Lời nói đầu
Sau gần 20 năm đổi mới nền kinh tế, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trờng, theo định hớng Xã hội chủ nghĩa và có sự quản lý của Nhà n-
ớc, nền kinh tế nớc nhà đã đạt đợc những thành tựu quan trọng bớc đầu, song cũng chỉ
đáp ứng đợc một phần trớc những nhu cầu cấp thiết của xã hội, đặc biệt là nhu cầu việc
làm do tỷ lệ thất nghiệp gia tăng từ chuyển đổi nền kinh tế và bùng nổ dân số.
Trong những năm gần đây, xuất khẩu lao động đã trở thành một hoạt động kinh tế -
xã hội quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của nớc ta. Từ khi ra đời và phát
triển đến nay đã đợc hơn 20 năm, xuất khẩu lao động Việt Nam đã đạt đợc những thành
tựu đáng kể, song bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và những thách thức mới.
Với sức ép nội tại về việc làm, nguyện vọng của ngời lao động và lợi ích Quốc gia, đòi
hỏi phải đợc đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả, kể cả số lợng lẫn chất lợng của chơng
trình xuất khẩu lao động, hiện tại cũng nh trong những năm tới. Nhằm đa lĩnh vực xuất
khẩu lao động lên một tầm cao mới, tơng xứng với vị trí và vai trò quan trọng của nó.
Trong điều kiện, hoàn cảnh kinh tế nớc ta hiện nay và xu hớng hội nhập kinh tế quốc
tế, đẩy mạnh xuất khẩu lao động Việt Nam hay thực chất là đa nhiều lao động Việt Nam
đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài là một hoạt động cần thiết. Sau quá trình học tập,
nghiên cứu và đi thực tập, là một sinh viên tôi nhận thức sâu sắc rằng: Xuất khẩu lao
động quả thực là một vấn đề mới, rất khó và phức tạp; đang đợc Đảng, Nhà nớc và toàn
Xã hội quan tâm, coi đó là một trong 4 ngành kinh tế quan trọng của đất nớc. Với lý do
đó tôi đã lựa chọn đề tài Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả
xuất khẩu lao động Việt Nam trong những năm tới làm đề tài cho Luận văn tốt
nghiệp của mình, nhằm góp phần làm rõ thêm về mặt lý luận và đáp ứng yêu cầu thực
tiễn cũng nh những yêu cầu mới đối với xuất khẩu lao động trong những năm tới.
Đối tợng nghiên cứu:
Luận văn tốt nghiệp
1
Đối tợng nghiên cứu của Luận văn là hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam hay
thực chất là việc đa ngời lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài.
Phơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng một số các phơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
lao động Việt Nam trong những năm tới.
Hà Nội, ngày 16 tháng 12 năm 2003.
Ngời thực hiện:
Sinh viên: Nguyễn Lơng Đoàn.
Luận văn tốt nghiệp
3
lời cảm ơn
Trớc hết, cho phép em đợc bày tỏ lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể Thầy
giáo, Cô giáo trờng Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội, đã dạy dỗ, dìu dắt em trong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Nhà trờng.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Trởng khoa Thơng mại P.G.S T.S Trần Văn
Chu, Thầy giáo Phó chủ nhiệm khoa Thơng mại T.S Trần Văn Hoè cùng tập thể các
Thầy cô trong khoa, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong việc học tập, rèn luyện
cũng nh đi thực tập và viết đề tài luận văn của mình.
Đặc biệt, cho phép em đợc bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn chân thành tới Thầy giáo
T.S Nguyễn Anh Tuấn Phó phòng tổ chức cán bộ, trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà
Nội, ngời đã dành nhiều thời gian tận tình hớng dẫn em trong việc định hớng, lựa chọn
và viết đề tài luận văn của mình.
Em cũng xin đợc bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các Cô, Chú, Anh Chị cán bộ công
nhân viên Cục Quản lý Lao động với Nớc ngoài Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội
số 41 Lý Thái Tổ Hoàn Kiếm - Hà Nội cùng các Cô, Chú, Anh, Chị cán bộ công
nhân viên thuộc Công ty Cung ứng Nhân lực Quốc tế và Thơng mại SONA số 34 Đại Cồ
Việt Hai Bà Trng Hà Nội. Đã hợp tác, tận tình quan tâm giúp đỡ em trong suốt quá
trình tìm hiểu và nghiên cứu về các hoạt động quản lý, kinh doanh xuất khẩu lao động tại
Cục và Công ty, để em sớm hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Xin chân thành cảm ơn các Cá nhân, Tổ chức kinh tế, Xã hội đã cung cấp và cho
phép sử dụng tài liệu trong việc thực hiện và viết đề tài của cuốn luận văn này.
