nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây ô đầu (a. carmichaeli debx) trồng ở tỉnh hà giang - Pdf 24

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có nguồn thực vật rất phong phú
và đa dạng. Trong đó, nhiều cây được dùng làm thuốc và cũng có những cây có độc
tính như cà độc dược, mã tiền, ô đầu khi dùng, phải sử dụng đúng liều lượng, nếu
không dùng đúng, chúng có thể gây ngộ độc cho người bệnh [2], [3], [6], [9], [11],
[27].
Phụ tử, Ô đầu chứa những thành phần có độc tính cao nhưng vẫn được cho là
những vị thuốc quý, đã được dùng khá phổ biến trong Y Dược học cổ truyền phương
Đông nhất là ở Trung Quốc. Vị thuốc Ô đầu là củ mẹ và Phụ tử là củ con của một số
loài thuộc chi Aconitum [2], [6], [11], [29]. Hiện nay trên thế giới, đang có những
nghiên cứu về chi Aconitum nhằm phát triển các sản phẩm theo hướng hiện đại, nâng
cao hiệu quả sử dụng các loài thuộc chi này trong phòng và điều trị bệnh.
Ở Việt Nam, cây Ô đầu đã được đưa vào trồng ở Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu
từ những năm 70 thế kỷ trước [3], [11]. Theo một số tài liệu [6], [9], [11], [22], [27]
cây Ô đầu ở Việt Nam được ghi nhận bởi 2 tên là: A. fortunei Hemsl và A. carmichaeli
Debx. Theo đề tài nghiên cứu của tác giả Bùi Hồng Cường (năm 2007) với mục tiêu
xây dựng phương pháp chế biến Phụ tử, bào chế cao Phụ tử cho sản phẩm có tác dụng
cường tim, độc tính thấp và xác định một số thành phần hóa học của Phụ tử sống và
các sản phẩm, đã xác định được cây Ô đầu trồng ở Sa Pa – Lào Cai thuộc loài A.
carmichaeli Debx. và tập trung nghiên cứu theo hướng chế biến cổ truyền [11]. Hiện
nay, cây Ô đầu được trồng nhiều ở huyện Quản Bạ, Đồng Văn, tỉnh Hà Giang và được
người dân địa phương sử dụng theo kinh nghiệm làm thuốc chữa bệnh đau nhức xương
khớp hoặc nấu cháo ăn để tăng cường sức khoẻ. Tuy nhiên, hàng năm nước ta có nhiều
vụ ngộ độc do chất lượng dược liệu không bảo đảm, sử dụng nhầm lẫn, đầu độc bằng
dược liệu, chế phẩm có nguồn gốc từ cây Ô đầu. Do đó cần có nghiên cứu về thành
phần hóa học, xác định các chất chính trong dược liệu để kiểm soát tốt chất lượng và
sử dụng an toàn hiệu quả. Năm 2013, Thủ Tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch
tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, theo đó cây
Ô đầu được quy hoạch trồng tại tỉnh Hà Giang [35]. Để phát triển vùng trồng cây Ô

