Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 tại Công ty CP bê tông - Pdf 24

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế
giới (WTO) vào ngày 07/11/2006, đây là thời điểm đánh dấu những biến đổi
hết sức to lớn về chính trị, xã hội, và đặc biệt là những tác động không nhỏ tới
nền kinh tế đất nước. Hội nhập là đồng nghĩa với việc chúng ta cùng tham gia
vào một sân chơi chung, ở đó có thể có những thời cơ và vận hội mới nhưng
cũng sẽ có những thách thức không nhỏ đối đất nước nói chung, đối với các
doanh nghiệp nói riêng – những thực thể kinh doanh chịu tác động trực tiếp
của sự thay đổi này.
Trước tình hình đó các doanh nghiệp Việt Nam suy nghĩ gì? Cần hành
động như thế nào cho tương lai, cho sự phát triển lâu dài của chính bản thân
doanh nghiệp?
Theo ý kiến cá nhân tôi thì vấn đề nguồn nhân lực và quản lý nguồn
nhân lực là yếu tố then chốt góp phần vào sự tồn tại cũng như suy vong của
doanh nghiệp. Có quan điểm cho rằng nguồn nhân lực là chủ thể của mọi
nguồn lực, tác động, chi phối và cải biến các nguồn lực đầu vào của doanh
nghiệp, những nguồn lực này sẽ chỉ ở dạng tiềm ẩn nếu không có sự tác động
của nguồn nhân lực. Như vậy có thể nói: Một doanh nghiệp nghiệp mạnh là
một doanh nghiệp có nguồn nhân lực mạnh (xét trên hai khía cạnh thể lực và
trí lực).
Tuy nhiên vấn đề quan trọng hiện nay là có được nguồn nhân lực mạnh
đã khó, việc quản lý, duy trì và phát triển nó còn khó hơn gấp bội. Do đó điều
cần thiết là các doanh nghiệp cần phải có những chính sách quản lý nguồn
nhân lực một cách phù hợp.
Mặc dù mới được thành lập chưa được bao lâu nhưng với tầm nhìn
chiến lược, toàn thể ban lãnh đạo Công ty đã nhận ra được tầm quan trọng của
công tác quản lý nguồn nhân lực, do đó Công ty đã tìm hiểu và áp dụng một
cách linh hoạt hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 vào việc quản lý
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
1

Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
2
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương I
Lý luận về quản lý nguồn nhân lực và hệ thống
ISO 9001:2000
I.Nguồn nhân lực
1. Khái niệm nguồn nhân lực.
Cơ cấu của doanh nghiệp, tổ chức là một tập hợp những cá nhân có trình
độ khác nhau tham gia vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp theo hệ
thống và có sự liên kết. Nói chung những cá nhân có khả năng lao động (xét
về mặt thể lực và trí lực) thì được coi là nguồn nhân lực của doanh nghiệp, tổ
chức đó.
Sự thành công thất bại của nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã chỉ ra rằng
nguồn lực quan trọng nhất trong mỗi tổ chức, doanh nghiệp là con người. Con
người hay nói cách khác là nguồn nhân lực của tổ chức, doanh nghiệp, nó
đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý nhân sự.
Nguồn nhân lực có nhiều cách hiểu khác nhau:
- Theo Beng, Fischer & Dornhusch (1995) thì: Nguồn nhân lực được
hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng
đem lại thu nhập trong tương lai. Nguồn nhân lực, theo GS. Phạm Minh Hạc
(2001), là tổng thể các tiềm năng lao động của một đất nước hay một địa
phương sẵn sàngtham gia một công việc nào đó.
- “Nguồn nhân lực hay nguồn lao động bao gồm số người trong độ tuổi
lao động (trừ những người tàn tật, mất sức lao động nặng) và những người
ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế đang làm việc” (Viện nghiên cứu và
phát triển Kinh tế-Xã hội)
- “Nguồn nhân lực là tổng hợp những con người cụ thể tham gia vào qua
trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động
vào quá trình lao động”. (Nguồn: [ 9,trang 380])