Hà Nội, ngày 16 thág 12 năm 2003.
Sinh viên: Nguyễn Lơng Đoàn
Lớp 402 KTĐN
ra của cải, vật chất, tinh thần cho xã hội.
1.1.6 Khái niệm việc làm.
Việc làm là một hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo
điều kiện tăng thêm thu nhập cho những ngời trong cùng hộ gia đình.
1.1.7 Khái niệm xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động: (Export of Labour), đợc hiểu nh là công việc đa ngời lao động từ
nớc sở tại đi lao động tại nớc có nhu cầu thuê mớn lao động.
Lao động xuất khẩu: (Labour Export), là bản thân ngời lao động, có những độ tuổi
khác nhau, sức khỏe và kỹ năng lao động khác nhau, đáp ứng đợc những yêu cầu của n-
ớc nhập khẩu lao động.
Nh trên đã đề cập, việc các nớc đa lao động đi làm việc ở nớc ngoài theo nghĩa rộng
tức là tham gia vào quá trình di dân quốc tế và nó phải tuân theo hoặc là Hiệp định giữa
hai quốc gia, hoặc là phải tuân theo Công ớc quốc tế, hoặc thông lệ quốc tế, tùy theo
từng trờng hợp khác nhau mà nó nằm ở trong giới hạn nào.
Nh vậy, việc di chuyển lao động trong phạm vi toàn cầu bản thân nó cũng có những
biến dạng khác nhau. Nó vừa mang ý nghĩa xuất khẩu lao động, vừa mang ý nghĩa của
di chuyển lao động. Do đó, đã phát sinh ra vấn đề sau:
1.1.8 Khái niệm thị trờng.
Thị trờng là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ.
1.1.9 Khái niệm thị trờng lao động.
Thị trờng lao động là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trờng trong nền kinh tế
thị trờng phát triển. ở đó diễn ra quá trình thoả thuận, trao đổi, thuê mớn lao động giữa
Luận văn tốt nghiệp
6
hai bên, bên sử dụng và bên cho thuê lao động.
1.1.10 Khái niệm thị trờng lao động trong nớc.
Thị trờng lao động trong nớc là một loại thị trờng, trong đó mọi lao động đều có thể
tự do di chuyển từ nơi này đến nơi khác, nhng trong phạm vi biên giới của một quốc gia.
l.1.11 Khái niệm thị trờng lao động quốc tế.
Thị trờng lao động quốc tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trờng thế giới,
Nh vậy, sức lao động cũng là một loại hàng hoá khi nó đợc đem ra trao đổi, mua bán,
thuê mớn và khi đã là một loại hàng hoá thì hàng hoá sức lao động cũng phải tuân theo
những quy luật khách quan của thị trờng: Quy luật cung cầu, quy luật giá cả, quy
luật cạnh tranh nh những loại hàng hoá hữu hình khác.
Nh đã phân tích ở trên, cho thấy: Để có thể hình thành thị trờng lao động xuất khẩu
trớc hết phải xuất phát từ những nhu cầu trao đổi hoặc thuê mớn lao động giữa bên cho
thuê lao động và bên đi thuê lao động. Thực chất, khi xuất hiện nhu cầu trao đổi, thuê
mớn lao động giữa quốc gia này với quốc gia khác, là đã hình thành lên hai yếu tố cơ
bản của thị trờng, đó là cung và cầu về lao động. Nh vậy là thị trờng hàng hoá sức lao
động quốc tế đã đợc hình thành từ đây.
Trong điều kiện hội nhập phát triển đời sống kinh tế nh hiện nay, quan hệ cung
cầu không còn bị bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, biên giới của một nớc chỉ còn ý
nghĩa hành chính, còn quan hệ này ngày càng diễn ra trên phạm vi quốc tế, mà trong đó
bên Cung đóng vai trò là bên xuất khẩu và Cầu sẽ đại diện cho bên nhập khẩu lao động.
