Luận văn tốt nghiệp: “ Kiểm toán các loại doanh thu, chi phí trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại ở Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán.” - Pdf 24

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Đã từ lâu, hệ thống các ngân hàng thương mại đã là một thành phần
không thể thiếu được của một nền kinh tế. Ban đầu chỉ ở dạng sơ khai do
những lái buôn giàu có nhận gửi tiền và giữ tiền, thi ngày nay hệ thống các
ngân hàng thương mại đã trở nên tinh vi, và đem đến cho khách hàng những
tiện ích vô cùng lớn với một hệ thống các loại dịch vụ mới, hiện đại. Có thể
nói hệ thống ngân hàng có thể coi như mạch máu trong cơ thể con người.
Chính vì vai trò vô cùng quan trọng của hệ thống các ngân hàng thương mại
như vậy mà mỗi biến động của nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế.
Do đó đảm bảo an ninh tài chính cho một ngân hàng thương mại là vô cùng
cần thiết. Và kiểm toán chính là một trong những nhân tố tốt nhất để làm
điều đó.
Trên thế giới, đã từ lâu kiểm toán với vai trò là người kiểm tra giám sát
cũng như là người tư vấn dẫn đường góp phần giữ vững sự ổn đinh của nền
kinh tế. Tại Việt Nam, dù rằng ra đời chưa lâu, nhưng ngành kiểm toán Việt
Nam đã thiết lập được số đứng vững chắc của mình và trở thành một hoạt
động không thể thiếu được của nền kinh tế.
Và đặc biệt kiểm toán các ngân hàng thương mại cũng là một trong những
hoạt động chiến lược của ngành kiểm toán. Vì vai trò quan trọng của ngân
hàng trong hệ thống kinh tế, và vì vai trò quan trọng của kiểm toán trong đối
với việc bảo đảm an ninh tài chính của nền kinh tế. Trong đó doanh thu và
chi phí là hai khoản mục rất quan trọng trong Báo cáo tài chính, và đòi hỏi
phải được kiểm toán một cách đầy đủ và hiệu quả.
Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán khoản mục doanh thu, chi
phí trong kiểm toán Báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại, công ty
kiểm toán AASC đã luôn không ngừng cải tiến phương pháp kiểm toán để
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tìm ra chương trình kiểm toán doanh thu, chi phí một cách hiệu quả đạt được

hàng thương mại thực hiện việc lưu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế linh hoạt
và hiệu quả và thông qua việc huy động và phân phối nguồn vốn trong xã
hội. Sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng thương
mại nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng của hệ thống tài chính quốc gia. Như
vậy sự ổn định và phát triển của hệ thống ngân hàng là nhiệm vụ hàng đầu
của mỗi quốc gia, đặc biệt là quá trình mở cửa và hội nhập hiện nay.
Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một doanh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế. Do đó để có thể hiểu được là doanh thu chi phí của Ngân
hàng thương mại, các loại doanh thu chi phí của Ngân hàng thương mại liên
quan đến những vấn để gì ? dòng tiền của ngân hàng diễn ra như thế nào?
Thì trước hết chúng ta cần hiểu những đặc điểm hoạt động của ngân hàng
thương mại, những hoạt động tài chính quyết định doanh thu và chi phí của
Ngân hàng thương mại.
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.2. Đặc điểm hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị
trường
1.1.2.1. Ngân hàng thương mại, chủ thể nhận và kinh doanh tiền gửi
Ngân hàng thương mại có đặc điểm này, thứ nhất xuất phát từ sự hình
thành và phát triển của ngân hàng. Lịch sử Ngân hàng thương mại là lịch sử
kinh doanh tiền gửi. Từ chỗ làm dịch vụ tiền gửi với tư cách là người thủ
quỹ, bảo quản tiền cho chủ sở hữu để nhận khoản tiền thù lao, trở thành
những chủ thể kinh doanh tiền gửi nghĩa là huy động tiền gửi không những
miễn khoản thù lao mà còn trả lãi cho khách hàng tiền gửi để làm vốn cho
vay nhằm tối ưu những khoản lợi nhuận thu được.
Thứ hai là, Đặc điểm của Ngân hàng thương mại được quy định trong
luật một số nước, ở Việt Nam nó được quy định trong luật các tổ chức tín

