Facebook.com/DethiNEU
1. Khái niệm, bản chất của KDQT (dưới góc độ chung và góc độ doanh nghiệp), các phương thức tham
gia KDQT chủ yếu của doanh nghiệp
2. Các động cơ chủ yếu thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia KDQT (lực đẩy – lực kéo)
3. Các chủ thể liên quan đến KDQT
4. DN nhỏ và KDQT (cơ hội, điều kiện, khả năng và cách thức tham gia KDQT của các DN nhỏ)
5. Khái niệm, các cấp độ của toàn cầu hóa (TCH), các nhân tố thúc đẩy TCH (không chỉ nêu mà cần lý
giải các nhân tố này thúc đẩy quá trình TCH thị trường và TCH sản xuất như thế nào!)
6. Lý giải sự cần thiết về tầm nhìn chiến lược toàn cầu đối với các DN
7. Khái niệm, đặc trưng và các nhân tố cấu thành văn hóa. Vai trò của văn hóa đối với DN KDQT.
8. Văn hóa định hướng nhóm: đặc trưng, ý nghĩa đối với kinh doanh
9. Văn hóa định hướng cá nhân: đặc trưng, ý nghĩa đối với kinh doanh
10. Khái niệm, nguồn gốc, hình thức và tác động của rủi ro chính trị đối với các DN KDQT
11. Ngăn ngừa, hạn chế rủi ro chính trị đối với DN KDQT: các bước và các công cụ áp dụng
12. Đặc điểm của các dòng luật chính trên thế giới: Thông luật, dân luật, thần luật.
13. Một số vấn đề luật pháp quốc tế quan trọng đối với DN KDQT (Giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ, an toàn, trách nhiệm sản phẩm)
14. Liên hệ tình hình rủi ro chính trị đối với: i) các DN nước ngoài trên thị trường Việt Nam; ii) đối với
các DN Việt Nam trên thị trường Mỹ
15. Liên hệ thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
16. Liên hệ thực trạng vấn đề an toàn sản phẩm ở Việt Nam
17. Các đặc trưng và ưu, nhược điểm của các hệ thống kinh tế thị trường, kinh tế chỉ huy và kinh tế hỗn
hợp.
18. Nội dung và ưu nhược điểm của các chỉ tiêu thu nhập và chỉ số HDI trong việc phản ánh trình độ
phát triển kinh tế của các quốc gia.
19. Chu kỳ kinh tế: đặc trưng của các pha trong chu kỳ kinh tế và tác động đến doanh nghiệp.
20. Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo: nội dung và khả năng giải thích thực tiễn thương mại quốc tế
21. Lý thuyết H-O: nội dung và khả năng giải thích thực tiễn thương mại quốc tế
22. Lý thuyết Porter về năng lực cạnh tranh quốc gia của các ngành công nghiệp: nội dung và khả năng
giải thích thực tiễn thương mại quốc tế
23. Tự do hoá thương mại và Bảo hộ mậu dịch: nội dung, các lập luận ủng hộ và phản bác.
quyền trao và cho phép ng nhận đặc quyền sử dụng tên cty rồi trao cho họ nhãn hiệu mẫu mã và tiếp tục
thực hiên sự giúp đỡ hoạt động kinh doanh của đối tác, ngc lại cty nhận được một khoản tiền mà đối tác trả
cho công ty
+ Hợp đồng quản lý: là hợp đồng qua đó một doanh nghiệp thực hiện sự giúp đỡ của mình đối với
một doanh nghiệp khác quốc tịch bằng việc đưa những nhân viên quản lý của mình để hỗ trợ cho DN kia
thực hiện các chức năng quản lý
+ Hợp đồng theo đơn đặt hàng: là loại hợp đồng thhường diễn ra với các dự án vô cùng lớn, đa
dạng, chi tiết với những bộ phận rất phức tạp cho nên các vấn đề về vốn, công nghệ và quản lý, họ ko tự
đảm nhận được mà pahỉ kí hợp đồng theo đơn đặt hàng từng khâu từng gia đoạn cảu dự án đó.
+ Hợp đồng xây dựng và chuyển giao: là nhứng hợp đồng đc áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực xd cơ
sở hạ tầng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn ra xây dựng công trình, kinh daonh trong 1 khaongr thời
gian nhất định sau đó chuyển giao lại cho nước sỏ tại trong tình trạng công trình còn đang hoạt động tốt mà
nước sở tại ko phải bồi hoàn tài sản cho bên nước ngoài
+ Hợp đồng phân chia sản phẩm: là loại hợp đồng mà hai bên hoặc nhiều bên ký kết với nhau góp
vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh và sản phẩm thu đc sẽ đc chia cho bên theo tỷ lệ góp vốn hoặc
thỏa thuận
- Nhóm hình thức kinh doanh thông qua đầu tư nước ngoài:
Đầu tư nước ngoài là một quá trình trong đó hai hay nhiều bên có quốc tịch khác nhau cùng nhau góp vốn
để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư nào đó nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các bên. Nói cách khác,
đầu tư nước ngoài là quá trình di chuyển vốn giữa các quốc gia nhằm tìm kiếm lợi ích thông qua các hoạt
động sử dụng vốn ở nước ngoài.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài: là hình thức chủ đầu tư mang vốn hoặc tài sản sang nước khác để đầu
tư kinh doanh và trực tiếp quản lý và điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn, đồng thời chịu trách nhiệm hoàn
toàn về kết quả kinh doanh củ dự án
+ Đầu tư gián tiếp: là hình thức chủ đầu tư mang vốn hoặc tài sản sang nước khác để đầu tư nhưng
không trực tiếp tham gia quản lý và điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu ở
nước ngoài hoặc cho vay.
Facebook.com/DethiNEU
Câu 2: Các động cơ chủ yếu thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia KDQT (lực đẩy – lực kéo)
Có 2 nguyên nhân chính là tăng doanh số bán hàng và tiếp cận các nguồn lực:
động kinh doanh quốc tế.Tất cả các công ty sản xuất, công ty dịch vụ và công ty bán lẻ đều tìm kiếm khách
hàng ngoài biên giới quốc gia mình.
Công ty quốc tế là một công ty tham gia trực tiếp vào bất kỳ hình thức nào của hoạt động kinh doanh
quốc tế.Vì vậy sự khác nhau của các công ty là ở phạm vi và mức độ tham gia vào kinh doanh quốc
tế.Chẳng hạn, mặc dù một công ty nhập khẩu chỉ mua hàng từ các nhà nhập khẩu nước ngoài, nhưng nó vẫn
được coi là một công ty quốc tế.
Tương tự, một công ty lớn có các nhà máy phân bổ trên khắp thế giới cũng được gọi là công ty quốc tế, hay
còn gọi là công ty đa quốc gia (MNC)- một công ty tiến hành đầu tư trực tiếp (dưới hình thức các chi nhánh
sản xuất hoặc marketing) ra nước ngoài ở một vài hay nhiều quốc gia. Như vậy. mặc dù tất cả các công ty có
liên quan đến một hay một vài khía cạnh nào đó của thương mại hay của đầu tư quốc tế đều được coi là công
ty quốc tế, nhưng chỉ có các công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mới được gọi là công ty đa quốc gia.
- Các doanh nhân và doanh nghiệp nhỏ:
Các công ty nhỏ đang ngày càng tham gia tích cực vào hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế. Một nghiên
cứu gần đây đã cho thấy các công y nhỏ tham ia vào hoạt động xuất khẩu nhiều hơn và tăng nhanh chóng, sự
đổi mới công nghệ đã gỡ bỏ nhiều trở ngại thực tê đối với các DN nhỏ. Trong khi kênh phân phối truyền
thống thường chỉ cho phép các công ty lớn thâm nhập thi trường thì với mạng điện tử lại là giải pháp ít tốn
kém và có hiệu quả với các DN nhỏ
- Các công ty đa quốc gia: là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất
hai quốc gia. Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia.Công ty đa
quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia.Các công
Facebook.com/DethiNEU
ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa; một số người cho rằng một dạng
mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí nghiệp liên hợp toàn cầu.