3

Chƣơng 1. TỔNG QUAN
1.1. Về thực vật
1.1.1.Vị trí phân loại chi Aconitum L.
Theo các tài liệu [2], [3], [6], [22], [27], [89] cây Ô đầu thuộc chi Aconitum L., vị trí
của chi Aconitum L. trong hệ thống phân loại thực vật được tóm tắt như sau:
Ngành Mộc lan (Magnoliophyta)
Lớp Mộc lan (Magnoliopsida)
Phân lớp Hoàng liên (Ranunculidae)
Bộ Hoàng liên (Ranunculales)
Họ Hoàng liên (Ranunculaceae)
Chi Aconitum L.
1.1.2. Đặc điểm thực vật của chi Aconitum L.
Theo tài liệu [40], [89], [105], [115], [135], các loài thuộc chi Aconitum có
những đặc điểm chính như sau: Thân thảo, sống một năm hoặc nhiều năm. Lá của các
loài thuộc chi Aconitum có màu xanh đậm và không có lá kèm. Lá hình bàn tay chia
thùy hoặc thùy sâu với 5-7 phần. Mỗi phần lại chia thành 3 thùy với hình răng cưa. Lá
sắp xếp xoắn ốc, lá ở dưới có cuống dài. Hoa mọc thẳng đứng, có thể có các màu:
xanh đậm, tím, trắng, vàng, hồng với nhiều nhị hoa. Hoa được phân biệt bởi có một
trong năm đài hoa, hoa có hình mũ. Hoa có 2-10 cánh hoa. Hai cánh hoa trên to và đặt
dưới các đài thân dài. Hoa có túi rỗng ở đỉnh chứa mật hoa. Những cánh hoa khác nhỏ
hoặc không hình thành, có 3-5 lá noãn được hợp nhất một phần. Quả là một tổ hợp các
nang, mỗi nang chứa nhiều hạt.
Hiện nay, chi Aconitum L. được thành 3 phân chi (subgenera) [89] với các đặc điểm
chính như sau:
- Phân chi Aconitum L: Cây thảo, sống 2 năm, giả 1 năm, có rễ củ. Đài hoa
không hoặc gần như không có móc, lá đài trên hình mũ, hình thuyền hoặc cong
hình lưỡi liềm, hiếm khi hình trụ. Phiến cánh hoa có mô tiết ở đỉnh hoặc rìa,
môi rõ hoặc không, cựa ngắn hoặc dài, hiếm khi vắng mặt, lá noãn 3-5.

tìm thấy 1 loài [40].
Theo Wei Wang, Yang Liu, Sheng-Xiang Yu, Tian-Gang Gao & Zhi-Duan
Chen, họ Ranunculaceae với 59 chi và khoảng 2500 loài, chi Aconitum với hơn 300
loài được phân thành 3 phân chi là: A. subg. Lycoctonum (DC.) Peterm., A. subg.
5

Aconitum (Stapf.) Rapaics, và A.subg. Gymnaconitum (Stapf.) Rapaics. Phân chi
A.subg. Gymnaconitum (Stapf.) Rapaics chỉ có 1 loài là: A. gymnarum Maxim. Phân
chi A. subg. Gymnaconitum đã được phát hiện vào năm 2013 tại cao nguyên Thanh
Hải - Tây Tạng, Trung Quốc [135].
Số loài thuộc chi Aconitum đã được ghi nhận đến nay trên thế giới là 948 loài
tuy nhiên do có sự trùng lặp về cách đặt tên các loài tại các quốc gia, các vùng khác
nhau nên thực chất chỉ có 331 loài được chấp nhận [105], [153].
Tại Việt Nam:
Cây Ô đầu trồng ở Việt Nam hiện nay có nguồn gốc nhập nội từ 2 nguồn:
Nguồn thứ nhất do ngành Y tế chính thức nhập giống từ Trung Quốc, được trồng đầu
tiên ở Sa Pa- Lào Cai từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, sau đó được trồng ở Bắc
Hà - Lào Cai và Sìn Hồ - Lai Châu. Nguồn thứ 2 do cộng đồng người Hoa ở huyện
Quản Bạ và Đồng Văn - Hà Giang tự động nhập giống cây Ô đầu từ bên kia biên giới
về trồng ở vườn nhà và nương rẫy. Có tài liệu cho rằng, cây Ô đầu Việt Nam mọc
hoang ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng [3], [6], [11], [22], [27],
[29]. Cây Ô đầu trồng ở Việt Nam, được ghi nhận bởi 2 tên là: A. fortunei Hemsl và A.
carmichaeli Debx. [3], [6], [27], [29]. Theo đề tài nghiên cứu của tác giả Bùi Hồng
Cường thì tên khoa học cây Ô đầu trồng ở Sa Pa - Lào Cai là A. carmichaeli Debx.
[11]. Đến nay chưa có công bố nào về tên khoa học của cây Ô đầu trồng ở tỉnh Hà
Giang. Do đó, cần có nghiên cứu xác định tên khoa học của cây Ô đầu trồng ở tỉnh Hà
Giang.
1.1.4. Xác định tên khoa học của loài thuộc chi Aconitum L. bằng giải trình tự
ADN
Thông tin di truyền của mọi cơ thể sinh vật được chứa đựng trong phân tử có