1.3 Sự cần thiết khách quan và vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát
triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
1.3.1 Sự cần thiết khách quan phát triển hoạt động xuất khẩu lao động.
Thực tế cho thấy, nớc ta là một quốc gia đông dân khoảng hơn 80 triệu ngời. Theo số
liệu thống kê năm 1998 của Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội, nớc ta có khoảng 40
Luận văn tốt nghiệp
8
triệu ngời đang ở độ tuổi lao động, hàng năm tăng thêm 1,1 triệu lao động và hiện nay là
1,2 triệu lao động/năm, chiếm 3% trong tổng số lực lợng lao động. Riêng lao động kỹ
thuật cao chúng ta có khoảng 5 triệu chiếm khoảng 12,5%, trong đó lao động có trình
độ Đại học, Cao đẳng là 23% khoảng 1.150.000 ngời. Bên cạnh đó, hiện có khoảng 9,4
triệu lao động thiếu việc làm, chiếm 23,5% lực lợng lao động. Tỷ lệ thất nghiệp của lực
lợng lao động trong độ tuổi ở khu vực đô thị đã giảm liên tục từ 10% năm 1991 xuống
còn 5,88% năm 1996 nhng đến năm 1998 tỷ lệ này lại nhích lên 6,85%
(1)
và lại tiếp tục
trong những năm trớc đây và hiện tại, không một ai có thể phủ nhận những gì mà xuất
khẩu lao động Việt Nam đã đóng góp. Xuất khẩu lao động không những vừa đạt đợc
mục tiêu về kinh tế, mà còn đạt đợc cả mục tiêu về xã hội.
Về mục tiêu Kinh tế.
Trong khi nớc ta chuyển đổi nền kinh tế cha lâu, kinh tế nớc ta còn gặp vô vàn những
khó khăn, mọi nguồn lực còn eo hẹp, thì việc hàng năm chúng ta đa hàng vạn lao động
ra nớc ngoài làm việc, đã mang về cho đất nớc hàng tỷ USD/năm từ hoạt động xuất khẩu
lao động. Đây quả là một số tiền không nhỏ đối với những quốc gia đang phát triển nh
chúng ta.
Về mục tiêu xã hội.
Mặc dù còn có những hạn chế nhất định so với tiềm năng, song xuất khẩu lao động
Việt Nam trong những năm qua, bớc đầu đã đạt đợc những thành công nhất định về mục
tiêu kinh tế - xã hội mà Đảng và Nhà nớc đã đề ra.
Trớc hàng loạt những khó khăn và gánh nặng thất nghiệp và thu nhập của ngời lao
động trong nớc, cùng với các biện pháp tìm kiếm và tạo công ăn, việc làm trong nớc là
chủ yếu thì xuất khẩu lao động đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng,
góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập cho hàng vạn lao động mỗi năm, đồng thời
làm giảm sức ép về việc làm và tạo sự ổn định xã hội ở trong nớc
1.4 Quy trình xuất khẩu lao động.
Trong mỗi một giai đoạn, xuất khẩu lao động đều có một quy trình xuất khẩu riêng,
Luận văn tốt nghiệp
10
phù hợp với tính chất của từng giai đoạn. Trong thời kỳ đầu (1980 1990), quy trình
xuất khẩu lao động đợc thực hiện chủ yếu trêu cơ sở Hiệp Định đợc ký kết giữa hai
Chính phủ, thoả thuận ngành với ngành. Cơ chế xuất khẩu lao động dựa trên mô hình
nhà nớc trực tiếp ký kết và tổ chức thực hiện đa ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài,
các doanh nghiệp không trực tiếp tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng, đồng thời các
công đoạn cũng ít phức tạp hơn Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay quy trình xuất
khẩu lao động Việt Nam đã có nhiều thay đổi, các doanh nghiệp phải tự vận động tìm
kiếm và xúc tiến xuất khẩu lao động. Nhà nớc chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong việc đàm
lại đây đều đa ra những chính sách phát triển và ít nhiều đã tạo dựng đợc nền tảng vững
chắc và thành công bớc đầu, đặc biệt là các nớc xuất khẩu lao động: Banglades, ấn Độ,
Pakistan, Srilanka, Indonesia, Philippin, Thailand, Trung Quốc . hàng năm nhờ vào
giá nhân công thấp, các nớc xuất khẩu lao động Châu á tìm mọi cơ hội để cạnh tranh
với chính các nớc cùng xuất khẩu lao động trong khu vực cũng nh các nớc khác trên thế
giới và kết quả là hàng năm có hàng triệu lao động từ các nớc này đợc đa đi làm việc ở
nớc ngoài và đem về cho đất nớc mình một lợng ngoại tệ khổng lồ. Trong những năm
80, Việt Nam ta có khoảng gần 300.000 lao động làm việc tại các nớc Đông Âu, Liên
xô, Iraq và một số nớc thuộc Châu Phi khác. Trong những năm gần đây, lao động Việt
Nam đa đi ngày một tăng và tơng đối ổn định, trung bình khoảng 30.630 lao
động/năm
(1)
.