rộng lớn.
Các nghiệp vụ hạn hẹp của Ngân hàng thương mại trước đây, chủ yếu
được tiến hành trên cơ sở tiền mặt, nay nhờ công nghệ thông tin ngân hàng
mà ngày càng đa dạng và phong phú. Tỉ trọng về hoạt động ngân hàng
truyền thống giảm xuống. Thêm vào đó các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
như: nghiệp vụ thẻ thanh toán, thuê mua (leasing), mua nợ (Factoring), kinh
doanh chứng khoán, nghiệp vụ và các dịch vụ ngoại tệ đối với ngoại
thương…
Về phương diện phạm vi, ngân hàng hoạt động trên bình diện rộng: cả
trong nước và quốc tế. Trong nền kinh tế mở, hội nhập hiện nay hoạt động
của Ngân hàng thương mại có nhiều mối liên hệ quốc tế rộng rãi. Điều này
thể hiện trước tiên là các dao dịch kinh tế thương mại toàn cầu diễn ra ngày
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
càng mạnh mẽ kéo theo đó là các nhu cầu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng
phải phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu nhằm thoả mãn chủ thể giao
dịch và thêm vào đó thúc đẩy các giao dịch kinh tế ngày càng phát triển.
Hoạt động của Ngân hàng thương mại mang tính chất quốc tế còn thể
hiện ở chỗ: các nước đang phát triển luôn chủ động học tập kinh nghiệm của
các nước đi trước. Việc nghiên cứu hoạt động của ngân hàng của các nước
phát triển đã bổ xung hoàn chỉnh, đổi mới hoạt động ngân hàng trong các
quốc gia bước vào giai đoạn phát triển là vô cùng cần thiết. Trên thực tế
nhiều nước đã làm và đạt được kết quả về phương diện tổ chức và hoạt động
của ngân hàng.
1.1.3. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành các khoản đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá
nhân và tổ chức trong nền kinh tế: (1) Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm

Các ngân hàng đă không tạo được tiền kim loại. Các ngân hàng thợ vàng đã
tạo ra phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ và khách hàng.
Giấy nhân nợ do ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành
phương tiện thanh toán được nhiều người chấp nhận. Như vậy ban đầu các
ngân hàng thương mại đã tạo ra phương tiện thanh toán thay cho tiền kim
loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế, dần dần
giấy nợ của các ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu
thông và phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy.
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tuy nhiên khi mà nhu cầu có 1 đồng tiền thống nhất quôc gia và vì việc in
tiền mang lại lợi nhuận rất lớn nên các ngân hàng thương mại đã bị chấm dứt
việc tạo ra các giấy bạc riêng của mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi
trả để có được hàng hoá dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại, đại
lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông
(M0), thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của khách hàng tại
ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản trên tiền gửi tiết kiệm và tiền
gửi có kỳ hạn.
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hoặc để dịch vụ. Do đó
bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện
thanh toán (tham gia tạo ra M1).
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này qua ngân hàng khác trên cơ
sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi
trả thì sẽ tạo nên khoản thu (tức là làm tăng số dư tiền gửi) của một khách
hàng tại một ngân hàng khác. Từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi

1.1.4.2 Nhận tiền gửi
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm
mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng các
khoản tiền gửi (thanh toán và tiết kiệm của khách hàng). Ngân hàng mở dịch
vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng thời
hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các
ngân hàng đă trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về sự
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời
để kinh doanh.
1.1.4.3 Cho vay
1.1.4.3.1 Cho vay thương mại
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế
là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu
cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó các bước chuyển tiếp từ chiết khấu
thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với khách hàng (là người mua), giúp
họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
1.1.4.3.2 Cho vay tiêu dùng
Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối
với cá nhân hay hộ gia đình bởi họ tin rằng các khoản vay tiêu dùng rủi ro vỡ
nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh
trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới tiêu dùng như một
khách hàng tiềm năng.
1.1.4.3.3 Tài trợ cho dự án
Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay dự án, các ngân hàng đang
ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dưng nhà máy mới
đặc biệt là cho các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dụng
này nói chung là cao song lãi lại lớn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu

của công nghệ thông tin nhiều thể thức thanh toán được phát triển như uỷ
nhiệm chi, nhờ thu, thanh toán bằng điện tử, bằng thẻ.
1.1.4.6 Quản lý ngân quĩ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp
và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với
nhiều khách hàng. Do kinh nghiệm trong quản lý ngân qũi và khả năng cho
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý
ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty
kinh doanh và tiến hành đầu tư, phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các
chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngân hàng cho đến khi khách hàng cần tiền
mặt để thanh toán.
1.1.4.7 Tài trợ cho hoạt động của chính phủ
Vì nhu cầu chi tiêu của chính phủ thường lớn và cấp bách nên mặc dù
Ngân hàng thương mại có tham gia hoạt động tài trợ cho chính phủ nhưng
phần lớn là NHTƯ
1.1.4.8 Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của Ngân hàng thương mại cho một khách hàng
rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi cho khách hàng có uy tín để bảo
lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày
càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách
hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán,
vay vốn của các tổ chức tín dụng khác.
1.1.4.9 Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Nhằm bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn nhiều
hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê (thay vì bán). Cuối hợp đồng thuê,
khách hàng có thể mua (do đó còn gọi là hợp đồng thuê mua). Rất nhiều
ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn thuê các thiết

Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Như vây chúng ta đã có được cái nhìn tổng quan về một Ngân hàng
thương mại về đặc điểm hoạt động cũng như các chức năng của nó. Do đó
chúng ta sẽ có được cái nhìn sâu sắc khi nghiên cứu việc thực hiện các chức
năng này thì các Ngân hàng thương mại phải chi phí những gì và họ nhận
được thu nhập gì? Hay nói cách khác những khoản doanh thu và chi phí của
Ngân hàng thương mại gồm những khoản nào?
Sau đây xin trình bày các khoản doanh thu chi phí của Ngân hàng thương
mại
1.2. Các loại doanh thu chi phí của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến doanh thu, chi phí của ngân hàng
thương mại
Mục tiêu cơ bản của hoạt động của Ngân hàng thương mại đó là đạt được
tối đa lợi nhuận, cũng như mục tiêu của bất cứ một tổ chưc kinh doanh nào
khác. Mà để đạt được mục tiêu này thì một Ngân hàng thương mại luôn cần
phải tìm ra các biện pháp hợp lý để tăng tổng thu nhập và giảm các khoản
chi phí như chi phí quản lý, chi phí ngân hàng, sự rớt giá của đồng tiền, chi
phí sử dụng vốn. Các biến số thu nhập, chi phí nay lại chịu ảnh hưởng bởi
một loạt các yêu tố khác như mức lợi tức của cac loại tài sản, các chi phí tiền
gửi tiết kiệm, tiền gửi định kỳ, mức và cơ cấu vốn tự có. Tuy nhiên ở đây
chúng ta nghiên cứu hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh
của môt Ngân hàng thương mại là doanh thu va chi phí. Nghiên cứu các yếu
tố này sẽ làm cho việc nghiên cứu các phương pháp thực hiện để kiểm toán
doanh thu chi phí của Ngân hàng thương mại được trở nên có hiệu quả hơn.
1.2.1.1 Doanh thu của Ngân hàng thương mại
Vậy liệu doanh thu (thu nhập) của Ngân hàng thương mại gồm những
khoản nào? Để trả lời cho câu hỏi này trước tiên chúng ta cần hiểu thế nào
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kinh doanh tín dụng, kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh các chứng từ có giá,
kim khí quí, đá quý, làm các nghiệp vụ về đại lý, hùn vốn liên doanh liên
kết và kinh doanh các nghiệp vụ uỷ thác…
Do đó doanh thu của ngân hàng thương mai cũng tương tự như doanh thu
của một doanh nghiêp thông thường đó là cũng gồm doanh thu từ hoạt động
sản xuất kinh doanh và thu nhập khác nhưng mang một số đặc điểm đặc
trưng của một ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế độc
lập. Các Ngân hàng thương mại là những đơn vị hạch toán kinh tế độc lập.
Các chi nhánh của nó chỉ là đơn vị hạch toán phụ thuộc.
Do đó có thể coi Ngân hàng thương mại có các nguồn thu sau đây:
- Thu lãi cho vay, lãi hùn vốn, lãi do hoạt động liên doanh liên kết
- Thu lãi tiền gửi ngân hàng nhà nước
- Thu về nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và đối ngoại như: thu lãi cho vay ngoại
tệ, thu về thủ tục phí trong thanh toán quốc tế
- Thu lệ phí hoa hồng dịch vụ khác. Càng ngày thì các Ngân hàng thương
mại hiện đại càng cung cấp nhiều dịch vụ mới, dịch vụ bảo lãnh, bảo hiểm…
1.2.1.2 Chi phí của Ngân hàng thương mại
Chi phí là những khoản chi của Ngân hàng thương mại nhằm mục đích
phục vụ cho hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác của ngân hàng
thương mại. Các khoản chi phí của Ngân hàng thương mại chủ yếu là các
khoản chi trả lãi tiền vay các tổ chức tín dụng, trả lãi tiền gửi của khách hàng
và chi phí về công tác dịch vụ của ngân hàng. Các khoản chi phí của ngân
hàng rất đa dạng.
Chi về nghiệp vụ kinh doanh bao gồm
- Chi trả lãi tiền gửi cho khách hàng
- Chi trả lãi tiền vay (vay ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng)
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
16