vào công cuộc phát triển kinh tế nước ta trong giai đoạn tới, đặc biệt trước xu
thế hội nhập toàn cầu như nước ta hiện nay.
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
4
Chuyên đề tốt nghiệp
2.2 Chất lượng nguồn nhân lực
“Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực
trong tổ chức, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất
bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng của nguồn nhân lực được biểu hiện
thông qua một số yếu tố chủ yếu như trạng thái sức khỏe, trình độ văn hóa,
trình độ chuyên môn kỹ thuật (kỹ năng) của nguồn nhân lực”. (Nguồn [4,
trang 37])
“Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực
thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của
nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực, chí lực”. (Nguồn [11])
 Thể lực nguồn nhân lực
Thể lực nguồn nhân lực bao gồm các yếu tố về sức khỏe cơ thể và sức
khỏe tinh thần. Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng về cơ bắp, là năng lực lao
động. Sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hệ thần kinh, là khả năng vận động
của trí tuệ, biến tư duy thành hành động thực tiễn. Tổ chức y tế thế giới đưa ra
định nghĩa: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh
thần và Xã hội, chứ không phải là không có bệnh tật hay thương tật”. Ngày
nay, dưới áp lực của công việc, con người thường cảm thấy rất mệt mỏi vì vậy
người ta thường yêu cầu phải có một chế độ nghỉ ngơi hợp lý để mau chóng
hồi phục sức khỏe, đáp ứng những yêu cầu về kỹ năng, kỹ thuật của công
việc. Các yếu tố kể trên thường phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện như: thu
nhập, mức sống, chế độ nghỉ ngơi, các dịch vụ có liên quan…Tuy nhiên, mức
độ đảm bảo sức khỏe cho dân cư ở mỗi quốc gia rất khác nhau, bởi sự khác
nhau về tình hình dân số và các điều kiện Kinh tế Xã hội.
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46

“Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực hay trình độ học vấn của nguồn
nhân lực là nền tảng cho việc tiếp thu các kiến thức khoa học kỹ thuật, đào tạo
và tái đào tạo nghề nghiệp. Công tác giáo dục và đào tạo cần từng bước đổi
mới chương trình cũng như phương pháp dạy và học ở các bậc học, đặc biệt là
trong giáo dục đại học và dạy nghề phải thường xuyên cập nhật thông tin để
theo sát sự phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Đầu tư cho
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
6
Chuyên đề tốt nghiệp
đào tạo là đầu tư trực tiếp, cơ bản và lâu dài vì sự phồn vinh của đất nước, đó
là đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đó là đầu tư về con người. Do đó cần phải có
quan điểm nhất quán và đầu tư tập trung hơn nữa cho lĩnh vực này” (Nguồn:
[12, trang 8])
Để đánh giá trình độ văn hóa của nguồn nhân lực người ta dựa vào chỉ
tiêu:
- Tỷ lệ dân số biết chữ: là số phần trăm những người 10 tuổi trở lên có
thể đọc, viết và hiểu được những câu đơn giản của tiếng Việt, tiếng dân tộc
hoặc tiếng nước ngoài so với tổng dân số từ 10 tuổi trở lên.
- Số năm đi học trung bình của dân số từ 25 tuổi trở lên
Mục tiêu của chính phủ đặt ra là từ nay đến năm 2010, nâng tổng số lao
động qua đào tạo lên 50%, trong đó dạy nghề là 30%, đây sẽ là nguồn lực
quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững.
Tuy nhiên, trình độ học vấn của nguồn nhân lực nước ta đang có vấn đề.
Theo một báo cáo khảo sát “200 doanh nghiệp top của Việt Nam” của
UNDP – Hà Nội xuất bản tháng 9-2007 cho biết: “Qua phỏng vấn các chủ
doanh nghiệp Việt Nam đều cho rằng (a) họ phải đào tạo lại hầu hết mọi
người ở mọi cấp bậc – học nghề, đại học, sau đại học – mà họ nhận vào doanh
nghiệp của mình; (b) họ không tin tưởng vào hệ thống đại học và các viện
nghiên cứu trong nước, vì chất lượng giảng dạy thấp; nội dung yếu và lạc hậu;
khả năng nghiên cứu thấp; sách vở và các thiết bị đều thiếu không đồng bộ, cũ

VV
LV
ĐT
L
L
x100
Trong đó:
-
LV
ĐT
T
: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với tổng lao động đang làm
việc.
-

LV
ĐT
L
: Số lao động đã qua đào tạo đang làm việc.
-

LV
L
: Số lao động đang làm việc.
- Tỷ lệ lao động theo cấp bậc đào tạo
Công thức:
i
CBĐB
T
=