Các nớc phát triển: Anh, Pháp, Canada, Đức cũng không đứng ngoài cuộc, phần
lớn họ đa lao động ra nớc ngoài làm việc chủ yếu là các chuyên gia để thu ngoại tệ cho
đất nớc, đồng thời mỗi năm họ cũng vẫn tiếp nhận hàng vạn lao động từ các nớc khác
đến làm việc.
(1)
Số liệu đợc tính bình quân từ năm 1996 đến tháng 10 năm 2003.
Luận văn tốt nghiệp
12
1.5.2 Kinh nghiệm của một số nớc Đông Nam á về xuất khẩu lao động.
Cơ chế quản lý và chính sách xuất khẩu lao động đã đợc quy định rất rõ ràng trong bộ
luật lao động năm1973 đối với Philppin và 1985 đối với Thái Lan. Bộ luật này đã tạo cơ
sở cho việc xúc tiến mạnh mẽ xuất khẩu lao động d thừa cho tới khi nền kinh tế trong n-
ớc có thể tự đáp ứng hết số ngời đến tuổi lao động.
Để thực hiện đợc các mục tiêu đó, Chính phủ Philippin và Thai Lan đã có những biện
pháp quản lý đặc biệt và đã gặt hái đợc những thành công quan trọng trong những năm
qua.
1.5.2.1 Philippin:
với thời gian giá trị giấy phép. Giấy phép phải đợc tuân thủ theo các điều kiện sau:
- Không đợc phép chuyển nhợng, giấy phép đợc cấp cho loại lao động nào thì chỉ đ-
ợc phép tuyển loại lao động đó. Những thay đổi về nhân sự, trụ sở giao dịch, phải báo
cáo và đợc sự chấp thuận của Cục Việc làm ngoài nớc.
Chính phủ Philippin cũng đã có những quy định hết sức chặt chẽ trong việc đảm bảo
quyền lợi của ngời lao động và lợi ích quốc gia nh quy định về thủ tục, tiêu chuẩn tuyển
ngời lao động đi nớc ngoài làm việc.
1.5.2.2 Thái Lan:
Việc xuất khẩu lao động cũng đợc quy định trong Bộ luật lao động Thái Lan năm
1983, trong đó nêu rõ:
Tập trung hoá việc cấp phép và quản lý các doanh nghiệp tuyển dụng lao động t nhân,
thành lập cơ quan tuyển dụng lao động của Chính phủ, xác định cụ thể hơn nhiệm vụ
cũng nh trách nhiệm của các cơ quan tuyển dụng lao động. Quy định việc gửi ngoại tệ
của ngời lao động về nớc, thành lập quỹ phúc lợi của ngời lao động và cũng quy định
mức độ kỷ luật, hình phạt, đối với các hành vi phạm pháp.
Trong hoạt động xuất khẩu lao động, Chính phủ Thái Lan thực hiện hai chức năng:
- Điều phối các hoạt động của các doanh nghiệp t nhân trong xuất khẩu lao động (kể
cả trong nớc lẫn ngoài nớc).
- Văn phòng quản lý lao động ngoài nớc thuộc Tổng cục lao động (Bộ Nội vụ), là cơ
quan Chính phủ cao nhất thực hiện các chức năng trên, có nhiệm vụ cấp giấy phép và
quản lý các hoạt động của các doanh nghiệp đã đợc cấp giấy phép. Chính phủ Thái Lan
cũng có chính sách hỗ trợ một phần quỹ phúc lợi cho ngời lao động, số còn lại ngời lao
động phải đóng góp. Quỹ này chủ yếu dùng để hỗ trợ hành chính và tài chính cho ngời
Luận văn tốt nghiệp
14
lao động trớc khi đi và khi trở về gặp nhiều khó khăn nh: Hồi hơng, tai nạn, chết và trợ
cấp khó khăn cho ngời lao động.