Quyền sở hữu tập trung: các chi nhánh, công ty con, đại lý trên khắp thế giới đều thuộc quyền sở hữu tập
trung của công ty mẹ, mặc dù chúng có những hoạt động cụ thể hằng ngày không hẳn hoàn toàn giống nhau.
Thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị, điều hành và kinh doanh có tính toàn cầu. Tuy
các công ty đa quốc gia có thể có nhiều chiến lược và kỹ thuật hoạt động đặc trưng để phù hợp với từng địa
phương nơi nó có chi nhánh.
Mục đích phát triển thành công ty đa quốc gia
Thứ nhất: đó là nhu cầu quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránh những hạn chế thương
Điều kiện:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật cần phải được tiếp tục hoàn thiện phù hợp với quá trình chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường. Xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng cho tất cả các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận với nguồn vốn, đất đai, lao động, công nghệ và
thông tin thị trường theo hướng: cơ chế chính sách phải đồng bộ; xoá bỏ những phân biệt đối xử về tín dụng,
thuế, giá thuê đất và các ưu đãi khác… Thực hiện nghiêm túc theo Luật Doanh nghiệp, ban hành Luật
Khuyến khích đầu tư áp dụng chung cho cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam và khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, phát triển thị trường lao động và có chính sách thích hợp đối với thị trường bất động sản.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa được mở rộng quyền thuê và tuyển dụng lao động. Có chính sách khuyến
khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiến hành các hoạt động đào tạo, dạy nghề nâng cao trình độ chuyên môn
của người lao động. Nhà nước có thể cấp lại một phần hay toàn bộ số tiền thuế thu nhập mà các cơ sở đào
tạo, dạy nghề đã nộp vào ngân sách để dùng vào đầu tư phát triển. Xem xét sửa thuế thu nhập đối với người
Việt Nam. Nghiên cứu xây dựng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cơ
Facebook.com/DethiNEU
cấu lại các doanh nghiệp nhỏ và vừa… Chuyển việc yêu cầu các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải trích lập quỹ
phúc lợi, trợ cấp mất việc làm sang tham gia Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Thị trường bất động sản và chính sách đất đai phải xây dựng được hệ thống đăng ký, khắc phục sự bất bình
đẳng trong việc giao, cấp đất cho sản xuất kinh doanh. Hình thành loại hình dịch vụ chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, bảo đảm cho việc kinh doanh quyền sử dụng đất được thuận lợi, trôi chảy. Mở rộng quyền của
doanh nghiệp tư nhân trong việc chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của
doanh nghiệp…
Thứ ba, phát triển thị trường tài chính, tăng sự hỗ trợ của Nhà nước cho các doanh nghiệp nhỏ và
vừa. Hỗ trợ về tài chính của Nhà nước cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất cần thiết, nhất là các loại này
mới được thành lập.Về nguyên tắc, chính sách hỗ trợ này cần đảm bảo được sự bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế. Tuy nhiên, để phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu nền kinh tế thì các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước chỉ nên tập trung vào một số doanh
nghiệp nhỏ và vừa được xác định là cần thiết, không nên áp dụng chính sách này một cách tràn lan, phân
tán. Việc hỗ trợ của Nhà nước có thể thực hiện thông qua hai hình thức: thành lập Công ty đầu tư tài chính
nhằm giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa mua cổ phần hoặc trái phiếu chuyển nhượng; thành lập Quỹ bảo
một số hiệp hội ngành hàng, tổ chức chuyên môn đã tích cực hoạt động nhưng hiệu quả và vai trò còn hạn
chế. Các hiệp hội, các câu lạc bộ chuyên ngành cần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc tổ chức sinh
hoạt, giao lưu, giới thiệu kinh nghiệm trong nước và quốc tế, cập nhật thông tin về ngành và về hoạt động
kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển .
Thứ sáu, tăng cường đào tạo về nghiệp vụ kinh doanh quốc tế cho cán bộ quản lý của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Đã xuất hiện những doanh nhân Việt Nam thành công trên thương trường quốc tế, tuy
nhiên con số này không phải là nhiều và phát triển còn mang tính tự phát, trình độ kinh doanh quốc tế còn
thấp. Những kinh nghiệm từ sự thành công của Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc trong lĩnh vực này cần
được chọn lọc và áp dụng.
Facebook.com/DethiNEU
Câu 5: Khái niệm, các cấp độ của toàn cầu hóa (TCH), các nhân tố thúc đẩy TCH (không chỉ nêu
mà cần lý giải các nhân tố này thúc đẩy quá trình TCH thị trường và TCH sản xuất như thế nào!)
=> Toàn cầu hóa kinh tế vừa là trung tâm, vừa là động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa các lĩnh vực
khác. Về bản chất, toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên
giới quốc gia và khu vực, tạo ra sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển
hướng tới một nền kinh tế thế giới hội nhập và thống nhất.
Các cấp độ
a. Toàn cầu hóa thị trường nhằm chỉ tiến trình liên tục hội nhập và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
các nền kinh tế, nhằm tạo nên một thị trường toàn cầu
• Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hóa thị trường chỉ ra sự ra đời của một thị trường toàn cầu, với những mặt
hàng tiêu chuẩn hóa và những công ty quy mô toàn cầu để phục vụ thị trường này.
• Theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa thị trường nhằm chỉ ra quá trình liên kết giữa các nền kinh tế quốc gia
và sự lệ thuộc ngày càng tăng giữa những người mua, người sản xuất nhà cung cấp và chính phủ tại các
quốc gia trên toàn thế giới.
b. Toàn cầu hóa hoạt động sản xuất
Khi mà toàn cầu hóa thị trường diễn ra mạnh mẽ thì nhu cầu về hoạt động sản xuất cũng phát triển ở khắp
mọi nơi trên thế giới:
- Với công nghệ cho phép sản phẩm bất kỳ có thể được sản xuất ở nơi nào mà việc sản xuất được coi là rẻ
nhất thì sẽ hình thành rất nhiều trung tâm sản xuất của thế giới (công xưởng của thế giới)
- Các quốc gia đang phát triển tự xây dựng lên các định hướng để hội nhập vào nền sản xuất chung của thế
- Sự phát triển của công nghệ thông tin
Facebook.com/DethiNEU
Trong khi việc giảm bớt các trở ngại đối với thương mại và đầu tư kích thích quá trình toàn cầu hóa thì sự
phát triển của công nghệ thông tin đang thúc đẩy mạnh hơn quá trình đó
• Các công ty sử sụng mạng toàn cầu, mạng nội bộ, mạng mở rộng để tiếp cận các hoạt động sản xuấtf
và các hoạt động phân phối quốc tê
• Nhiều hoạt động kinh doanh như quản lý lao động, lập kế hoạch sx, truyền tải dữ liệu … trở nên dễ
dàng hơn và ít tốn kém hơn
• Làm tăng khẳ năng cạnh tranh của các công ty nhỏ thông qua việc giảm chi phí tiếp cân thi trường
quốc tế
Ngoài ra còn có các nhân tố khác như:
- Sự phát triển của giao thông vận tải
Những tiến bộ trong phương thức vận tải cũng đang giúp cho quá trnhf toàn cầu hóa thi trường và
hoạt động sản xuất.Tiến bộ trong vận tải hàng không cho phép các nhà quản trị đi lại nhanh chóng và rẻ hơn
tới các địa điểm ở các nước khác.Sự ra đời cuẩ tầu chở hàng khổng lồ có thể chuyên chở được một lượng
hàng hóa cực lớn đã giảm bớt chi phí vận tải đươg biển.
Sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất
Thực tiển của nền kinh tế thế giới đang cho thấy bước quá độ từ nền kinh tế công nghiệp sang nền
kinh tế tri thức, điều này được thể hiện rõ ở các quốc gia phát triển. Cùng với nó các quốc gia đang phát
triển cũng đã kết hợp bước chuyển nông nghiệp lên công nghiệp kết hợp những bước nháy tắt để rút ngắn
quá trình xây dựng những cơ sở của nền kinh tế tri thức.