+ Phương pháp giải trình tự bằng máy tự động:
Ngày nay, việc giải trình tự được thực hiện dễ dàng nhờ có sự hỗ trợ của máy
giải trình tự tự động. Máy giải trình tự hoạt động dựa theo nguyên lý của phương pháp
Sanger có cải biến. Trong đó các ddNTP không được đánh dấu phóng xạ mà được
đánh dấu bằng chất huỳnh quang khác nhau cho mỗi loại ddNTP. Máy giải trình tự tự
động bao gồm các thành phần chính như: hệ mao quản, hệ chiếu sáng laser, hệ nhận và
7

xử lý tín hiệu. Các vạch điện di trong mao quản sẽ được phát sáng khi đi qua một
chùm tia sáng laser. Hệ thống nhận diện tín hiệu màu sẽ ghi lại và mã hóa thành các
nucleotid A, T, C, G. Hình 1.2. Hệ thống giải trình tự ADN bằng máy tự động
- Ứng dụng của phương pháp giải trình tự gen ADN là: định danh, xác định kiểu
gen, nghiên cứu đột biến.
+ Ứng dụng định danh các loài thuộc chi Aconitum:
Theo nghiên cứu của tác giả Jun He và cộng sự năm 2010, cho thấy bằng
phương pháp giải trình tự gen ADN và so sánh với bộ gen chuẩn trong ngân hàng gen,
tác giả đã xác định được trình tự gen cũng như tên khoa học của các loài thuộc chi
Aconitum tại Trung Quốc là: A. carmichaeli, A. alboviolaceum, A. brachypodum, A.
contortum, A. coreanum, A. gymnandrum, A. hemsleyanum, A. kusnezoffii, A.
nagarum, A. scaposum, A. tanguticum, A. vilmorinianum, A. racemulosum, A.
chrysotrichum, A. crassiflorum, A. finetianum, A. gigas, A. scaposum [83].
1.2. Thành phần hóa học một số loài thuộc chi Aconitum L.
Thành phần hóa học các loài thuộc chi Aconitum thường có 3 nhóm chất đó là
alcaloid, polysaccharid, flavonoid, trong đó alcaloid là thành phần chính. Ngoài ra còn
có acid hữu cơ, đường tự do, acid amin, sterol, carotenoid. Sự phân bố các nhóm chất
này, khác nhau trong các bộ phận: củ, lá, hoa, quả, hạt, thân cây [6], [11], [27].
8

4
được thay thế bởi 1 nguyên tử
hydrogen, hoặc một nhóm ester hoặc nhóm 3,4-epoxid. Đến nay có hàng trăm alcaloid
đã được phân lập từ các loài thuộc chi Aconitum như: lappaconitin, ranaconitin,
sepaconitin, aconosin, acoseptrin, dolaconin, finaconitin, puberanin, kirimin…[50],
[52], [68], [80], [81], [116], [118], [142]. Các alcaloid này được chia thành 2 nhóm là:
lappaconitin và ranaconitin [125], [139]. Nhóm lappaconitin có cấu trúc đặc trưng bởi
sự hiện diện của 1 nguyên tử carbon ở vị trí C-4. Nhóm ranaconitin cấu trúc đặc trưng
bởi một nguyên tử oxy ở vị trí C-7.
Khung cấu trúc của nhóm alcaloid C
18
-diterpenoid và của lappaconitin, ranaconitin
được trình bày ở hình 1.3.