Thái Lan cũng cho phép xuất khẩu những lao động có trình độ cao và cho phép mọi
cá nhân có thể tự tìm kiếm việc làm ở nớc ngoài và Chính phủ cũng cho phép các doanh
nghiệp xuất khẩu lao động thu một phần lệ phí xuất khẩu lao động nhng chỉ bằng 1
những nớc chậm và đang phát triển, thì nguồn kiều hối từ xuất khẩu lao động trở thành
một nguồn quan trọng trong việc làm cân bằng cán cân thanh toán. Bên cạnh đó, một số
quốc gia đã đa lợng kiều hối từ xuất khẩu lao động vào tính toán thu nhập quốc dân.
Chính những vấn đề này buộc chúng ta phải thừa nhận vai trò tích cực và những thay đổi
do xuất khẩu lao động đã mang lại cho tổng nguồn thu của nền kinh tế quốc gia. Vì vậy,
không một quốc gia nào khi làm công tác xuất khẩu lao động lại chỉ chú ý và đảm bảo
thu nhập kinh tế, quyền lợi cá nhân ngời lao động, mà không tính đến những lợi ích
quốc gia.
1.5.3.3 Việc làm khi lao động trở về nớc.
Thông thờng, phần lớn các nớc xuất khẩu lao động đều thuộc diện những nớc kém,
chậm và đang phát triển, đông dân, lao động d thừa, thiếu vốn đầu t sản xuất trong nớc,
khan hiếm việc làm nên khó có khả năng thu hút và đáp ứng đợc nhu cầu việc làm và thu
nhập ổn định cho ngời lao động trong nớc. Do đó nên sau khi kết thúc hợp đồng lao động
trở về, có một bộ phận ngời lao động trớc khi đi họ đã có việc làm ổn định, nay trở về th-
ờng có tâm lý không trở lại nghề cũ mà tìm cách tiếp cận với công việc khác nhẹ nhàng và
có thu nhập cao hơn. Bên cạnh đó, một bộ phận những ngời lao động khác, khi trở về họ
thực sự không thể tự tìm kiếm đợc việc làm mới, kể cả trở lại nghề cũ hoặc tìm đợc những
công việc có thu nhập không đáng kể. Vì thế, phần lớn trong số họ lại mong muốn đợc tiếp
tục đi xuất khẩu lao động một lần nữa. Tuy vậy, do chúng ta cha thực sự ý thức đợc vấn đề
hậu xuất khẩu lao động, nên thờng thì ngời lao động khi trở về nớc lại phải bắt đầu tìm
kiếm từ đầu một khi họ muốn tiếp tục ra nớc ngoài làm việc. Chính vì vậy mà không phải ai
muốn trở lại hoặc sang một nớc khác có điều kiện làm việc, thu nhập tốt hơn cũng có thể
sang đợc. Việc mong muốn đợc tiếp tục ra nớc ngoài làm việc vẫn còn là một chuyện cực
kỳ khó khăn đối với phần đông ngời lao động, nên mới dẫn đến tình trạng ngời lao động bỏ
trốn ra làm việc và sống lu vong ở chính nớc mình đến lao động. Trong khi đó, ở một số
Luận văn tốt nghiệp
16
quốc gia cùng xuất khẩu lao động nh Philippine, Thái Lan, Pakistan một khi ng ời lao
động đã hoàn thành hợp đồng trở về, họ thờng đợc chính doanh nghiệp vận động tái xuất
bằng những chính sách u tiên đặc biệt, nhằm khuyến khích ngời lao động tiếp tục trở lại n-
tiếp tục tiếp nhận lao động Việt Nam với số lợng lớn. Đặc biệt là thị trờng Malaysia và
thị trờng Đài Loan, đây là hai thị trờng rất có thiện cảm với lao động Việt Nam, cho nên
thay vì tiếp nhận lao động các nớc khác, nay họ chuyển dần sang tiếp nhận lao động
Việt Nam với số lợng lớn cho mọi ngành nghề khác nhau. Hàn Quốc và Nhật Bản cũng
đợc coi là hai thị trờng khá dễ tính trong việc tiếp nhận lao động Việt Nam. Do yêu cầu
về tiêu chuẩn lao động không cao, nên phần lớn lao động Việt Nam đều có đủ điều kiện
về thể lực, trí lực cũng nh trình độ tay nghề để đáp ứng. Hơn nữa, xu hớng của các thị tr-
ờng nêu trên trong những năm tới, sẽ vẫn còn tiếp nhận lao động giản đơn. Bên cạnh đó
họ cũng có khả năng tiếp nhận nhiều lao động có trình độ cao cho các lĩnh vực nh: Phần
mềm tin học.
