định tổ chức
2.Kiểm tra bài cũ: Gọi hs lên bảng trả lời
1’
3’

13
1.Chúng ta cần làm gì để BV nguồn nước?
- Nhận xét, cho điểm
3.Bài mới: Giới thiệu bài
Hoạt động 1: Tìm hiểu những biện pháp
bảo vệ nguồn nước.
- Hãy quan sát các hình trong SGK/60,61,
thảo luận nhóm đôi.
- Gọi một số hs trình bày kết quả.
Kết luận: Phê phán những việc làm sai để
tránh gây lãng phí nước.
Hoạt động 2: Tại sao phải thực hiện tiết
kiệm nước
- Y/c hs quan sát hình 7,8 SGK/61 ( thảo
luận nhóm)
- Em nhìn thấy những gì trong hình 7,8?
- Theo em, bạn nam ở hình 7a nên làm gì?
Vì sao?
- Vì sao chúng ta cần phải tiết kiệm nước?
- Gọi HS nêu trách nhiệm của bản thân
khi Quan sát các hình 7,8

nguyên nước.
Hoạt động 3: Vẽ tranh cổ động tuyên
truyền tiết kiệm nước
- Thảo luận nhóm 6 xây dựng bản cam kết
tiết kiệm nước,
+ Tìm ý cho nội dung tranh tuyên truyền.
+ Từng thành viên vẽ, từng phần của tranh.
- Trình bày sản phẩm, các nhóm khác nhận
xét, bổ sung.
4.Củng cố, dặn dò:
- Gọi hs đọc ghi nhớ
- Vận động mọi người cùng tiết kiệm nước
Nhận xét tiết học
10’
4’
- Thảo luận nhóm 6:
HS biết bình luận về việc sử dụng
nước ( hành động đúng, chưa đúng
về tiết kiệm nước).
- HS Trình bày sản phẩm
- 2-3 HS đọc ghi nhớ SGK
- HS liên hệ thực tế
* Lưu ý: Những dòng in đậm là nội dung tích hợp kĩ năng sống .
- Nội dung được bổ sung hoặc được điều chỉnh trong bài soạn bổ sung.
- Trình tự các hoạt động của giáo viên, của học sinh.
- Hình thức dạy học (cá nhân, hợp tác theo nhóm nhỏ, …)
*Thiết kế giáo án bổ sung:
Theo công văn 896 đã chỉ đạo đổi mới cách soạn giáo án để giáo viên có
thời gian tập trung vào công tác giáo dục. Giáo án cần ngắn gọn nhưng có nhiều
thông tin (có thể chỉ khoảng một trang giấy A4) theo CV 790 SGD & ĐT/2009

…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Câu hỏi 3 :Việc soạn giáo án bổ sung có những tác dụng gì ?
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………

16
Câu hỏi 4: Hãy soạn giáo án bổ sung tiết Tiếng Việt và tiết Toán sau: (Có bài
kèm theo ). Điều chỉnh tối thiểu từ 3 đến 5 dòng

XÂY DỰNG ĐÁP ÁN
HOẠT ĐỘNG NHÓM, KHỐI …
Câu hỏi 1: Vì sao phải đổi mới cách soạn giáo án của giáo viên
tiểu học bằng cách điều chỉnh và bổ sung?
- Giúp cho giáo viên giảm được thời gian soạn bài, tăng thời gian nghiên cứu
sách giáo viên, sách thiết kế và tài liệu tham khảo có liên quan đến bài dạy.
- Tránh được hiện tượng chép giáo án cũ, soạn dài dòng
- Không theo kịp đổi mới
- Điều chỉnh được nội dung dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh trên cơ
sờ đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng theo quy định.
Câu hỏi 2: Như thế nào là soạn giáo án có điều chỉnh, bổ sung?
- Giáo án có điều chỉnh là giáo án có nội dung tinh giản, ngắn gọn, phù hợp với
các hoạt động của giáo viên và học sinh.
- Chỉ ghi lại ngắn gọn những gì cần điều chỉnh hoặc bổ sung, không có thì thôi.
- Khi người kiểm tra, thanh tra nhìn vào giáo án điều chỉnh thì biết rõ giáo viên
điều chỉnh bổ sung gì so với giáo án cũ.
Câu hỏi 3 :Việc soạn giáo án bổ sung có những tác dụng gì ?
- Điều chỉnh được mục tiêu bài giảng và những kĩ năng mà học sinh phải có
được sau buổi học.
- Thay đổi được các hoạt động học cũng như hình thức tổ chức nảy sinh so với