35% lao động chưa được đào tạo nghề
35% công nhân lành nghề
24.5% kỹ thuật viên
5% kỹ sư và trên đại học
0.5% là chuyên viên cao cấp’’ (Nguồn [14a])
Nguồn nhân lực nước ta đứng trước tình hình: trẻ (tính theo tuổi đời
trung bình – một ưu thế lớn), đông (một ưu thế lớn khác, nước có dân số đứng
thư 13 thế giới ), nhưng tỷ lệ tính trên triệu dân số người có nghề và có trình
độ chuyên môn rất thấp so với tất cả các nước trong nhóm ASEAN 6 và
Trung Quốc; số cán bộ kỹ trị và có trình độ quản lý cao rất ít so với dân số
cũng như so với quy mô nền kinh tế.
Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2005 cho hay: “Nguồn nhân lực Việt Nam
về chất lượng được xếp hạng 53 trên 59 quốc gia được khảo sát, song mất cân
đối nghiêm trọng;
- Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1.16 cán bộ tốt nghiệp
trung cấp và 0.92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là 4
và 10.
- Ở Việt Nam cứ 1 vạn dân có 181 sinh viên đại học, trong khi đó của thế
giới là 100, của Trung Quốc là 140, mặc dù mức thu nhập quốc dân tính theo
đầu người của Trung Quốc khoảng gấp đôi của nước ta…’’(Nguồn: [14c])
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Từ những số liệu trên cho thấy chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam
thấp về nhiều mặt so với các nước ASEAN 6 và Trung Quốc, nhiều ưu thế mà
chúng ta có nhưng không được nuôi dưỡng và phát huy đúng hướng.
 Phẩm chất tâm lý xã hội của nguồn nhân lực
Ngoài ba yếu tố kể trên, thì yếu tố phẩm chất tâm lý xã hội là một trong
những yếu tố không thể thiếu đối với người lao động. Quá trình lao động đòi
hỏi người lao động hàng loạt phẩm chất như: tính kỷ luật, tự giác, có tinh thần

II. Quản lý nguồn nhân lực
1.Khái niệm quản lý nguồn nhân lực
“Quản lý nguồn nhân lực liên quan đến con người và những nhân tố xác
định mối quan hệ giữa con người với tổ chức sử dụng con người đó. Tại một
thời điểm nào đó trong quá trình hoạt động của nó, một tổ chức có thể cần ít
hoặc nhiều nhân lực tùy thuộc vào yêu cầu của các hoạt động trong tổ chức.
Quản lý nguồn nhân lực đảm bảo cho tổ chức có những nhân lực có kỹ năng,
được sắp xếp vào những vị trí phù hợp theo đòi hỏi công việc trong tổ chức.
Vì vậy, quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tuyển mộ, tuyển chọn,
duy trì, phát triển và tạo mọi điều kiện có lợi cho nguồn nhân lực trong một tổ
chức nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra của tổ chức đó.
Vào những năm 1920, quản lý nguồn nhân lực là một nhiệm vụ chủ yếu
của các nhà quản lý cấp thấp bao gồm những hoạt động như thuê hoặc sa thải
lao động để đảm bảo một kế hoạc nào đó trong tổ chức. Trải qua quá trình
phát triển của khoa học, đến những năm 1980, những nhà quản lý nhân lực đã
được đặt ở vị trí cấp cao và chi phối trực tiếp đến quản lý chiến lược của tổ
chức. Ngày nay, quản lý nguồn nhân lực là một mảng chiến lược liên quan
đến tất cả việc triển khai nhân lực cho hoạt động của tổ chức”.(Nguồn [4,
trang 380])
2.Nội dung của quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực bao gồm những nội dung cơ bản sau:
• Lập chiến lược nguồn nhân lực: đây là một quá trình thiết lập hoặc lựa
chọn chiến lược nguồn nhân lực và các chương trình hoặc các nguồn lực để
thực hiện chiến lược đã đề ra.
• Định biên: là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các nhà
quản lý, bao gồm các hoạt động tuyển mộ, lựa chọn, làm hòa nhập và lưu
chuyển nguồn nhân lực trong tổ chức.
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
12
Chuyên đề tốt nghiệp