Đối với các thị trờng khác, tuy số lợng tiếp nhận không lớn nh các thị trờng trong khu
vực, do nhu cầu tiếp nhận, khác xa nhau về truyền thống văn hoá, tôn giáo và cách xa
nhau về mặt địa lý, song cũng cho thấy đây là những thị trờng khá dễ tính và đầy tiềm
năng, rất có khả năng tiếp nhận nhiều lao động của ta trong những năm tới.
2.2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam qua các thời kỳ.
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu lao động đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài từ những
năm 1980, từ đó đến nay, cùng với sự đổi mới chung về cơ chế quản lý kinh tế của đất
nớc, cơ chế xuất khẩu lao động cũng đã có nhiều thay đổi, phù hợp với tình hình phát
Luận văn tốt nghiệp
18
triển của đất nớc và quan hệ quốc tế trong từng thời kỳ. Nhìn chung, hoạt động xuất
khẩu lao động Việt Nam đã đạt đợc những yêu cầu quan trọng, góp phần tích cực vào
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
Có thể nói, hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia của Việt Nam đợc chia thành
ba thời kỳ:
2.2.1 Thời kỳ đầu (1980 1990).
2.2.1.1 Chủ trơng và mục tiêu.
Chủ trơng.
Trong những năm đầu của thập kỷ 70 và nhất là sau khi đất nớc thống nhất, nhiều nớc
đã đặt vấn đề hợp tác sử dụng lao động với nớc ta. Đảng và Nhà nớc đã có những chủ tr-
động đã đa đi, phần lớn lao động của ta chủ yếu đợc đa sang 4 nớc XHCN (Liên Xô,
CHDC Đức, Tiệp Khắc và Bungari) với tổng số lao động là: 240.301 ngời, trong đó có
91.955 lao động nữ, chiếm 38,26% và trong tổng số 240.301 lao động đã gửi đi chỉ có
101.084 ngời đã có nghề
(1)
chiếm 42,06%. Số lao động còn lại trớc khi đi, phần lớn là
không nghề
(2)
bằng 57,94% tổng số lao động đa sang 4 nớc này. Ngoài số lao động gửi
sang các nớc XHCN, Nhà nớc ta còn gửi 25.200 lao động sang làm việc ở các nớc khác
thuộc khu vực vùng Vịnh và Châu Phi.
Tiến độ đa lao động Việt Nam làm việc tại các nớc XHCN đợc thể hiện qua bảng số
(1) dới đây.
Bảng số (1):
Kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam sang các nớc XHCN từ 1980
(1)
Lao động đã qua đào tạo nghề.
(2)
Lao động cha qua đào tạo nghề.
Luận văn tốt nghiệp
20
- 1990.
Đơn vị tính: (Ngời).
Năm
Số lợng
Lao động
XK
Nữ
Lao động
có nghề
1570
20230
25970
12402
4489
5008
9012
46098
71835
40618
3069
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
80000
1980 1981 1982 1983 1984 1985 1986 1987 1988 1989 1990
Lao động xuất khẩu Lao động Nữ Lao động có nghề
thấy một số vấn đề sau:
Trong giai đoạn này, mặc dù chúng ta phải đối mặt với không ít những khó khăn về
kinh tế lẫn chính trị, song công tác xuất khẩu lao động và chuyên gia của chúng ta cũng
đã đạt đợc những kết quả quan trọng bớc đầu làm tiền đề xúc tiến và phát triển cho xuất
khẩu lao động Việt Nam trong những năm kế tiếp.