9

N
R
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

6
7
8
9
10
12
13
14
15
16
11
17
18
19

Hình 1.4. Cấu trúc khung C
19
-diterpenoid alcaloid
C
19
-diterpenoid alcaloid hình thành dựa trên khung hexacyclic carbon. Những
hợp chất này thường chứa nhiều nguyên tử oxy, có ít nhất 5 nguyên tử oxy hoạt động,
1 hoặc 2 trong số đó có thể bị ester hóa bởi acid thơm hoặc acid acetic. Những
alcaloid này được coi như dẫn xuất của aconitin. Các alcaloid C
19
-diterpenoid được
tìm thấy trong nhiều loài Aconitum spp., đã có trên 250 hợp chất được công bố như:
aconitin, mesaconitin, hypaconitin, delcosin, karacolin, hokbusin A, fuzilin,
neolin…[81], [116], [124], [141]. Những hợp chất này chia làm 6 nhóm chính [52] là:
+ Nhóm aconitin: Hợp chất aconitin lần đầu tiên phân lập được từ loài A. napellus vào

Heterophyllin
Secokaraconitin
Vilmoraconitin
Hình 1.5. Một số alcaloid thuộc nhóm C
19
-diterpenoid alcaloid

11

* Alcaloid C
20
-diterpenoid
Khung cấu trúc của nhóm alcaloid C
20
-diterpenoid được trình bày ở hình 1.6.
N
R
1
2
3
4
5 6
7
8
9
10
11
12
13
14

atisin là có thêm liên kết giữa C-7 với C-20.
+ Nhóm hetidin: cấu trúc hình thành dựa trên khung hexacyclic, khác với nhóm
denudatin là có thêm liên kết giữa C-14 với C-17.
+ Nhóm hetisin: cấu trúc hình thành dựa trên khung hexacyclic và có nguyên tử nitơ
liên kết với C-6.
+ Nhóm vakognavin: Khung cấu trúc có 1 nhóm aldehyd ở C-4 và có 1 nguyên tử nitơ.
+ Nhóm napellin: so sánh với nhóm veatchin, có khung hexacyclic và cầu nối C-7 với
C-20.
12

+ Nhóm kuneszolin: khung cấu trúc lúc đầu được chuyển hóa từ nhóm hetisin, sau
được tìm thấy trong tự nhiên, chất đại diện là guan-fu-base K.
+ Nhóm racemulosin: cấu trúc đặc trưng của alcaloid C-20 và có nguồn gốc từ nhóm
denudatin, chất đại diện là racemulosin phân lập từ A. racemulosum.
+ Nhóm arcutin: cấu trúc có cầu nối bất thường ở C-5 với C-20 và C-10 với C-20.
Cấu trúc một số chất thuộc nhóm C
20
- diterpen alcaloid được trình bày ở hình 1.7.

Delphatisine
Denudatin
Hetidin
Guan-fu-base S
vakognavin

TÊN LOÀI
Công thức
TLTK
1
Aconicaramid
A. carmichaeli Debeaux.
C
11
H
14
N
2
O
3

[52]
2
Acosmin
A. panamense Benth
C
21
H
33
N
3
O
2

[116]
3

[81]
6
Higenamin
A. japonicum Kom.
C
16
H
17
NO
3

[116]
7
Isoatisin
A. coreanum Blocki.
C
22
H
33
NO
2

[80]
8
Magnoflorin
A. vulparia L.
C
20
H
24

Hình 1.9.Khung cấu trúc chung của 2 nhóm dẫn chất quercetin và kaempferol
Ghi chú: R
1
, R
2
là nhóm thế hoặc phân tử đường thế vào khung quercetin, kaempferol
Một số flavonoid phân lập từ chi Aconitum được trình bày ở bảng 1.2 và bảng 1.3.
* Nhóm dẫn chất quercetin
Bảng 1.2. Flavonoid thuộc nhóm dẫn chất quercetin phân lập từ chi Aconitum
TT
TÊN CHẤT
TÊN LOÀI
TLTK
1
3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→3)-(4-O-trans-p-
coumaroyl)-α-L-rhamnopyranosyl-(1→6)-β-D-
glucopyranosyl]-7-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→3)-α-
L-rhamnopyranosyl]- quercetin
A. naviculare
(Brühl) Stapf
[43]
2
Quercetin -7-O-(6-E-caffeoyl)-β-D-glucopyranosyl-
(1→3)-α-L-rhamnopyranosid-3-O-β-D-
A.angustifolium
Bernh. ex Rchb.
[122]
15