nhân công trong ngành ngân hàng không giá tăng nhanh chóng đó là sự tiến
bộ của công nghệ thông tin.
1.2.1.2.2 Lãi tiền gửi định kỳ và tiền tiết kiệm
Cho đến nay thì đây vẫn là khoản chi phí lớn nhất của ngân hàng, đó là
lãi tiền gởi định kỳ và tiết kiệm. Và trong tương lai sẽ tiếp tục là chi phí ngân
hàng lớn nhất. Đây là khoản chi phí giao động phụ thuộc vào mức lãi.
1.2.1.2.3 Chi phí liên quan đến tài sản sở hữu.
Chi phí liên quan đến tài sản sở hữu gồm lương nhân viên liên quan đến
việc khấu hao sửa chữa nhà xưởng, bảo hiểm hoả hoạn, cải tiến tài sản thuê
mua nhà đất. Các chi phí liên quan đến việc tài sản sở hữu gia tăng chủ yếu
liên quan đến việc lập thêm các chi nhánh ngân hàng.
1.2.1.2.4 Bảo hiểm cho thiệt hại tín dụng
Vì cho vay gắn với rủi ro, các ngân hàng thường duy trì một khoản dự trữ
cho các thiệt hại tín dụng.
1.2.1.2.5 Các chi nghiệp vụ khác
Các chi phí nghiệp vụ khác bao gồm tất cả các chi phí không được
phân loại trên đây nhưng dù sao cũng cần thiết cho hoạt động của ngân hàng
thương mại. Một số chi phí chủ yếu bao gồm phí bảo hiểm, bảo hiểm ký
thác, bảo hiểm đối với rủi ro và các hàng hoá ký gửi, quảng cáo những
nguồn cung cấp thông tin. Một loại bảo hiểm khác cũng quan trọng mà các
ngân hàng thương mại thực hiện
Chi phí quảng cáo cũng là chi phí đáng kể trong các ngân hàng thương
mại, đặc biệt nơi có sự cạnh tranh đáng kể của các ngân hàng thương mại
khác.
Một chi phí lớn khác là chi phí in ấn và thiết bị văn phòng. Các ngân
hàng thương mại và khách hàng sử dụng một khối lượng lớn đơn từ, hối
phiếu, trái phiếu, ký thác, các văn bản thế chấp, đơn xin vay…
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

xấu đến uy tín của công ty kiểm toán.
Như vậy tầm quan trọng của doanh thu chi phí trong kiểm toán báo cáo
tài chính được thể hiện qua những điểm sau:
Trong bất cứ cuộc kiểm toán báo cáo tài chính nào cũng như báo cáo tài
chính của ngân hàng thương mại thì đánh giá tính trọng yếu của các khoản
mục trên báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại, các kiểm toán viên
đều rằng khoản mục doanh thu, chi phí là các khoản mục trọng yếu. Do đó
kiểm toán viên cần phải tiến hành kiểm toán một cách đầy đủ nhằm tránh bỏ
sót những sai sót trọng yếu có thể có đối với các khoản mục này có thể giảm
rủi ro kiểm toán xuống mức thấp nhất có thể.
Chính vì vậy, khi kiểm toán kiểm toán viên không thể bỏ qua khoản mục
này. Nếu thiếu nó sẽ không có kết luận kiểm toán, không đưa ra ý kiến về
báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại
- Các khoản mục doanh thu, chi phí không những bản thân nó được xem
xét mà nó ảnh hưởng tới các khoản mục khác trong báo cáo tài chính
của ngân hàng thương mại. Do đó xem xét việc phân loại tập hợp
doanh thu, chi phí để tính ra lãi.
- Tính đúng đắn của việc phân loại và trình bày doanh thu, chi phí là
một cơ sở quan trọng được kiểm toán viên đưa ra ý kiến tư vấn giúp
khách hàng hoàn thiện hơn trong công tác kế toán cùng như công việc
kinh doanh của khách hàng.
Như vậy ta có thể khẳng định được kiểm toán doanh thu, chi phí
trong kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại là vô cùng
cần thiết và không thể thiếu được.
1.2.1.4 Một số đặc điểm của kế toán doanh thu, chi phí ảnh hưởng
tới công tác kiểm toán báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại.
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.1.4.1 Kế toán khoản thu lãi tiền vay