Sự phát triển của kinh tế tri thức dự trên các công nghệ có hàm lượng khoa hoc kỹ thuật cao, nhất là
công nghệ thông tin đã mở ra điều kiện thuận lợi cho sự đẩy nhanh xu thế toàn cầu hoá, ví dụ như: các công
nghệ mới làm tăng tốc độ giao dịch kinh doanh, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian. Công
nghệ thông tin đồng thời cũng góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện cho dân chủ phát triển, thúc
đẩy nhu cầu mở của, giao lưu hội nhập.
Tóm lại, chính sự phát triển như vũ bảo của khoa học kỹ thuật đã làm phá vỡ hàng rào ngăn cách địa
giới trong giao dịch của con người trên tất cả các mặt giãu các quốc gia.Điều này đã đẩy quốc tế hoá nền
kinh tế lên một thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Cac quốc gia dù muốn hay không dều
chịu tác động của của quá trình toàn cầu hoá và đương nhiên để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay
tới thống nhất những qui phạm chung cho quá trình phát triển kinh tế.
Sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia
Với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong chủ nghĩa tư bản tất yếu dẫn đến sự tâp trung sản xuất
và dẫn đến độc quyên. Trong lịch sử của nền sản xuất thế giớivào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và những
năm đầu của thế kỷ 21 này dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuậtđã đưa lại sự phát triển
chưa từng có của các công ti xuyên quốc gia.
Đến nay có gần khoảng 60000 công ti xuyên quốc gia đang kiểm soát 2/3 nền thưong mại thế giới,
4/5 nguồn vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và 9/10 kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ thế giới.
Với sức mạnh như vậy các công ti xuyên quốc gia không những có ưu thế trong phân phối tài nguyên trên
phạm vi thế giới giúp cho việc thúc đẩy phân công lao động quốc tếđi vào chi tiết hoá mà còn thông qua việc
toàn cầu hoá sản xuất và kinh doanh để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá kinh tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của các công ti xuyên quốc gia trên địa phận toàn cầu đã tạo ra mạng lưói liên
kết kinh tế quốc tế.Các quốc gia có thể tham gia ngay vào dây chuyền sản xuất quốc tế và cũng vì vậy mối
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau gia tăng.
Các công ty xuyên quốc gia đã đóng vai trò rất lớn trong việc tăng mức xuất khẩu, gia tăng mạnh mẽ
vốn đầu tư trực tiếp nứoc ngoài vào các nước đang phát triển đẩy mạnh tiến trinhf hội nhập của nền kinh tế
này vào nền kinh tế thế giới nói chung.
Như vậy sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh của các công ty xuyên quốc gia vào các nền
kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sự ngăn cách biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.
Các quốc gia dân tộc từng bước thamm gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế quốc tế đồng thời
nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc riêng, bổ sung vào nền kinh tế toàn cầu làmm gia tăng tính đa
dạng của nó.
Sự hình thành và phát triển của các định chế toàn cầu và khu vực.
Các định chế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế.Sự
tồn tại và hoạt động của các định chế toàn cầu và khu vực lại góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của
xu thế toàn cầu hoá.
Trong các tổ chức kinh tế- thương mại-tài chính toàn cầu và khu vực có ảnh hưỏng lớn tới quá trình
toàn cầu hoá và khu vực hoá phải kể đến WTO, IMF, WB và các tổ chức khu vực khác như EU, NAFTA,
APEC Với các mục tiêu chức năng của mình các tổ chức kinh tế quốc tế đã tham gia và thúc đẩy các hoạt
động kinh tế quốc tế, điều phối và quản lí các hoạt động này. Cho dèu tính hiệu quả của các tổ chức này còn
thực tế đã đẩy đến xu thế gắn bó phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các nền kinh tế thông qua thực
hiện phân công lao động quốc tế dựa trên thế mạnh của từng nền kinh tế đân tộc.
Ngoài những nhân tố đã nêu trên thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá trong những năm gần đây
chúng ta còn có thể kể đến một số nhân tố khác xem như xung lực đẩy mạnh thêm cho xu thế toàn cầu hoá.
Đó là sự phát triển về dân chủ, văn hoá
Câu 6: Lý giải sự cần thiết về tầm nhìn chiến lược toàn cầu đối với các DN
Các công ty không còn có thể chỉ chú ý đến thị trường nội địa của mình, cho dù nó lớn đến đâu đi
nữa.Nhiều ngành toàn cần và những công ty dẫn đầu ngành đó đã đạt được chi phí thấp hơn và mức độ nhận
biết nhãn hiệu cao hơn.Các biện pháp bảo hộ chỉ có thể làm chậm lại mức độ xâm nhập của hàng hoá siêu
hạng.Nên cách phòng thủ tốt nhất của công ty là tấn công toàn cầu trên cơ sở đúng đắn.
Trong khi đó kinh doanh toàn cầu cũng có rất nhiều rủi ro, bởi vì tỷ giá hối đoái thăng giáng, chính
phủ không ổn định, có các hàng rào bảo hộ mậu dịch, chi phí thích nghi sản phẩm và thông tin lớn và một số
yếu tố khác. Mặt khác, chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế cho thấy rằng ưu thế tương đối trong nhiều ngành
sẽ chuyển dịch từ những nước có chi phí cao sang những nước chi phí thấp, nên các công ty không thể cứ ở
lại trong nước và hy vọng có thể giữ được các thị trường của mình. Do những lợi ích và rủi ro tiềm ẩn của
Kinh doanh quốc tế, các công ty cần thường xuyên đưa ra những quyết định kinh doanh quốc tế đúng đắn.
Muốn làm được điều đó, DN cần phải có một tầm nhìn chiến lược toàn cầu
Câu 7. Khái niệm, đặc trưng và các nhân tố cấu thành văn hóa.Vai trò của văn hóa đối với DN
KDQT.
Khái niệm:
Văn hóa là một hệ thống các giá trị chân lý, chuẩn mực, mục tiêu mà con người cùng thống nhất với
nhau trong quá trình tương tác và hoạt động sáng tạo. Nó được bảo tồn và chuyền hóa cho những thế hệ nối
tiếp theo sau.
Văn hóa là một phạm trù dùng để chỉ các giá trị , tín ngưỡng, luật lệ và thể chế do một nhóm người xác
lập nên
Giá trị (Values): những gì (có tính trừu tượng) mà một nhóm người nào đó cho rằng là tốt, là đúng
và mong muốn đạt được.
Chuẩn mực (Norms): Những quy tắc, hướng dẫn xã hội về hành vi phù hợp trong bối cảnh cụ thể
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con
người và xã hội.Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật
trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt
động sống thường ngày.Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất.
Có 2 loại phong tục : phong tục phổ thôg và phong tục dân gian
+ Phong tục dân gian thường là cách cư xử bắt đầu tư nhiều thế hệ trc đã taoọ thành thông lệ trong 1
nhóm ng đồng nhất
+ Phong tục phổ thông: là cách cư xử chung của nhóm không đồng nhất hoặc nhiều nhóm
- Tập quán: Tập quán là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp
trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng. Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ nó mang
tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi. Trong những tình huống nhất định, tập quán biểu hiện như một hành vi
mang tính tự động hoá. tập quán hoặc xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và ổn định
thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt.
4. Cấu trúc xã hội
Cấu trúc xã hội thể hiện cấu tao tảng của một nền văn hóa bao gồm các nhóm xã hội các thể chế hệ
thống xã hội mối quan hệ giữa các địa vị này và quá trình qua đó các nguồn nhân lực xã hội được phân bổ
- Các nhóm xã hội: con người trong tất cả các nên văn hóa tự hội họp với nhau thành các nhóm xã
hội rất đa dạng. Hai nhóm đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ảnh hưởng đến các hoạt động kinh
doanh ở mọi nơi là gia đình và giới tính
+Gia đình:
• Gia đình hạt nhân: hình thành trên cơ sở các mối quan hệ gần gũi nhất của một con người gồm cha
mẹ anh chị em xuất hiện ở Úc, Canada, Mỹ và các chây Âu
• Gia đình mở rộng hình thành trên cơ sở mở rộng gia đình hạt nhận trong đó sẽ bao gồm cả ông bà
cha mẹ cô dì chú bác cháu chắt và người thân thích như con dâu con rể. xuất hiện nhiều ở Châu Á,
Trung Đông, Bắc Phi và Mỹ Latinh
+ Giới tính: đc nhận biết qua các hành vi và thái độ về mặt xã hội đề cập đến vấn đề là nữ hay nam, chẳng
hạn như phong cách ăn mặc và sở thích hoạt động.