hợp LĐ từ, câu khó
- Hướng dẫn HS đọc câu khó :
- Gọi HS đọc nối tiếp câu lần 2
- HS đọc chú giải
- Gọi HS đoc CN nối tiếp đoạn
- Tổ chức cho các nhóm HS thi đọc.
- Cho cả lớp đọc đồng thanh
1’
3’
1’
10’
- Hát vui
2HS đọc nối tiếp đoạn và trả lời câu
hỏi, lớp theo dõi, nhận xét.
- Cả lớp theo dõi sau đó 1 HS khá đọc
- 8 HS đọc nối tiếp câu lần 1
- HS đọc câu khó
- 8 HS đọc nối tiếp câu lần 2
- 2 HS đọc chú giải.
- 2 HS đọc nối tiếp đoạn.
- HS thi đọc quan sát ảnh trên bảng.
- Cả lớp đọc đồng thanh toàn bài 1 lần.

18
*Hoạt động 2: Tìm hiểu bài
- Y/c HS đọc thầm bài và gạch chân
dưới các từ ngữ gợi tả, gợi cảm.
- GV nêu câu hỏi :+ Bố đi đâu về và đã
có quà cho các con?
+ Quà của bố đi câu về có những gì?

con xập xành, con muỗm, con dế.
… ngó ngoáy. Con dế đực cánh xoăn,
chọi nhau.
- HS trao đổi cặp:… hấp dẫn , giàu
quá.
- HS TL và trả lời: Vì món quà tuy đơn
sơ nhưng là cả tấm lòng yêu con của bố.
- 2 HS nêu đại ý của bài
- 1 số HS thi đọc đoạn, cả bài, lớp theo
dõi và nhận xét, bình chọn.
- HS lần lượt nêu …
- HS biết nói lời cảm ơn, biết giữ gìn
nâng niu món quà…

19
hiện tình cảm như thế nào?
- Dặn HS về LĐ bài, chuẩn bị bài mới.
- Nhận xét tiết học
Lưu ý: Những dòng in đậm là nội dung bổ sung so với giáo án năm trước.
* Thiết kế giáo án điện tử:
Giáo án điện tử là giáo án có sự trợ giúp của các phương tiện dạy học hiện
đại, nội dung cần thể hiện được tính tích cực trong học tập của học sinh trong
mỗi hoạt động. Vậy để đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu
quả trong dạy học, giáo viên cần tiếp cận và soạn được giáo án điện tử.
Vậy muốn soạn được giáo án điện tử, giáo viên phải có kĩ năng chọn bài để
soạn giảng, vì không phải bài nào cũng soạn được GAĐT.
- Phải đặt căn cứ vào mục tiêu của bài dạy để từ đó có hướng thiết kế bằng giáo
án điện tử hay giáo án truyền thống.(VD những bài học cần kĩ năng thực hành
như kĩ năng thực hiện phép tính, đặt tính, kĩ năng luyện viết … thì không
nên soạn giáo án điện tử).