glucopyranosid

Quercetin -3-O-(6-trans-caffeoyl)-β-glucopyranosyl-
(1→2)-β-glucopyranosyl-7-O-α-rhamnopyranosid
A. napellus L.
[98]
9
Quercetin - 3-O-(6-trans-caffeoyl)-β-glucopyranosyl-
(1→2)-β-glucopyr-anosyl-7-O-α-rhamnopyranosid
A. napellus L.
[76],
[77]
10
Quercetin - 3-O-(6-trans-p-coumaroyl)-β-
glucopyranosyl-(1→2)-β-glucopyranoside-7-O-α-
rhamnopyranosid
A. napellus L.
[98]
11
Quercetin - 3-O-(6-trans-p-coumaroyl)-β-
glucopyranosyl-(1→2)-β-glucopyranosyl-7-O-α-
rhamnopyranosid
A. napellus L.
[76]
12
Quercetin - 3-O-α-L-rhamnopyranosyl -(1→6)-β-D-
galactopyranosid-7-O- α-L-rhamnopyranosid
A. anthora L.
[100]
13
Quercetin - 3-O-α-L-rhamno pyranosyl -(1→6)-β-D-
galactopyranosid-7-O- α-L-rhamnopyranosid

18
Quercetin - 3-O-β-D-glucopyranosid-7-O-(6-E-
caffeoyl)-β-D-glucopyranosyl-(1→3)-α-L-
rhamnopyranosid
A. burnatii
Gáyer
[121]
19
Quercetin -3-O-β-D-glucopyranosid-7-O-(6-E-p-
coumaroyl)-β-D-glucopyranosyl-(1→3)-α-L-
rhamnopyranosid
A. burnatii
Gáyer
[121]
20
Quercetin -3-O-β-D-glucopyranosid-7-O-β-D-
glucopyranosyl-(1→3)-α-L-rhamnopyranosid
A. burnatii
Gáyer
[121]
21
Quercetin- 3-O-β-glucopyranosid-7-O-α-
rhamnopyranosid
A. vulparia L.
[61]
22
Quercetin -3-O-β-glucopyranoside-7-O-α-
rhamnopyranosid
A. napellus L.
[77],

1
Kaempferol -3- O-[3- O-(3,4- di- O-acetyl-ß-
xylopyranosyl)- ß -rhamno-pyranosyl]-7-O-(α-
rhamnopyranosyl)
A.barbatum
Patrin ex Pers.
[70],
[92]
2
Kaempferol -3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→3)-(4-O-
trans-p-coumaroyl)-α-L-rhamnopyranosyl-(1→6)-β-
D-glucopyranosyl]-7-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→3)-
α-L-rhamnopyranosyl]
A. naviculare
(Brühl) Stapf
[43]
3
Kaempferol- 3-O- α-L-rhamnopyranosyl-(1→6)- β-D-
galactopyranosyl-7-O- α-L- rhamnopyranosid
A. anthora L.

[49]
4
Kaempferol -7-O-(6-E-caffeoyl)-β-D-glucopyranosyl-
(1→3)-α-L-rhamnopyranosyl-3-O-β-D-
glucopyranosid
A. angustifolium
Bernh. ex Rchb.
[122]
5

10
Kaempferol - 3-O-α-l-rhamnopyranosyl-(1 → 2)-[β-
D-glucopyranosyl-(1 → 3)-α-l-(4-O-trans-p-
coumaroyl rhamnopyranosyl)-(1 → 6)]-β-D-
galactopyranosyl-7-O-α-l-rhamnopyranosid
A. tanguticum
(Maxim.) Stapf
[95]
18

11
Kaempferol - 3-O-β-(2"-acetyl) galactopyranosid
A. paniculatum
Lam.
[64]
12
Kaempferol -3-O-β-D-galactopyranosyl-7-O-α-L-
arabinopyranosid
A. variegatum L.
[70],
[76]
13
Kaempferol -3-O-β-D-glucopyranosid
A. variegatum L.
[70]
14
Kaempferol -7-O-(6-trans-caffeoyl)-β-
glucopyranosyl-(1→3)-α-rhamnopyranosyl-3-O-β-
glucopyranosid
A. napellus L.