- Địa vị xã hội
Thường được xác định bởi 1 hay nhiều trong 3 yếu tố sau: tính thừa kế gia đình, thu nhập và nghề
nghiệp. ở hầu hết các xh thì những tầng lớp cao nhất thường do những ng có uy thế, quan chức chính phủ và
doanh nhân kinh doanh hàng đầu nắm giữ. Các nhà khoa học bác sĩ và nhiều giới khác có có trình độ đại học
Hiện tượng “chảy máu chất xám” là việc ra đi của những ng có trình độ giáo dục cao từ một nghề
nghiệp, một khu vực hoặc một quốc gia mày đến một nghề nghiệp, một khu vực hay một quốc gia khác
8. Môi trường tự nhiên và môi trường vật chất
- Môi trường tự nhiên: địa hình và khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống và công việc, tới tập quán văn
hóa
- Văn hóa vật chất: là tất cả các công nghệ áp dụng trong một nền văn hóa để sản xuất hàng hóa và cung câó
dịch vụ
Vai trò của Văn hóa trong KDQT
Hiểu biết văn hóa đa quốc gia: Kinh doanh ở các nền văn hóa khác nhau đòi hỏi phải thích ứng với
hệ thống các giá trị và chuẩn mực của nền văn hóa đó
Tránh quan điểm vị chủng: quan điểm cho rằng một dân tộc hay văn hóa của một dân tộc có tính ưu
việt hơn so với các dân tộc hoặc các nền văn hóa khác
Văn hóa và đàm phán: thời gian, địa điểm, số lượng người tham gia, chiến thuật đàm phán
Văn hóa và quá trình ra quyết định: ai là người ra quyết định (cá nhân hay tập thể) và ra quyết định
như thế nào (dựa trên thông tin định lượng hay định tính, sự hợp lý, kinh nghiệm hay các yếu tố
khác)
Văn hóa và hoạt động marketing: chọn sản phẩm (không được kinh doanh rượu bia ở các nước theo
đạo Hồi), đặt tên sản phẩm (Ford Feira), bao bì, đóng gói, định giá sản phẩm, quảng cáo (chữ viết –
quảng cáo bột giặt ở các nước Arập, hình ảnh – giày NIKE), kênh phân phối
Văn hóa và quản trị nhân lực: tuyển chọn, bố trí công việc, trả lương, thưởng phạt, quan hệ lao động
(phụ thuộc vào giá trị và thái độ, văn hóa định hướng nhóm hay định hướng cá nhân, tôn giáo).
Lựa chọn địa điểm kinh doanh: Văn hóa có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho một quốc gia (quốc gia
có hệ thống giáo dục phát triển sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài)
Câu 8: Văn hóa định hướng nhóm: đặc trưng, ý nghĩa đối với kinh doanh
Facebook.com/DethiNEU
“Văn hóa định hướng nhóm (Group-oriented Culture) là tập hợp các giá trị và chuẩn mực có tính
đặc trưng cho nhóm người đề cao sự phụ thuộc qua lại giữa con người với nhau và tầm quan trọng
của tập thể chứ không phải là của từng cá nhân riêng rẽ”.
Đặc trưng: Một nền văn hóa trong đó một nhóm cùng chung chia sẽ trách nhiệm về sự sung túc của mỗi
thành viên được gọi là nền văn hóa định hướng theo nhóm. Con người làm việc vì tập thể nhiều hơn các mục
- Cơ cấu tổ chức: Phân công theo nhóm, tổ làm việc, tăng cường sự hợp tác giữa các cá nhân cùng
giải quyết một công việc, giảm áp lực công việc, hường tới sự phát triển ổn định của doanh nghiệp. Phương
pháp làm việc theo nhóm thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ trong nhóm và các công nhân quan tâm nhiều nhiệm
vụ hơn là chỉ quan tâm đến một số nhiệm vụ nào đó mà thôi. Xét về mặt liên kết nhóm thì một phần của
mức lương thường không dựa trên sản lượng, vì nếu vậy nhóm sẽ gây áp lực đòi hỏi không được vắng mặt
thường xuyên và luôn cố gắng nhiều. Xét về mặt nhiều loại nhiệm vụ khác nhau, các công nhân viên có thể
luân phiên làm các công việc trong nhóm để giảm sự nhàm chán và phát triển khả năng thay thế phòng khi
người nào đó trong nhóm vắng mặt.
- Quản lý nhân sự: dễ quản lý, tính kỉ luật chung cao, mọi người đều vì lợi ích chung của tập thể, có
tinh thần trách nhiệm cao, giảm thiểu hiềm khích giữa các cá nhân, tránh làm phá vỡ sự thống nhất giữa các
tổ chức sản xuất, mục tiêu của nhóm phù hợp với mục tiêu chung của doanh nghiệp.
- Quan hệ lao động:
- Cấp trên với cấp dưới: Bình đẳng, khuyến khích sự hợp tác giữa người lao động và nhà quản trị bằng cách
phân chia quyền lãnh đạo.Nhân viên được tham gia vào hoạt động quản trị của công ty, đây là quá trình hợp
tác giữa người lao động và nhà quản trị trong việc ra quyết định và các chính sách kinh doanh.
- Tuyển dụng : Sở hữu lực lượng nhân viên trung thành, có sự tận tụy với tổ chức cao. Người lao động rất
có tinh thần trách nhiệm đối với công ty. Vì lợi ích của công ty mà người lao động sẵn sàng làm bất cứ công
việc gì được giao phó, bất kể họ là những người có chức vụ hay không. Họ được đào tạo kỹ lưỡng về nhiều
Facebook.com/DethiNEU
chuyên ngành nên luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng mọi tình huống để có thể thay thế đồng nghiệp lúc cần thiết.
Và như vậy có nghĩa là kiến thức của họ rất đa dạng, tổng hợp.
- Hệ thống trả lương, thưởng phạt đơn giản, theo cấp bậc. Trong một vài nước, hiệu quả công việc
thường không phải là cơ sở chính để thăng cấp công nhân. Ở Trung Quốc và Nhật Bản, tuổi đời mới là nhân
tố quyết định hàng đầu trong việc thăng cấp. Vì vậy, nhân viên sẽ được đãi ngộ dựa trên thâm niên chứ
không phải theo kết quả công việc. Điều này sẽ gây khó khăn khi liên doanh với các công ty nước ngoài, vì
phong cách quản lý phương Tây lại là trả lương theo hiệu quả công việc, nên nhân viên thâm niên cao chưa
chắc được đãi ngộ tương xứng.
2.Triết lý kinh doanh:Hướng tới mục tiêu đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, xã hội; đặt lợi ích của người tiêu
dùng lên hàng đầu.
Ảnh hưởng trực tiếp của văn hoá lên hoạt động marketing của doanh nghiệp là tác động lên chính hành
Ví dụ: Những mối quan hệ: Doanh nhân - Xã hội; Doanh nhân - Khách hàng; Doanh nhân - Các
Doanh nhân đối tác; Cấp trên - cấp dưới thường nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn về lợi ích, tiêu chí, đường
lối. Để giải quyết các doanh nhân Nhật Bản thường tìm cách mở rộng đường tham khảo giữa các bên,
tránh gây ra những xung đột đối đầu. Các bên đều có thể đưa ra các quyết định trên tinh thần giữ chữ
Tình trên cơ sở hợp lí đa phương. Các qui định Pháp luật hay qui chế của Doanh nghiệp được soạn thảo
khá " lỏng lẻo" rất dễ linh hoạt nhưng rất ít trường hợp lạm dụng bởi một bên.
PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA VĂN HÓA NHÓM ĐẾN KINH DOANH:
1. Quản trị nguồn nhân lực :
a) Thiết kế công việc :
Facebook.com/DethiNEU
Thiết kế công việc là cách mà một loạt công việc hoặc một công việc trọn vẹn được thiết lập nhằm sắp
xếp một cách hợp lí các yêu cầu về sức mạnh và hoạt động trí óc. Tuy nhiên, theo nghiên cứu (1) “ Taking
stock in our progress on individualism – collectivism: 100 years or solidarity and community” của
P.C.Earley và C.B.Gibson đã chỉ ra rằng “thiết kế công việc không phù hợp và áp dụng được ở những nền
văn hóa theo định hướng nhóm”. Tại những nền văn hóa này, công việc có sự lệ thuộc và những nhu cầu
giống nhau trông tổ chức có tầm quan trọng đối với công việc hơn là những nhân tố truyền thống của một
công việc như: sự xác định nhiệm vụ và sự phản hồi …
Nghiên cứu này cũng cho thấy có sự ảnh hưởng của giá trị tổ chức đối với văn hóa định hướng nhóm,
đặc tính của nhiệm vụ có thể ảnh hưởng bởi bởi cấp độ của nhóm và giữa những người trong nhóm đó.
Những người gắn mình với nhiệm vụ độc lập trong xã hội định hướng cá nhân sẽ hoàn thành chúng tốt hơn
là những người gắn mình vào nhiệm vụ mang tính hợp tác trong xã hội định hướng nhóm. Đặc biệt, có sự
tương tác giữa giá trị văn hóa và kiểu loại nhiệm vụ. Trong văn hóa định hướng nhóm, giữa những thành
viên trong nhóm sẽ có mối quan hệ tích cực và công việc sẽ có tính hợp tác cao nếu không ai trong nhóm thể
hiện “cái tôi cá nhân” của mình ra tập thể. Có thể thấy, trong nền văn hóa này công việc đều mang tính lệ
thuộc và từng cá nhân không được quan tâm bằng sự tương đồng giữa các cá nhân. Thiết kế công việc được
áp dụng và dùng để phân công công việc cho từng cá nhân, nhưng trong những nền văn hóa định hướng
nhóm như Nhật Bản hay Trung Quốc, những nhiệm vụ mang tính hợp tác sẽ có kết quả tốt hơn khi làm việc
nhóm.
Vì vậy, thiết kế công việc dù là đúng đắn và là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu suất, kết quả công việc vẫn
chưa thực sự phát huy được ưu điểm của mình trong nền văn hóa định hướng nhóm.
những kết quả mang tính kết nối toàn xã hội và không được tự do thể hiện bản thân.
Facebook.com/DethiNEU
Mặt khác, trong nền văn hóa định hướng nhóm, nhóm thường chịu trách nhiệm tốt hơn so với cá nhân.
Trong khi đó, tại các nền văn hóa định hướng cá nhân, mỗi người phải tự chịu lấy trách nhiệm của mình. Và
năng suất làm việc của những cá nhân trong nền văn hóa Mĩ hay châu Âu thường cao hơn hẳn khi làm việc
một mình và sẽ ngược lại nếu làm việc nhóm. Còn những đồng nghiệp người Trung hay Nhật, họ đạt kết quả
cao hơn khi làm việc nhóm và tồi hơn khi làm việc cá nhân.
Để chúng minh cho điều nay, Earley đã lập một nhóm gồm 48 thực tập sinh người Trung và nhóm khác
gồm 48 thực tập sinh người Mĩ. Nhiệm vụ của họ là viết ghi nhớ và đánh giá kế hoạch, đơn xin việc của
những ứng viên. 10 người đầu tiên mỗi nhóm sẽ thực hiện một công việc gồm 200 nhiệm vụ đơn lẻ và phải
hoàn thành trong 1 giờ đồng hồ và được ẩn danh. 10 người tiếp theo cũng được làm nhiệm vụ tương tự như
trên nhưng phải ghi tên các thành viên trong nhóm và phân công công việc. 10 người tiếp của cả hai nhóm
được giao các nhiệm vụ đơn lẻ và phải hoàn thành trong 2-5 phút và cũng được ẩn danh, nhóm người còn lại
của hai đội cũng phải làm nhiệm vụ cá nhân như trên nhưng phải ghi danh rõ ràng. Kết quả cho thấy, người
Trung làm tốt hơn khi làm nhóm và ẩn danh. Trong khi đó họ lại không xuất sắc bằng người Mĩ khi làm cá
nhân và phải ghi tên họ đầy đủ
Nghiên cứu (1) còn chỉ ra rằng hiệu suất làm việc của nhóm bị ảnh hưởng bởi sự đào tạo theo nhóm .
Những người trong nhóm thường tập trung chú y vào những vai trò đạt tiêu chuẩn của nhóm. Vì vậy, nếu
một nhóm không được đào tạo tập trung hay khồn có sự tương đồng về kiến thức giữa những người trong
nhóm thì hiệu suất làm việc sẽ bị giảm sút.
Ngoài ra, tầm ảnh hưởng của trưởng nhóm là rất lớn tròn ngững nền văn hóa định hướng nhóm. Người
trưởng nhóm là người cổ vũ và trân trọng những công hiến của nhân viên trong nhóm. Nhũng nỗ lực của
nhân viên luôn phải được đánh giá cao với tổ chức và sự ủng hộ của người trưởng nhóm quan trọng hơn so
với văn hóa định hướng cá nhân. Người trưởng nhóm vừa phải tham gia công việc vừa phải chỉ đạo nhóm.
Điều này khiến các cá nhân khác trong nhóm thường ỷ lại trưởng nhóm và thụ động trong nhiều việc, trách
nhiệm cũng là một vấn đề cần đề cập khí người trưởng nhóm được mặc định là người “hứng mũi chịu sào”.
d) Khả năng sáng tạo
Sáng tạo là những ý tưởng mới mẻ và có ích trong công việc. Những người có khả năng sáng là những
người luôn độc lập với sự phán xet của người khác, và là người tự tin, năng động. Sự sáng tạo giúp con
người bước khỏi lối mòn suy nghĩ và luôn công hiến nhiều hơn cho xã hội. Tuy nhiên, trong nghiên cứu (2)
Trong nền văn hóa này, người ra quyết định là trưởng nhóm và người trưởng nhóm sẽ đưa ra quyết định
dựa trên những chuẩn mực và qui tắc đạo đức mà không dựa trên cơ sở của sự công bằng. Thời gian ra quyết
định cũng lâu hơn so với khi quyết định bởi cá nhân nhưng mức độ chính xác và hiệu quả thì chưa chắc đã
hơn. Tính kiên định của người ra quyết định cũng bị ảnh hưởng khi có nhiều ý kiến đóng góp.
Câu 9: Văn hóa định hướng cá nhân: đặc trưng, ý nghĩa đối với kinh doanh
Khái niệm: Một nền văn hóa trong đó mỗi cá nhân có xu hướng chịu trách nhiệm cho sự sung túc của
anh ta hay cô ta được gọi là văn hóa định hướng theo cá nhân.
Đặc trưng: Hình thức văn hóa này thường thấy ở Úc, Canada, Tây Ban Nha, Anh và Mỹ. Con người
được tự do chú tâm vào các mục tiêu cá nhân nhưng phải có trách nhiệm về những hành động của họ. Trẻ
em được giáo dục độc lập và tự tin khi còn bé. Giá trị của các nền văn hóa đó là làm việc tích cực, nỗ lực
bản thân và chú trọng vào chủ nghĩa cá nhân nhằm thúc đẩy việc chấp nhận rủi ro, mà chính điều đó khuyến
khích sự sáng tạo và cải tiến. Sự chú trọng vào chủ nghĩa cá nhân dẫn đến mức độ thay đổi nơi làm việc cao.
Điều này là một cân nhắc rất quan trọng. Nếu một nhà quản lý then chốt nắm giữ các thông tin có giá trị đi
làm việc cho một dối thủ cạnh tranh, người chủ cũ của anh ta có thể mất tính cạnh tranh chỉ qua một đêm.
Trong nền văn hóa chủ nghĩa cá nhân, đôi khi khó phát triển một môi trường làm việc hợp tác hoặc
“tinh thần đồng đội” giữa những người lao động. Con người đã quen sự thừa nhận cá nhân có hướng liên đới
tới các trách nhiệm cá nhân hơn là cho hoạt động rộng rãi của công ty. Các công ty trong nền văn hóa định
hướng theo cá nhân có thể thấy khó tin vào sự hợp tác giữa các bên. Các đối tác rất có thể sẽ rút lui khỏi sự
hợp tác khi các mục tiêu của họ được thỏa mãn.