tổ chức được phép sử dụng ngoại tệ và thu về thủ tục phí trong lĩnh vực
thanh toán quốc tế. Các khoản thu được thể hiện qua bút toán.
Nợ: Tài khoản thích hợp (tài khoản tiền mặt ngoại tệ, tài khoản tiền gửi)
Có: Tài khoản nghiệp vụ (tiểu khoản về kinh doanh ngoại tệ)
1.2.1.4.4 Kế toán về lệ phí, hoa hồng, và dịch vụ ngân hàng
Lệ phí, hoa hồng chủ yếu là lệ phí và thực hiện thanh toán không bằng
tiền mặt. Khoản thu này có thể thực hiện theo từng món thanh toán hay
chuyển tiền hoặc có thể thu theo định kỳ. Bút toán về khoản thu này như sau
Nợ: Tài khoản tiền gửi, tài khoản tiền mặt
Có: Tài khoản thu nghiệp vụ (tiểu khoản thu lệ phí, hoa hồng…)
Các khoản chi của ngân hàng
1.2.2 Mục tiêu kiểm toán doanh thu, chi phí trong kiểm toán Báo cáo
tài chính của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Mục tiêu chung
Kiểm toán là quá trình xác minh và bày tỏ ý kiến của kiểm toán viên đối
với Bảng khai tài chính, do vậy mục tiêu chung của kiểm toán là sự trình bày
một nhận xét về mức độ trung thực mà Báo cáo tài chính phản ánh. Thông
qua thu thập bằng chứng, kiểm toán viên đưa ra kết luận cho các Báo cáo tài
chính có được trình bày một cách trung thực hợp lý. Bên cạnh các mục tiêu
bao trùm trên, kiểm toán viên phải xác định được các mục tiêu cụ thể trong
quá trình thực hiện kiểm toán, các mục tiêu đó sẽ giúp cho kiểm toán viên có
được bố cục hợp lý khi tiến hành kiểm toán.
Do đó đối với khoản mục doanh thu, chi phí trong Báo cáo tài chính của
ngân hàng thương mại thì mục tiêu chung của việc kiểm toán ở đây là các
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khoản doanh thu, chi phí của ngân hàng thương mại đã được trình bày trung
thực hợp lý trên trên Báo cáo tài chính xét trên mọi khía cạnh trọng yếu.
1.2.2.2 Mục tiêu đặc thù

cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì sẽ không chính xác hoặc
đưa ra các kết luận sai lầm.
Khi xem xét khoản mục doanh thu, chi phí trong Báo cáo tài chính của
ngân hàng thương mại thì kiểm toán viên phải dự kiến hợp lý việc tìm ra các
sai phạm, hoặc đơn lẻ hoặc thành từng nhóm. Đó là những sai sót nghiêm
trọng trong mối tương quan với các thông tin tài chính mà kiểm toán viên
phải nhận xét hoặc báo cáo. Việc đánh giá thế nào về tính trọng yếu của
khoản mục doanh thu, chi phí trong Báo cáo tài chính của ngân hàng thương
mại là công việc mang tính nghề nghiệp của kiểm toán viên
Ước đoán rủi ro kiểm toán sẽ giúp cho kiểm toán viên định hình được
công việc lập kế hoạch trong kiểm toán doanh thu, chi phí. Từ đó có thể giúp
cho kiểm toán viên có thể xác dịnh được số lượng bằng chứng cần tìm khi
tiên hành kiểm toán doanh thu, chi phí nhằm đạt được hiệu quả khi kiểm
toán.
Các nghiệp vụ doanh thu, chi phí luôn là những thành phần quyết định đến
lợi nhuận thuần của doanh nghiệp, số phát sinh tăng, phát sinh giảm của
doanh thu, thu nhập khác, chi phí gần như luông trọng yếu trong báo cáo kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Triệu Thị Huyền Trang Lớp: Kiểm toán 42A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các khoản doanh thu, chi phí có liên quan đến tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
nhà nước… đây là những khoản gần như luôn trọng yếu trên báo cáo tài
chính của ngân hàng thương mại.
1.2.3.2 Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát đối với doanh thu, chi phí.
Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà kiểm toán viên có thể mắc phải khi
đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là
những sai lầm nghiêm trọng.
Rủi ro tiềm tàng là những yếu điểm của số dư tài khoản hoặc một loại
nghiệp vụ đối với những sai sót có thể là nghiêm trọng. Những sai sót này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status