13
Chuyên đề tốt nghiệp
- Phân tích các yếu tố cơ bản của nguồn nhân lực (số lượng, cơ cấu,
giới tính, chất lượng nhân lực)
- Phân tích mối quan hệ giữa nhân lực; cách phân chia, sắp xếp công
việc.
- Phân tích động cơ hoạt động, năng suất lao động của nhân lực trong tổ
chức.
- Phân tích văn hóa của tổ chức.
- Phân tích hệ thống tuyển mộ, lựa chọn, đào tạo bồi dưỡng nhân lực;
hệ thống lương bổng phúc lợi, an toàn và sức khỏe.
- Phân tích tính linh hoạt thể hiện khả năng đơn giản hóa và phân quyền
trong tổ chức.
• Phân tích chiến lược tổng thể và chiến lược bộ phận của tổ chức nhằm
xác định nhu cầu về nguồn nhân lực và đổi mới quản lý nguồn nhân
lực.
• Đánh giá lại mục tiêu chiến lược nguồn nhân lực xem mục tiêu đặt ra ở
bước một có thực tế không; có cần thay đổi không; nếu cần thì thay đổi
như thế nào? Nừu không thì bộ phận quản lý nguồn nhân lực sẽ phối
hợp với các nhà quản lý trực tuyến để xây dựng chiến lược nguồn nhân
lực.
• Hình thành chiến lược nguồn nhân lực.
2.2 Công tác định biên
Đây là hoạt động quan trọng nhất của nhà quản lý khi xây dựng nguồn
nhân lực cho doanh nghiệp. Bao gồm các hoạt động tuyển mộ, lựa chọn, làm
hòa nhập và lưu chuyển nguồn nhân lực trong tổ chức.
2.2.1 Tuyển mộ nhân lực
Tuyển mộ nhân lực là một tiến trình nhằm thu hút những người có khả
năng từ nhiều nguồn khác nhau đến nộp đơn và tìm việc làm.
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46

bạn bè của mình.
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
15
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Nhân viên cũ của tổ chức: Tuyển những người đã làm việc trong tổ chức, có
thể trước đây họ bị sa thải, giảm biên chế hoặc dừng việc do mùa vụ, hoặc bỏ
việc.
+ Tuyển mộ ở các trường Đại học, Cao đẳng: Đây là một nguồn quan trọng
đối với các tổ chức hiện nay và được sử dụng nhiều ở các nước phát triển.
Tuyển mộ theo cách này, Công ty sẽ tuyển được nguồn lao động chất lượng
cao bởi hầu hết lao động được tuyển là những sinh viên có thành tích tốt trong
học tập, có khả năng cống hiến lâu dài cho tổ chức.
+ Tuyển những người là khách hàng: Khách hàng là những người đã quen
thuộc với tổ chức. Họ là người tâm huyết và muốn tham gia vào các hoạt
động của tổ chức mà họ yêu thích.
+ Tuyển mộ từ những nguồn khác: Bằng cách thông qua quảng cáo trên các
phương tiện thông tin đại chúng, internet để thu hút những người cần tìm
việc, hoặc thông qua các tổ chức làm dịch vụ tuyển mộ để chọn ra những
nhân lực với tiêu chuẩn nhất định.
2.2.2 Tuyển chọn nhân lực
Tuyển chọn là quá trình xem xét, lựa chọn các ứng cử viên có đủ tiêu
chuẩn để làm việc cho tổ chức. Các hình thức tuyển chọn mà tổ chức thường
sử dụng, bao gồm:
- Dùng thư giới thiệu hoặc tiến cử: Nói chung hình thức này thường có
giá trị thấp, để tăng giá trị người ta cải tiến nội dung của thư giới thiệu. Một
thư giới thiệu sẽ có giá trị hơn khi nó tập trung vào mô tả hơn là mức độ quả
quyết.
- Đơn xin việc: Đơn xin việc đề cập đến công việc quá khứ, công việc
hiện tại, đồng thời những câu hỏi về hoàn cảnh, kinh nghiệm, sở thích của các
ứng cử viên.