*Ưu điểm :
-Con người được tự do chú tâm vào các mục tiêu cá nhân nhưng phải có trách nhiệm về hành động của
mình.Điều này thúc đẩy sự làm việc tích cực, nỗ lực bản thân, chấp nhận rủi ro.Từ đó khuyến khích sự đổi
mới, sáng tạo trong công việc.
-Chủ nghĩa cá nhân sẽ dẫn đến những con người dân chủ(hiểu rõ tầm quan trọng của tự do cá nhân và đa
nguyên xã hội), từ đó làm động lực cho sự phát triển của đất nước.Con người là chủ thể của xã hôi, 1 xã hội
ko thể phát triển với những con người ko sáng tao, ỷ lại vào số đông,…
*Nhược điểm :
-Đôi khi khó phát triển 1 môi trường làm việc hợp tác hoặc “tinh thần đồng đội “ giữa những người lao
động.Con người đã quen sự thừa nhân có hướng liên đới tới các trách nhiệm cá nhân hơn là cho hoạt động
rộng rãi của công ty.
- Sự liên kết kém chặt chẽ giữa các quốc gia.
Các tác động:
- Xung đột và bạo lực Thứ nhất, xung đột địa phương có thể gây cản trở mạnh mẽ đến đầu tư của các
công tyquốc tế. Bạo lực làm suy yếu khả năng sản xuất và phân phối sản phẩm, gây khó khăn cho
việcnhận nguyên liệu và thiết bị gây cản trở việc tuyển dụng những nhân công giỏi. Xung đột nô racũng
đe dọa cả tài sản (văn phòng, nhà máy và thiết bị sản xuất) và cuộc sống của nhân công.Nguyên nhân, sự
oán giận và bất đồng hướng về chính phủ của họ. Khi mà những giải pháp hòabình giữa người dân và
chính phủ thất bại, xung đột để thay đổi người lãnh đạo xảy ra. Thứ hai, xung đột diễn ra do tranh chấp
lãnh thổ giữa các quốc gia Thứ ba, chiến tranh xảy ra giữa các dân tộc, chủng tộc và tôn giáo. Ngoài sự
tranh chấp ởPakixtan, xung đột còn thường xuyên xảy ra giữa đạo Hồi và đạo Hindu ở ngay tại Ấn Độ.
Vớicác công ty hoạt động ở Ấn Độ, những rủi ro tôn giáo sẽ làm gián đoạn công việc kinh doanh.
- Khủng bố và bắt cóc Bắt cóc và những cuộc khủng bố khác là phương tiện để các thế lực khẳng
định vị thếchính trị. Khủng bố có mục đích tạo ra sự lo sợ và ép buộc sự thay đổi thông qua việc gây
ranhững cái chết và tàn phá tài sản một cách bất ngờ, thiệt hại nặng nề và không lường trước được.VD:
khủng bố 11-9. Bắt cóc thường được sử dụng nhằm tài trợ tài chính cho các hoạt động khủng bố.
Cáchãng kinh doanh nước ngoài lớn là mục tiêu chính bởi vì những người làm việc ở đây có thể trảnhững
khoản chuộc khá hậu hĩnh. Khi những đại diện chính của công ty được bổ nhiệm sang làmviệc ở những
nước có nhiều vụ bắt cóc, họ nên đến làm việc một cách lặng lẽ, chỉ nên gặp một sốquan chức chủ chốt
địa phương nhằm mục đích bảo vệ an ninh cho họ và khi trở về nước cũngnên nhanh chóng, lặng lẽ.
- Chiếm đoạt tài sản Đôi khi một số chính quyền chiếm đoạt tài sản của các công ty trên lãnh thổ của
họ. Sựchiếm đoạt diễn ra dưới 3 hình thức:
Tịch thi, xung công và quốc hữu hóa. Tịch thu: Là việc chuyển tài sản của công ty vào tay chính phủ
mà không có sự đền bùnào cả. Thông thường không có cơ sở pháp lý yêu cầu đền bù hoặc hoàn trả lại tài
sản.
Xung công: Là việc chuyển tài sản của tư nhân vào tay chính phủ nhưng được đền bù Ngày nay, các
chính phủ ít sử dụng đến giải pháp tịch thu hoặc xung công. Bởi vì ảnhhưởng đến thu hút đầu tư trong
tương lai. Các công ty đã đầu tư thì lo sợ mất tài sản và nó cũngngăn cản các công ty mới bắt đầu đầu tư
vào địa phương nếu việc tịch thu xảy ra.
Quốc hữu hóa: Quốc hữu hóa phổ biến hơn xung công và tịch thu. Trong khi xung côngáp dụng đối
với một hoặc một số công ty nhỏ trong một ngành, thì quốc hữu hóa diễn ra đối vớitoàn bộ ngành. Quốc
đượcgiúp đỡ của các quan chức địa phương. Các công ty thu nhận rủi ro qua năm chiến lược: vốn
tíndụng và vốn cổ phần của địa phương, định vị, trợ giúp phát triển, cộng tác và bảo hiểm. Vốn tín dụng
và vốn cổ phần ở địa phương. Vốn tín dụng và vốn cổ phần trong đó phảikể đến tài trợ cho các hoạt
động kinh doanh ở địa phương bằng sự trợ giúp của các hãng địaphương, công đoàn, các định chế tài
chính và chính phủ. Sự trợ giúp của các tổ chức được thuậnlợi với điều kiện phải đảm bảo là các thế lực
chính trị không làm gián đoạn các hoạt động trên.Nếu là hoạt động góp vốn, các đối tác chấp nhận được
lãi suất. Nếu là những khoản cho vay, họnhận được lãi suất. Rủi ro được giảm xuống bởi vì các đối tác ở
địa phương nhận được lợi ích. Chiến lược định vị: Định vị đòi hỏi những hoạt động trợ giúp, đó là sự
pha trộn sản phẩmhoặc một số yếu tố kinh doanh khác- thậm chí các công ty chỉ rõ ra- để phù hợp với
kiểu thẩmmỹ và văn hóa. Trợ giúp phát triển. Trợ giúp phát triển cho phép các công ty nước ngoài trợ
giúp cáccông ty trong nước hoặc khu vực trong phát triển mạng lưới thông tin và giao thông, cải
thiệnchất lượng cuộc sống ở địa phương. Bởi vì lúc này các công ty và quốc gia đó trở thành đối táccủa
nhau và cả hai bên cùng có lợi. Mức trợ giúp có sự thay đổi sâu sắc. Đối với các dự án nhỏ, các công ty
xây dựng nhàcho người lao động. Đối với các dự án lớn, các hãng có thể chi ra hàng triệu đô-la để xây
dựngtrường học, bệnh viện và nâng cấp cơ sở hạ tầng. Sự cộng tác: Một phương thức ngày càng phổ
biến trong quản lý rủi ro, sự hợp tác có thểlà phương thức tối ưu trong kế hoạch phát triển công ty, nó là
phương thức để chia sẻ rủi ro. Bảo hiểm: Các công ty mua bảo hiểm để chống lại rủi ro chính trị tiềm ẩn.
Có một sốchính sách bảo vệ các công ty khi mà chính quyền địa phương hạn chế việc chuyển tiền từ
trongnước ra ngoài nước. Có những hình thức khác hạn chế mất mát do bạo lực, chiến tranh, khủngbố.