AKP: α-(1→3),(1→4)-D-glucan, (14000 DA)
A. kusnezoffii Rchb.
[130]
4
WSPSs: α-(1→6) glucan
A.zaravschanicum
Steinb
[114]
5
Phân đoạn polysaccharid (dịch chiết nước)
A. kusnezoffii Rchb.
[38]
6
Phân đoạn polysaccharid (dịch chiết nước)
A. coreanum
(H.Lév.) Rapaics
[143]
19

7
Dịch chiết polysaccharid toàn phần (dịch chiết
nước)
A. coreanum
(H.Lév.) Rapaics
[44]
8
Phân đoạn polysaccharid (dịch chiết nước)
A. coreanum
(H.Lév.) Rapaics
[74]

3,5-dicaffeoylquinic methyl ester
A. coreanum (H.Lév.)
Rapaics
[143]
6
acid palmitic
A. szechenyianum Gay
[76]
7
acid oleic
A. szechenyianum Gay
[81]
8
acid stearic
A. szechenyianum Gay
[76]
9
24S-ergost-4-en-3,6-dion
A. septentrionale Koelee
[68]
10
Daucosterol
A. coreanum (H.Lév.)
Rapaics
[44]
11
ß-sitost-4-en-3-on
A. pseudolaeve Nakai
[76]
12

thân cây, củ, lá, hoa, quả và hạt đều có các hợp chất alcaloid, acid hữu cơ, đường tự
do, acid amin. Từ Phụ tử phân lập các chất là: karacolin, neolin, benzoylmesaconitin
(nhóm alcaloid), acid benzoic, ß-sitosterol. Hàm lượng alcaloid toàn phần trong Phụ tử
là: 0.91-1.1 % .
Nhận xét: Thành phần hóa học của chi Aconitum phong phú, đa dạng với nhiều nhóm
chất khác nhau. Giữa các loài khác nhau cũng có những chất giống nhau. Tuy nhiên
trong cùng một loài nhưng tại các nước, các vùng khác nhau lại có những hợp chất
khác nhau. Đặc biệt tại Ấn Độ theo Eti Sharma và A. K. Gaur cho thấy có loài không
có độc như: A. heterophyllum, A. laeve và A. routndifolium. Những nghiên cứu này rất
quan trọng trong việc sử dụng các loài thuộc chi Aconitum để phòng chữa bệnh sao
cho an toàn hiệu quả. Vì vậy đến nay có nhiều công trình công bố về nghiên cứu thành
phần hóa học chi Aconitum, nhưng những năm gần đây, các nhà khoa học vẫn tiếp tục
nghiên cứu hóa thực vật đối với chi này và cũng đã tìm thêm được nhiều hợp chất mới.
Với loài Ô đầu trồng ở Việt Nam cho đến nay mới phân lập được 5 alcaloid là:
aconitin, hypaconitin, karacolin, neolin, benzoylmesaconin và hai thành phần khác là:
acid benzoic, ß-sitosterol. Như vậy vẫn còn rất nhiều hợp chất chưa được biết đến
trong cây Ô đầu Việt Nam, cần được nghiên cứu tiếp. Nghiên cứu thành phần hóa học
sẽ giúp tìm ra chất đối chiếu, dấu vân tay trong việc tiêu chuẩn hóa dược liệu, minh
chứng cho cách sử dụng Ô đầu, Phụ tử, đồng thời góp phần phát triển các dạng thuốc
hiện đại, sử dụng trong chăm sóc sức khỏe. Tại Trung Quốc, khi các nhà khoa học tìm
21