Nhìn chung, số lợng lao động Việt Nam đa đi hàng năm theo Hiệp Định Chính phủ
và các thoả thuận giữa ngành với ngành không phải là cố định. Số lợng lao động đã đợc
đa đi cao nhất phải nói đến các năm 1981, 1982 và đặc biệt là các năm từ 1987 - 1989.
(%) Nữ
Lao động
có nghề
Tỷ lệ (%)
lao động có
nghề
Liên Xô 105.081 53.073 50.50 20.562 19,56
CHDC Đức 70.010 25.718 36.73 27.125 38,74
Tiệp Khắc 37.580 9.528 25.35 28.504 75,84
Bungari 27.630 3.636 13.15 24.893 90,09
Tổng 240.301
91.955
38,26 101.084 42,06
Nguồn: Cục Quản lý Lao động với nớc ngoài Bộ Lao động TB&XH.
Nh vậy, trong thời kỳ này thị trờng xuất khẩu lao động của chúng ta tập trung chủ
yếu vào thị trờng các nớc XHCN nh trong bảng số (2) đã chỉ rõ. Phần lớn lao động của
ta đa sang 4 quốc gia, chủ yếu tập trung ở Liên Xô và CHDC Đức. Hai quốc gia còn lại
về số lợng lao động đến làm việc không lớn bằng Liên Xô và CHDC Đức, nhng cũng
cho thấy đây là hai thị trờng cũng không kém phần qua trọng trong hệ thống các nớc mà
lao động Việt Nam đợc đa đến lao động.
Về độ tuổi của số lao động trên khi gửi đi, theo quy định là từ 18 40 tuổi. Đây đợc
coi là độ tuổi có nhiều khả năng tốt về thể lực, trí lực và năng lực làm việc khi đi lao
động ở nớc ngoài. Thực tế cho thấy, ở một số nớc có xuất khẩu lao động, họ cũng lựa
chọn lao động trong độ tuổi này để đa đi. Do đó, sau khi kết thúc thời hạn lao động trở
về, ngời lao động vẫn còn có thể tiếp tục tái xuất hoặc làm việc ở trong nớc tuỳ theo khả
năng của mình.
Về cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam tại 4 quốc gia, đợc thể hiện trong bảng
số (3) dới đây:
Luận văn tốt nghiệp
23
1.531
0 75 831 625
Lâm nghiệp
4.718
1.975 930 1683 130
Các ngành khác
10.265
2.934 5.115 794 1.422
Tổng 240.301 105.088 70.015 37.565 27.633
Nguồn: Cục Quản lý Lao động với Nớc ngoài Bộ Lao động TB&XH.
Có thể thấy rằng, cơ cấu ngành nghề ở 4 quốc gia trên tơng đối đa dạng, nhng cha
mang tính đa dạng về loại, nhóm lao động. Việc làm của lao động Việt Nam đảm trách
có tới hơn 90% là lao động giản đơn, chủ yếu là lao động trong lĩnh vực công nghiệp và
xây dựng. Tuy nhiên cơ cấu ngành nghề này không phải do lao động Việt Nam đợc đào
tạo từ trong nớc, mà phần lớn là do các nớc tiếp nhận lao động của ta tự kèm cặp, đào
tạo và sử dụng cho đến khi kết thúc thời hạn lao động. Chúng ta cũng phải thừa nhận
rằng, lao động có nghề của ta chỉ chiếm 42,06% và số lao động không nghề chiếm tới
57,94% so với tổng số lao động đa đi.
Nh vậy, qua kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam trong thời kỳ này đã cho thấy, chất
Luận văn tốt nghiệp
24
lợng lao động xuất khẩu của ta đã đợc nâng lên rõ rệt, điều này đợc thể hiện qua kết quả
xuất khẩu tăng dần từng năm, khẳng định lao động Việt Nam đã có thể đáp ứng nhu cầu
về lao động của nớc tiếp nhận trong nhiều lĩnh vực.
2.2.2 Thời kỳ (1991 1995).
2.2.2.1 Chủ trơng và mục tiêu.
Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các nớc XHCN ở Đông Âu tiếp nhận
lao động của ta đều xảy ra những biến động lớn về chính trị, kinh tế xã hội. Nhiều nớc ở
Châu Phi có lao động Việt Nam làm việc cũng gặp khủng hoảng kinh tế xã hội và chính
trị, còn ở Trung Đông lại phải đối đầu với cuộc chiến tranh Iraq. Vì vậy mà hầu hết các n-