- Duy trì mức độ phụ thuộc: Thông thường, một công ty duy trì sự phụ thuộc sở tại vào hoạt động
của nó. Công typhải tiếp cận theo ba hướng để giải quyết vấn đề này:
1. Minh chứng được địa phương được lợi ích qua hoạt động của công ty nước ngoài
2. Các công ty nước ngoài cố gắng sử dụng nguyên vật liệu, công nghệ và một phầnnguồn lực sẵn có
của địa phương. Họ cố gắng thuyết phục bất bỳ một sự chiếm đoạt tài sản nàocũng gây ra khó khăn trong
kinh doanh. Nếu công ty đủ mạnh và đủ lớn, nó có thể nhận được toàn bộ quyền kiểm soát kênhphân
phối ở địa phương. Nếu nó bị đe dọa, nó có thể từ chối cung cấp cho người tiêu dùng địaphương và
người mua là các công ty địa phương. Duy trì sự phụ thuộc nhằm: Thứ nhất, công ty không phát triển
nhân công địa phương.Những doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn do sự hiện diện của các
doanh nghiệp nướcngoài hùng mạnh. Thứ hai, các công ty quốc tế phá vỡ nhiều khu vực kinh tế bằng
việc từ chốisử dụng các yếu tố sản xuất do khu vực này cung cấp. Thứ ba, các công ty này từ chối cung
- Nhân tố truyền thống: Là lịch sử pháp luật của một quốc gia.
- Các tiền lệ: Các quy ước có tính chất bắt buộc xuất hiện trước khi có tòa án.
- Cách sử dụng: Là những cách mà theo đó luật pháp được áp dụng cho một tình huống cụ thể.
Thông luật: Tòa án giải quyết một trường hợp nào đó thông qua việc làm sáng tỏ các yếu tố lịch sử, tiền
lệ và cách sử dụng. Tuy nhiên, mỗi bộ luật được vận dụng khác nhau đôi chút trong mỗi tình huống.
Hợp đồng kinh doanh là thỏa thuận mang tính chất pháp lý giữa hai bên, có xu hướng dài dòng bởi vì họ
phải quan tâm đến luật pháp sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp có tranh chấp. Các công ty phải
xác định thời gian rõ ràng trong hợp đồng, và phải cam kết tar một khoản tiền lớn để nhận được sự tư
vấn pháp luật. Xét về mặt tích cực, thường luật khá linh hoạt. Thay vì áp dụng cứng nhắc trong mọi tình
huống, bộ luật này xử lý trong những trường hợp và tình huống cụ thể. Thông luật được áp dụng tại Úc,
Anh, Canada, New zealand, Mỹ và một phần Châu Á và Âu.
* Luật dân sự
Luật dân sự xuất hiện ở Rome vào thế kỷ XV trước công nguyên, nó là bộ luật ra đời và thông dụng
nhất trên thế giới. Luật dân sự dựa trên các quy định chuẩn tắc bằng văn bản. Luật dân sự ít có sự đối lập
như thông luật bởi vì nó không cần giải thích các điều luật theo lịch sử hình thành, tiền lệ và cách sử
dụng. Bởi vì, tất cả các luật được hệ thống hóa và súc tích, cho nên các hợp đồng cần làm rõ các hàm ý
trong hợp đồng. Tất cả các quyền lợi và trách nhiệm đều trực tiếp thể hiện trong hợp đồng. Bên cạnh đó,
chi phí về thời gian và tiền bạc ít tốn kém hơn, nhưng luật dân sự có xu hướng bỏ qua những tình huống
đơn lẻ. Luật được áp dụng tại Cuba, Puerto Rico, Quebec và tất cả các nước trung và Nam Phi.
* Luật mang tính chất tôn giáo (thần luật).
Luật dựa trên nền tảng tôn giáo được gọi là luật thần quyền. Có 3 luật thần quyền nổi lên đó là Luật
Đạo Hồi, đạo Hin-đu, luật Do Thái.
Các hãng hoạt động ở những nước tồn tại luật thần quyền phải nhạy cảm với niềm tin và văn hóa địa
phương. Họ nên đánh giá hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh bao gồm những thông lệ và chính sách
đầu tư để đảm bảo phù hợp với không chỉ pháp luật mà còn tôn giáo và văn hóa địa phương.
Nhìn chung, luật liên quan đến chất lượng sản phẩm, trách nhiệm với sản phẩm và ô nhiễm môi
trường, đối xử với công nhân được áp dụng mạnh mẽ ở những nước Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ Latinh.
Facebook.com/DethiNEU
Một số công ty quốc tế lợi dụng những chuẩn mực khác nhau ở những nước khác nhau. Thí dụ: họ sản
xuất sản phẩm bị cấm ở một nước nhưng lại bán sản phẩm đó sang nước khác. Vì vậy, sự khác nhau của
trình ngăn chặn nhữngngười khác làm, sử dụng, bán những phát minh đã được đăng ký này. Bằng phát minh
sáng chế yêu cầu những phát minh phải đảm bảo yếu tố mới, khả dụng.
Nhãn hiệu đăng ký: là những từ hoặc các biểu tượng để phân biệt các sản phẩm và nhà sản xuất ra
nó. Lợi ích của khách hàng là họ hiểu ra được chất lượng sản phẩm mà họ mua là của các hãng nổi tiếng.
Bản quyền tác giả: Trao cho quyền sở hữu có quyền tự do xuất bản hoặc quyền quyết định về sản
phẩm của mình. Bản quyền tác giả còn cho biết rõ thời gian và tên người sở hữu. Một người sở hữu có
những quyền sau:
- Quyền được tái xuất bản.
- Quyền được nhận sản phẩm mới từ bản quyền.
- Quyền được bán và phân phối các bản sao chép.
- Quyền định đoạt sản phẩm từ bản quyền.
- Quyền công bố bản quyền ra công chúng.
* Sự đảm bảo và trách nhiệm đối với sản phẩm
Hầu hết các quốc gia đều có đạo luật bảo vệ sản phẩm, luật này đưa ra các tiêu chuẩn áp dụng cho
các nhà sản xuất. Trách nhiệm đối với sản phẩm yêu cầu các nhà sản xuất, người bán và những đối tượng
khác, gồm cả nhân viên công ty phải có trách nhiệm đối với những thiệt hại, thương tích hoặc chết chóc do
các sản phẩm khuyết tật gây ra. Tổn thất có thể phải được bồi thường bằng tiền thông qua bộ luật dân sự và
tiền phạt, hoặc có thể bị phạt tù theo luật hình sự. Những hòa giải phải được thực hiện thường xuyên trước
khi vụ việc được đưa ra tòa án.
* Thuế
Facebook.com/DethiNEU
Chính phủ các nước dùng thu nhập từ thuế doanh thu cho nhiều mục đích. Tiền thuế được dùng để
trả lương, xây dựng quân đội, điều hòa thu nhập từ người giàu sang người nghèo. Chính phủ cũng đánh thuế
trực thu, còn gọi là thuế tiêu dùng cho hai mục đích:
- Nó giúp cho việc chi trả cho những hậu quả của việc tiêu dùng một sản phẩm.
- Làm cho hàng hóa nhập khẩu đắt hơn.
Thuế tiêu dùng được đánh trên các hàng hóa như rượu và thuốc lá để điều trị những bệnh tật sinh ra
từ những sản phẩm này. Tương tự, thuế đánh trên xăng dầu để xây dựng và sữa chữa cầu cống và đường xá.
Thuế đánh trên những mặt hàng nhập khẩu làm cho những hàng hóa địa phương có lợi thế hơn về mặt giá
cả. Xét về tỷ lệ khác, các nước có tỷ lệ thuế suất khác nhau tính trên thu nhập.
Việt Nam đang chứng kiến số lượng các cuộc đình công, phản kháng và tranh chấp đất đai ngày càng
tăng, và chúng thường ảnh hưởng tới công việc kinh doanh của người nước ngoài. Những bất ổn này nổ ra ở
khu vực nông thôn do Nhà nước sung công đất đai, và do những quan chức tham nhũng ở địa phương.
Nhưng vẫn không có dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng bất ổn rộng lớn hơn sẽ nổ ra, hoặc thể chế hiện tại sẽ
bị thách thức từ bên dưới thời gian tới.
II. Đối với các DN Việt Nam trên thị trường Mỹ
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
Facebook.com/DethiNEU
……………….
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
……………….
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
……………….
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
……………….
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
……………….