ra hợp chất lappaconitin - một alcaloid có tác dụng giảm đau mạnh và không gây
nghiện nên đã bào chế thành các dạng thuốc tiêm, viên, bột dùng trong điều trị chấn
thương, các bệnh viêm xương khớp, giảm đau đối với bệnh nhân ung thư giai đoạn
cuối.
1.3. Tác dụng sinh học, độc tính và công dụng một số loài thuộc chi Aconitum L
1.3.1. Tác dụng sinh học và độc tính một số loài thuộc chi Aconitum L
1.3.1.1. Tác dụng giảm đau
Tác dụng giảm đau của chi Aconitum đã được biết đến từ lâu và có nhiều

lympho, đại thực bào so với nhóm chứng [130]. Polysaccharid FPS- 1 phân lập từ củ
(A.carmichaeli Debx.), có tác dụng kích thích miễn dịch trên chuột nhắt trắng, làm
tăng cả tế bào lympho B và T in vivo và in vitro [46].
1.3.1.3. Tác dụng chống oxy hóa
Đến nay, các nghiên cứu về tác dụng chống oxy hóa của chi Aconitum mới chỉ
thấy có nghiên cứu trên in vitro, với các thử nghiệm quét gốc tự do như: DPPH,
hydroxy, anion peroxyd, H
2
O
2
, ion sắt, sản phẩm của quá trình tự oxy hóa 1,2,3-
phentriol. Tác dụng chống oxy hóa này chủ yếu được thử nghiệm đối với thành phần
flavonoid và polysaccharid chiết xuất từ chi Aconitum. Kết quả nghiên cứu của đối với
cao chiết ethanol của lá A.carmichaeli Debx. [137], thành phần flavonoid chiết xuất từ
lá A.napellus Lusitanicum [98], dẫn chất của quercetin chiết từ lá A.anthora L. [49],
phân đoạn chứa flavonoid chiết từ lá một số loài Aconitum [110], dịch chiết
polysaccharid từ củ (A. kusnezoffii Reichb.) [130], phân đoạn chứa polysaccharid
ACPS-2 và ACPS-3 chiết từ củ (A. coreanum Rapaics) [44], polysaccharid có cấu trúc
là: α -(1→3),(1→4)-D-glucan (AKP) phân lập từ củ (A. kusnezoffii Reichb.) [131] đều
thấy có tác dụng chống oxy hóa trên in vivo.
1.3.1.4. Tác dụng gây hạ đường huyết
Các nghiên cứu về tác dụng gây hạ đường huyết của chi Aconitum, được thực
hiện trên mô hình gây hạ dường huyết bằng alloxan hoặc streptozotocin với các mức
liều khác nhau của cao chiết, phân đoạn dịch chiết, chất tinh khiết. Cụ thể như sau :
cao chiết ethanol từ củ (A. napellus L.) có tác dụng hạ đường huyết trên mô hình gây
đái tháo đường bởi alloxan với các liều 100, 200, 400 mg/kg bằng đường uống,
glibenclamid (2.5 mg/kg) được dùng làm chất đối chiếu [53]. Chế phẩm Hei-Shug-
Pian bào chế từ củ (A.carmichaeli Debx.), trên mô hình gây đái tháo đường bởi
streptozotocin, mức liều chế phẩm 12.5 đến 50 mg/kg thấy có tác dụng hạ đường huyết
[93]. Hikino H đã thử chất aconitan A phân lập từ A.carmichaeli Debx. thấy có tác

gây loạn nhịp tim (Các alcaloid này có khung cấu trúc chung của nhóm aconitan. Khả
năng gây loạn nhịp tim phụ thuộc vào nhóm thế như: β-OH trên C-13, α-aroyl trên C-
14, β-acetat trên C-8 và một nguyên tử nitơ trong phân tử) và chống loạn nhịp tim
24