Giai đoạn 2: Chương trình chuyên môn: giới thiệu chức năng của các
phòng ban, nhiệm vụ và trách nhiệm đối với công việc, chính sách, thủ tục,
điều lệ quy định công việc...
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Giai đoạn 3: Theo dõi và đánh giá: bộ phận nhân lực phối hợp với các bộ
phận khác theo dõi nhân viên mới thông qua việc thường xuyên theo dõi để
động viên nhân viên mới và trả lời các thắc mắc của họ.
2.2.4 Lưu chuyển nhân lực
Lưu chuyển nhân lực là một nghệ thuật di chuyển lao động từ một công
việc đã được giao trước đó sang làm một công việc khác.
Lưu chuyển nhân lực bao gồm các hoạt động sau:
• Đề bạt:
Đề bạt là lưu chuyển nhân lực lên một vị trí hoặc cấp cao hơn, kèm theo
đó họ sẽ gánh vác trách nhiệm lớn hơn, được trả lương cao hơn và công việc
mới phù hợp với khả năng của người được đề bạt. Mục đích của đề bạt là:
- Khuyến khích người lao động phục vụ tốt nhất trong khả năng của
mình.
- Duy trì những nhân lực có năng lực thông qua tiền lương cao hơn và
công việc tốt hơn.
- Giảm bớt biến động về nhân lực do thuê nhân lực mới từ nguồn bên
ngoài tổ chức.
• Lưu chuyển nội bộ
Lưu chuyển nội bộ là thuyên chuyển lao động từ một bộ phận, một công
việc sang một bộ phận hay công việc khác. Lưu chuyển nội bộ có thể do: 1)dư
thừa nhân lực ở bộ phận này và thiều nhân lực ở bộ phận khác, 2)đáp ứng yêu
cầu mở rộng tổ chức hoặc đáp ứng nhân lực cho một bộ phận nào đó do tính
cao điểm của hoạt động, 3)sử dụng đúng năng lực hoặc kích thích tính linh
hoạt của người lao động làm cho họ có thể phù hợp với nhiều công việc của tổ

Thiết lập kỳ vọng công việc
Kiểm tra sự thực hiện công việc
Đánh giá sự thực hiện
Thảo luận việc đánh giá với nhân viên
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
19
Chuyên đề tốt nghiệp
(Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính Công ty CP bê tông)
Quá trình đánh giá sự thực hiện công việc thường bị ảnh hưởng bởi môi
trường bên trong và môi trường bên ngoài của tổ chức.
Xác định mục tiêu là khâu đầu tiên của quá trình đánh giá, đây là khâu
cực kỳ quan trọng, rất nhiều hệ thống đánh giá không thành công vì nhà quản
lý xác định mục tiêu không rõ ràng. Bước tiếp theo yêu cầu nhân viên phải
nắm được các nhà quản lý chờ đợi gì ở công việc của họ. Kế đến, nhà quản lý
quan sát sự thực hiện công việc, đánh giá sự thực hiện dựa trên mục tiêu và
các tiêu chuẩn đã được thiết lập và thông báo kết quả đánh giá cho nhân viên.
Cuối cùng, thảo luận việc đánh giá công việc với người quản lý giúp nhân
viên nhìn nhận lại yêu cầu công việc để thực hiện lại tốt hơn.
Các phương pháp đánh giá sự thực hiện công việc thường là: Phương
pháp thang điểm, phương pháp ghi chép các sự kiện quan trọng, phương pháp
văn bản tường thuật, phương pháp đánh giá theo tiêu chuẩn công việc,
phương pháp xếp hạng, phương pháp đánh giá theo mục tiêu...
2.3.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
• Quá trình đào tạo:
Đào tạo là các hoạt động nhằm nâng cao năng lực cho người lao động trong
việc đóng góp vào hoạt động của tổ chức.
Nội dung của đào tạo nhằm:
- Đào tạo kỹ năng thực hiện công việc nhằm bổ sung những kỹ năng còn
thiếu hụt của nhân viên dưới dạng đào tạo lại hoặc đào tạo mới.
- Đào tạo nhiều chức năng: nội dung đào tạo liên quan đến việc trang bị

Trả công cho người lao động đề cập đến tất cả những phần thưởng mà một
cá nhân nhận được để đổi lấy sức lao động của mình. Trả công cho người lao
động có thể theo hình thức tài chính hoặc phi tài chính.
Các hình thức trả công:
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
21
Chuyên đề tốt nghiệp
• Trả công theo thời gian: Trả công theo thời gian được áp dụng cho
những nhân công làm công việc quản lý, hoặc áp dụng cho những công việc
không thể tiến hành định mức chặt chẽ và chính xác.
Trả công theo thời gian có hai loại:
- Trả công theo thời gian đơn giản: Tiền công mà nhân viên nhận được
phụ thuộc vào mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời gian thực tế làm việc
nhiều hay ít quyết định. Trả công theo hình thức này không khuyến khích sử
dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên vật liệu và tăng năng suất
lao động.
- Trả công theo thời gian có thưởng: Đây là sự kết hợp giữa hình thức trả
công theo thời gian đơn giản và tiền thưởng khi nhân lực đạt được những chỉ
tiêu số lượng hoặc chất lượng đã quy định. Hình thức này khuyến khích người
lao động quan tâm đến kết quả công việc hơn.
• Trả công theo sản phẩm:
Trả công theo sản phẩm bao gồm những hình thức sau:
- Trả công trực tiếp cá nhân: áp dụng đối với lao động trực tiếp sản
xuất, hoạt động của họ mang tính độc lập tương đối, sản phẩm có thể nghiệm
thu và kiểm tra riêng biệt
Tiền công = đơn giá x số lượng sản phẩm sản xuất
- Trả công tính theo sản phẩm tập thể: áp dụng đối với công việc cần
một tập thể người lao động.
Tiền của tập thể = Đơn giá bình quân x Số lượng sản phẩm của tập thể
Hình thức này khuyến khích nâng cao trách nhiệm đối với công việc tập