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………
II. Luật quốc tế
Facebook.com/DethiNEU
Cùng với quy định của pháp luật quốc gia, các điều ước quốc tế đa phương, song phương và khu vực
là một nguồn luật không thể thiếu khi xem xét việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Vì
vậy, trong hoạt động thực thi và bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, và quyền
chống cạnh tranh không lành mạnh, cơ quan thực thi cần lưu ý viện dẫn đến các công ước quốc tế sau đây về
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã tham gia:
1. Công ước Pari về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883
Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883 tạo lập cơ sở chung nhất cho các thỏa
thuận đa phương và song phương khác về bảo hộ quyền SHCN. Tính đến tháng 10 năm 2011 có 173 quốc
gia là thành viên của Công ước này, trong đó Việt Nam tham gia là thành viên từ năm 1949.
Công ước Paris áp dụng cho sở hữu công nghiệp theo nghĩa bao gồm sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng
công nghiệp, giải pháp hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ) và chống
cạnh tranh không lành mạnh.
Công ước Paris đề ra nguyên tắc “đối xử quốc gia” theo đó, công dân Việt Nam có quyền được hưởng các
điều kiện thuận lợi như công dân của bất kỳ một nước thành viên nào khác trong việc bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ tại nước đó, miễn là tuân thủ các điều kiện và thủ tục quy định đối với công dân của nước tương ứng.
Quy định về chế độ đối xử quốc gia được đặt ra không chỉ nhằm bảo đảm quyền của người nước ngoài được
bảo hộ mà còn đảm bảo rằng họ không bị phân biệt đối xử theo bất kỳ cách nào liên quan đến bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp.
2. Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).
Hiệp định TRIPs là hiệp định đa phương toàn diện nhất liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được ký
kết năm 1994 và bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/1995 cùng với sự ra đời của WTO. Hiệp định thừa nhận tầm
quan trọng của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với hoạt động thương mại và đầu tư, các thiệt hại đối với các
quyền lợi thương mại hợp pháp khi quyền sở hữu trí tuệ không được bảo hộ và thực thi thỏa đáng và hiệu
quả. Điều 7 của Hiệp định TRIPs quy định rằng việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ sẽ “góp phần
thúc đẩy phát minh công nghệ, chuyển giao và phổ biến công nghệ, phục vụ lợi ích của người sản xuất và
người sử dụng tri thức công nghệ, theo hướng có lợi cho sự thịnh vượng kinh tế và xã hội, cân đối giữa
quyền lợi và nghĩa vụ". Tính đến thời điểm hiện nay đã có hơn 150 quốc gia là thành viên của TRIPs, trong
đó Việt Nam tham gia TRIPs từ năm 2007.
bị lạm dụng trong pha chế nước giải khát, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn như thịt quay giò chả ô mai,
… nhiều loại thịt bán trên thị trường không qua kiểm duyệt thú y.
Tình hình sản xuất thức ăn, đồ uống giả, không đảm bảo chất lượng và không theo đúng quy định đã
đăng ký với cơ quan quản lý cũng ngày càng phổ biến. nhãn hiệu và quảng cáo không đúng sự thật vẫn xảy
ra.
Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực phẩm ba gồm thuốc trừ sâu, diệt cỏ, hóa chất kích thích
tăng trưởng và thuốc bảo quản không đúng theo quy định đã gây ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn dư các
hóa chất này trong thực phẩm. Việc bảo quản lương thực thực phẩm không đuings quy cách tạo điều kiện
cho nấm mốc và vi khuẩn phát triển đã dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm. các bệnh do ngộ độc thực phẩm
gay nên không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức ăn mà còn là các bệnh mãn tính do nhiễm và tích
lũy các chấ độc hịa từ môi trường bên ngoài vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể
trong đó có bệnh tim mạch và ung thư.
Theo báo cáo của tổ chức y tế đánh giá các chương trình hành động đảm bảo chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm trên toàn cầu đã xác định nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em là các bệnh đưởng ruột,
phổ biến là tiêu chảy. Đồng thời cũng nhận thấy nguyên nhân các bệnh trên là do thực phẩm bị nhiễm
khuẩn. Ở Việt Nam, theo thống kê của bộ y tế, trong 10 nguyên nhân gây tử vong thì nguyên nhân do vi
sinh vạt gây bệnh đường ruột đứng thứ 2.
• Số liệu thống kê
- Theo số liệu thống kê của bộ y tế, năm 2007, cả nước xảy ra 248 vụ ngộ độc thực phẩm với 7.329
người mắc, trong đó có 55 người tử vong. So với năm 2006, tuy số lượng người tử vong giảm 3.5%
nhưng tổng số người mắc lại tăng 2.7%.
- Từ đầu năm 2008 đến tháng 9-2008, cacr nước xảy ra 150 vụ ngộ độc thực phẩm với 6724 người
mắc trong đó có 49 người tử vong. Riêng 10-2008 có ít nhất 12 vụ ngộ độc thực phẩm trên cả nước
với khoảng 300 người mắc, trong đó đáng lưu ý nhất là tình trạng ngộ độc rượu tại TP.HCM( 7 vụ
với 12/30 người tử vong).
- Hiện có 40 tỉnh, thành phố trong cả nước xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm thường xuyên. Số ca ngộ
đọc thực phẩm phải nhập viện tập trung cao nhất ở miền đông nam bộ(51,91%). Tuy nhiên, số ca tử
vong do ngộ độc thực phẩm lại tập trung cao ở vùng núi phía Bắc(55,81).
- Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới(WHO), mỗi năm nước ta có tới hơn tám triệu người bị ngộ
độc và tiêu chảy do ăn uống. Đáng nói là do tập quán ăn uống mất vệ sinh nên tỷ lệ nhiễm giun sán
không được coi trọng mà chỉ là hình thức. Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ "cấp phát - giao nộp".
Vì vậy, sức lao động hay các văn bằng phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là
hàng hóa về mặt pháp lý.
+ Thư tư: Bộ máy quản lý nhà nước cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, kém năng động gây ra tình
trang cửa quyền quan liêu, hách dịch nhưng lại được hưởng chế độ, quyền lợi cao hơn người lao động.
4. Ưu và nhược điểm
+ Ưu điểm: Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng (đặc biệt trong hoàn cảnh
đất nước có chiến tranh) thì cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung có những ưu điểm nhất định:
- Nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mục tiêu chủ yếu
trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, nhất là trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên công
nghiệp nặng.
- Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã đáp ứng
được yêu câu của thời chiến, bởi vì do đất nước bị xâm lược, mục tiêu của cả nước là giải phong dân tộc bởi
vậy thực hiện kế hoạch hóa tập trung sẽ huy động được tối đa sức lực của nhân dân xây dựng và phát triển
kinh tế để thực hiện mục tiêu đó, đây là nhiệm vụ chung chứ không của riêng ai.
- Nhà nước thực hiện bao cấp hoàn hoàn, giúp cho người chiến sĩ ra chiến
trường cũng yên tâm phục vụ chiến đấu hơn, bởi họ không phải lo nghĩ đến
chuyện giai đình, vọ con ở nhà, vì mọi thứ đẫ được nhà nước bao cấp.
+ Nhược điểm:
- Những người chỉ trích cho rằng những người lên kế hoạch cho nền kinh tế không đủ thông tin và
không thể nhận biết những nhu cầu tiêu dùng một cách chính xác và do đó không thể phối hợp sản xuất một
cách hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống giá cả sẽ làm nhiệm vụ này. Ví dụ khi một mặt hàng
khan hiếm, giá của nó sẽ tự động tăng làm cho người tiêu dùng ít mua hơn và nhà sản xuất tập trung sản xuất
nhiều hơn. Hệ thống giá cả là xương sống của nền kinh tế thị trường. Nó gửi tín hiệu đến người tiêu dùng và
nhà sản xuất cho biết mặt hàng nào giá trị. Sự thiếu vắng của hệ thống giá cả thị trường sẽ buộc các nhà
hoạch định kế hoạch làm nhiệm vụ này Trong lịch sử Liên Xô, có thời kỳ người dân phải xếp hàng dài để
chờ mua các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu.
- Đó là do sự quyết định của chính phủ. Ví dụ trong một thời kỳ nào đó, chính phủ trung ương có thể
cho rằng sản xuất máy cày quan trọng hơn sản xuất giầy. Để thực hiện điều này, nhà nước sẽ tập trung nhiều
nguồn lực hơn cho công nghiệp nặng và giảm đầu tư cho công nghiệp nhẹ. Điều này sẽ dẫn đến khan hiếm