(nhóm alcaloid diterpen – C
18
có gốc acid acetylanthranilic hoặc anthranilic trên C-4,
nhóm methoxy trên C-1, C-14, C-16 và một OH trên C-8) [52].
1.3.1.7. Tác dụng trên huyết áp
Kết quả nghiên cứu tác dụng trên huyết của chi Aconitum cho thấy nước sắc Ô
đầu, Phụ tử hoặc alcaloid phân lập từ một số loài thuộc chi Aconitum có tác dụng làm
hạ huyết do làm giãn mạch và giảm tần số tim. Theo Xian-Ju Huang và cs, ở liều nhỏ,
nước sắc Phụ tử gây tăng huyết áp động vật đã được gây mê. Liều cao lúc đầu gây hạ,
sau tăng huyết áp [137]. Nước sắc Ô đầu, Phụ tử có tác dụng hạ huyết áp khi tiêm tĩnh
mạch chó và mèo đã gây mê. Tác dụng này nhanh và ngắn, thông qua cơ chế giãn
mạch [48]. Aconitin và những chất tương tự tiêm tĩnh mạch mèo ở liều 0.01 mg/kg và
chuột cống trắng ở liều 0.05 mg/kg, ban đầu có tác dụng hạ huyết áp [107].
Lappaconitin và N- desacetylappaconitin tiêm tĩnh mạch chó ở liều 0.15 mg/kg gây hạ
huyết áp động mạch và giảm tần số tim [86].
1.3.1.8. Tác dụng chống viêm
Kết quả nghiên cứu về tác dụng chống viêm của cao chiết từ chi Aconitum cho
thấy cao chiết này có tác dụng chống viêm cấp và chống viêm mạn trên mô hình in
vivo và in vitro. Theo Nesterova. V và cs cao chiết cồn nước của củ (A.baicalense, A.
septentrionale Koelle) làm giảm triệu chứng viêm như: giảm tiết dịch, đau và sốt với
mức độ như thuốc kháng viêm không steroid. Cao chiết ethanol của các bộ phận trên
mặt đất, ức chế các giai đoạn quá trình viêm trên mô hình viêm mạn tính [106]. Cao
chiết ethanol từ củ một số loài thuộc chi Aconitum có tác dụng chống viêm in vitro ở
mức liều từ 4 - 200 µg/ml [137]. Cao chiết ethanol từ củ loài A.coreanum được thử với
liều 10, 100 mg/kg/ngày, cho chuột uống trong 14 ngày, thông qua đánh giá tính thấm

kết hợp với interleukin 12 (IL - 12) [107] đều có tác dụng chống nhiễm vi rút herpes
simplex typ 1 và tăng tỉ lệ sống ở chuột nhắt trắng bị tổn thưởng bởi nhiệt.
Benzoylmesaconin còn làm tăng tỉ lệ sống ở chuột nhắt trắng nhiễm vi rút gây suy
giảm miễn dịch đồng thời nhiễm vi rút herpes simplex typ 1 hoặc ở chuột bị tổn
thương bởi nhiệt và nhiễm Cytomegalo vi rút [108].
- Tác dụng với ký sinh trùng: Atisinium clorid, alcaloid chính phân lập từ A.
orochryseum, có tác dụng ức chế hoạt động của TM4 và K1 của ký sinh trùng sốt rét
Plasmodium falciparum [107]
- Tác dụng ức chế emzym [108]: Thuốc ức chế enzym trên lâm sàng rất hữu ích. Chất
ức chế tyrosinase, điều trị rối loạn sắc tố melanin, rất quan trọng trong mỹ phẩm làm
trắng sau khi da bị cháy nắng. Một nghiên cứu tác dụng ức chế tyrosinase của 5
alcaloid cho thấy chỉ có lappaconitin và puberanin ức chế yếu enzyme tyrosinase với
IC
50
= 93.33 và 205.21 mg/kg. Hai alcaloid heterophyllin A và heterophyllin B phân

Trích đoạn Nghiên cứu tác dụng tăng cường miễn dịch Kết quả nghiên cứu về thực vật cây Ô đầu trồng ở tỉnh Hà Giang Kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học Chiết xuất và phân lập các hợp chất từ Ô đầu [124]
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status