xác định mình như một tổ chức phi chính phủ (NGO), hoạt động ở các lĩnh
vực khác nhau như: Văn hóa, khoa học, kinh doanh, du lịch, môi trường...sử
dụng ngôn ngữ chính là tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha. Khả năng của tổ
chức này trong việc thiết lập các tiêu chuẩn - thông thường trở thành các luật
định thông qua các hiệp định hay các tiêu chuẩn quốc gia làm cho nó có nhiều
sức mạnh hơn phần lớn các tổ chức phi chính phủ khác, và trên thực tế ISO
hoạt động như một côngxoocxiom cùng với sự liên kết chặt chẽ với các chính
phủ.
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
23
Chuyên đề tốt nghiệp
ISO đã có một bước phát triển dài: (Nguồn: [4, trang 435])
 Năm 1955, hiệp ước Bắc Đại Tây Dương – NaTo đã đưa ra các
tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng cho tàu Appllo của NaSa, máy bay
Concorde của Anh, tàu vượt Đại Tây Dương của nữ hoàn Êlizabeth...
 Năm 1969 Anh, Pháp thừa nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn quốc
phòng với các hệ thống đảm bảo chất lượng của người thầu phụ thuộc vào các
thành viên của NaTo.
 Năm 1972, Viện tiêu chuẩn Anh ban hành tiêu chuẩn BS 4891 -
Hướng dẫn đảm bảo chất lượng.
 Năm 1979, Viện tiêu chuẩn Anh ban hành tiêu chuẩn BS 5750 –
Tiền thân của ISO 9000.
 Năm 1987, ISO công bố lần đầu tiên bộ ISO 9000 khuyến cáo áp
dụng trong các nước thành viên và trên toàn thế giới.
 Năm 1994, Bộ ISO 9000 được điều chỉnh và bổ xung thêm một
số tiêu chuẩn mới.
 Năm 2000, Bộ ISO 9000 lại được sửa đổi thêm một lần nữa.”
Trong những năm của thập niên 90, ISO có tiếng là chậm chạp, quan liêu
và không nhạy cảm trước những phản ứng từ những người chu cấp tài chính
và khách hàng của họ. Một dự án có vấn đề là dự án Open Systems

Cùng với sự tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới với hơn 160 quốc
gia. ISO đã đưa ra hệ tiêu chuẩn ISO 9000 bao gồm các tiêu chuẩn: ISO 9000,
ISO 9002, ISO 9003, ISO 9004...Và đặc biệt trong rất nhiều các hệ thống tiêu
chuẩn hiện hành thì hệ thống chất lượng ISO 9000 đã và đang được áp dụng
rộng rãi nhất trên phạm vi toàn thế giới và nó được coi là giấy thông hành cho
việc xuất nhập khẩu hàng hóa giữa các quốc gia trên thế giới. Như vậy, ISO
9000 thực chất là hệ thống quản lý chất lượng chứ không phải là chất lượng
của sản phẩm. Nó được ban hành dựa trên cơ sở tập hợp kinh nghiệm trong
lĩnh vực quản lý và đảm bảo chất lượng tại các đơn vị của mình, cơ sở sản
xuất của mình bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn về tổ chức, quản lý, nguồn
lực...cho một hệ thống chất lượng của cơ sở sản xuất kinh doanh, sản xuất
Hoàng Anh Lớp Kinh tế & Quản lý công 46
25

Trích đoạn Công tác đánh giá thực hiện công việc Công tác trả công cho người lao động Công tác đãi ngộ Đào tạo cán bộ quản lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status