1. Khởi động: Cho HS nghe bài hát
“Cho con” kết nối âm thanh (thao tác
trên màn hình).
2. KT bài cũ:- Gọi 1 HS đọc bài và trả
lời câu hỏi trên màn hình. GV kết nối
đáp án.
- GV nhận xét, cho điểm.
3. Bài mới: GTB: GV đưa lên màn hình
hình ảnh “con xập xành”, “con niềng
niễng”và giới thiệu
*HĐ1: Luyện đọc
- GV đọc mẫu toàn bài, giọng chậm rãi.
- GV gọi HS đọc bài.
- Cho HS đọc nối tiếp từng câu, theo
1’
3’
1’
8’
- Học sinh lắng nghe
- 1 HS đọc bài và trả lời; lớp theo dõi,
nhận xét.
- HS quan sát trên màn hình.
- HS lắng nghe.
- 1 HS khá đọc toàn bài.
- HS đọc nối tiếp câu

21
dõi phát hiện HS đọc sai. Lưu ý phát âm
từ “con muỗm” cho HS. GV đưa từ
khó lên màn hình (các slide, texbox,

- Đọc nối tiếp đoạn., HS đọc chú giải
- 3 em đọc“ niềng niễng”
- HS chia 3 đoạn
- 3 nhóm nhìn trên màn hình đọc
- HS cử nhóm trưởng điều khiển nhóm
đọc, HS đọc nối tiếp, giúp nhau đọc
đúng.
- HS theo dõi trên màn hình.
- HS trả lời… các nhóm nhận xét.
- HS xem hình ảnh ( Cà cuống, xập
xành)
- 2 HS đọc lại cả bài. HS đọc ghi nhớ.
- HS theo dõi bài học trên màn hình
- HS theo dõi trên màn hình và đọc
đoạn2.

22
HS đọc.(các slide ,texbox, trực tiếp)
- Cho HS thi đọc. Theo dõi, nhận xét,
tuyên dương.
4. Củng cố, dặn dò:
- Nêu câu hỏi HS trả lời.
- Cho HS đọc lại toàn bài.
- Nêu ý nghĩa giáo dục qua ND bài học.
* Liên hệ thực tế: GV đưa lên màn
hình câu hỏi: “Muốn làm một người con
hiếu thảo với bố, mẹ em cần làm gì?”
- GV kết nối đáp án trên màn hình.
Nhận xét tiết học:
2’

loại, dùng để nấu trong các bữa ăn của gia đình Vậy để biết được tác dụng
của cây rau như thế nào? Hôm nay cô cùng các em tìm hiểu bài “ Cây rau”
trang…”. Sau khi viết đề bài xong, giáo viên chợt nhớ ra là mình có đem theo 3
loại rau để giới thiệu bài, lúc đó giáo viên A lấy ngay 3 cây rau để lên bàn giáo
viên và giới thiệu lại…Bất hợp lý ở đây là giáo viên A làm mất thời gian và
không làm rõ được mục tiêu của bài học.
@ Tình huống sử dụng bảng phụ ở lớp 2C, khi dạy môn Toán:
Trong giờ học toán, khi giáo viên A yêu cầu học sinh làm bài tập vào phiếu:
BT2: Đặt tính rồi tính: a) 427 + 142 b) 853 – 630
Hết thời gian, giáo viên thu bài và gắn bảng phụ có kết quả đúng như trên.
Lỗi ở đây là phần chuẩn bị ở giáo án sai mục tiêu, Học sinh biết kết quả, thiếu kĩ
năng đặt tính và kĩ năng tính kết quả ở phép cộng, phép trừ.
@ Tình huống về chuẩn bị nội dung BH ở lớp 4C, khi dạy môn Toán:
Giáo viên A khi dạy bài: Bảng đơn vị đo khối lượng, Đến phần củng cố,
muốn mở rộng thêm cho phong phú từ một phép tính đưa về dạng toán có lời
văn, giáo viên đã nêu “ Có một ô tô chở 87 kg gạo…” Không có ô tô nào chở số
gạo như trên, giáo viên đã thiếu thực tế. Lỗi về chuẩn bị nội dung bài học.
@ Tình huống trò chơi sắm vai ở lớp 1C, khi dạy môn TNXH:

24
853
630
223
-
427
142
569
+
Khi dạy bài: An toàn khi ở nhà, đến phần hoạt động trò chơi sắm vai :
Muốn cho học sinh tránh bị bỏng khi ở nhà, giáo viên đã xây dựng tình huống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status