Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần chăn nuôi Phú Sơn sau 5 năm cổ phần hoá - Pdf 24

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã và đang phát triển nền kinh tế thị trường, với các chính sách
kinh tế mở và chiến lược tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển kinh tế thị
trường đã, đang và sẽ đặt nền kinh tế nước ta nói chung và các doanh nghiệp nói
riêng đối diện với những thách thức, khó khăn trước sự cạnh tranh ngày càng
khốc liệt mang tính quốc tế nhằm giành giật khách hàng và mở rộng thị trường
ngay trong nước cũng như thế giới. Trong nền kinh tế thị trường, một khi không
còn sự bảo hộ của Nhà nước, các doanh nghiệp trong nước phải tự điều hành
quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả để có thể đứng
vững trên thị trường và ngày càng phát triển. Mặt khác, mục tiêu quan trọng nhất
mà tất cả các doanh nghiệp đều hướng tới là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Bởi nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện sống còn của
doanh nghiệp, đồng thời nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng nguồn
lực hợp lý cũng như thúc đẩy việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật công
nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh
và sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng, trong điều kiện
kinh tế thị trường cần phải thật sự chủ động “đi tắt đón đầu”, nhất là trong việc
tiếp cận khoa học kỹ thuật mới và chủ động về thị trường, đánh giá về thị phần
và khẳng định chính mình trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
thế giới.
Là một doanh nghiệp hoạt động trọng lĩnh vực nông nghiệp, chuyên về
sản xuất chăn nuôi gia súc, gia cầm và một số ngành nghề dịch vụ khác, Công
ty cổ phần chăn nuôi Phú Sơn đang đứng trước những cơ hội và thách thức to
lớn trên thị trường. Từ khi cổ phần hoá đến nay, Công ty đã không ngừng mở
rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, hoạt động ngày càng có hiệu quả, tạo được
2
chỗ đứng ở thị trường trong, ngoài nước và là bạn hàng tin cậy với đối tác
trong nước cũng như ngoài nước được thể hiện ở các khía cạnh như doanh

- Về đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần chăn nuôi Phú Sơn.
- Về phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Công ty cổ phần chăn nuôi Phú Sơn, xã Bắc Sơn,
huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai;
+ Về thời gian: Trước khi CPH năm 2005 và 5 năm sau CPH từ năm
2006 - 2010.
4. Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về cổ phần hóa doanh
nghiệp;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau
khi cổ phần hóa;
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của Công ty cổ phần chăn nuôi Phú Sơn trong thời gian tới.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, vấn đề cổ phần hoá và sau cổ phần
hoá các DNNN đã được nghiên cứu trong nhiều đề tài khoa học, một số luận
văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ. Qua tìm hiểu các tài liệu, tác giả luận văn có thể
hệ thống và nêu ra một số công trình chủ yếu sau:
Bộ Tài chính (1993), Cơ sở khoa học của việc chuyển một số DNNN
thành công ty cổ phần ở Việt Nam, Chương trình khoa học cấp Nhà nước, mã
số KX 03.07.05.
PTS Nguyễn Ngọc Quang (1996), Cổ phần hoá DNNN cơ sở lý luận và thực
tiễn, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
PTS Đoàn Văn Hạnh (1998), Công ty cổ phần và chuyển doanh nghiệp
nhà nước thành công ty cổ phần, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Thống kê,
Hà Nội.

chuyên ngành Kinh tế chính trị Xã hội chủ nghĩa về “Cổ phần hoá DNNN
trong ngành giao thông vận tải ở Việt Nam”. Những vấn đề tác giả đề cập ở
trong khuôn khổ Luận văn Thạc sỹ chủ yếu là đề cập về cổ phần hoá, những
vấn đề hậu cổ phần hoá chưa được xem xét. Hơn nữa công trình nghiên cứu
cũng đã được gần 5 năm.
Năm 2003, nghiên cứu sinh Lê Văn Hội đã bảo vệ luận án Tiến sĩ kinh tế
chuyên ngành Kinh tế, quản lý và kế hoạch hoá kinh tế quốc dân tại Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh với đề tài “Cổ phần hoá một số DNNN trong
ngành Giao thông vận tải - Thực trạng và giải pháp”. Đề tài tập trung vào các
vấn đề lý luận và thực tiễn của cổ phần hoá các DNNN của ngành Giao thông
6
vận tải, trong đó chủ yếu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thực hiện cổ
phần hoá, những vấn đề đặt ra sau cổ phần hoá các DNNN chưa được luận án
nghiên cứu. Trên thực tế, sau khi thực hiện cổ phần hoá nhiều doanh nghiệp đã
nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế xã hội ảnh hưởng không chỉ đến các DNNN đã
cổ phần hoá mà còn ảnh hưởng đến những DNNN chưa cổ phần hoá.
Đã có một số bài viết về từng mặt của những vấn đề kinh tế nảy sinh sau
khi doanh nghiệp cổ phần hoá như: “Các vấn đề tồn tại và phát sinh của
doanh nghiệp sau cổ phần hoá và đa dạng hóa sở hữu” của TS. Trần Tiến
Cường; “Một số vướng mắc về tài chính đối với doanh nghiệp sau cổ phần hoá
và đa dạng sở hữu” của Lê Hoàng Hải - Trưởng ban cổ phần hoá Cục tài chính
doanh nghiệp Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về
các vấn đề sau cổ phần hoá các DNNN.
Trước những biến động của quá trình cổ phần hoá các DNNN nói chung,
của ngành chăn nuôi nói riêng, đặc biệt là những biến động trong những năm
gần đây, tác giả luận văn muốn đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống cả
những vấn đề diễn ra trong quá trình cổ phần hoá và nảy sinh sau cổ phần hoá
DNNN, nhằm đưa ra những giải pháp xử lý đáp ứng yêu cầu bức xúc của thực
tiễn. Đây cũng là công trình tiếp nối của tác giả để đảm bảo tính hệ thống.
1.2. Cơ sở lý luận về cổ phần hóa và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh

sở đó hiệu quả và sức cạnh tranh của DN sẽ có điều kiện được nâng dần lên.
Như vậy, bản chất quá trình cổ phần hóa một bộ phận DNNN của chúng ta
cũng không phải là tư nhân hóa; bởi lẽ ở một số lý do:
Thứ nhất, DNNN một thời gian dài đã được hình thành tràn lan, nay Nhà
nước chỉ nắm những ngành, những lĩnh vực thật cần thiết, nắm vũ đài chỉ huy
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước
8
không thể được củng cố thêm, thậm chí còn bị yếu đi, nếu chúng ta cứ tiếp tục
duy trì những DN hiệu quả thấp, dàn trải và năng lực cạnh tranh kém. Như vậy,
bán toàn bộ tài sản chỉ được áp dụng đối với những ngành, những lĩnh vực mà
nhà nước không cần nắm giữ, những lĩnh vực mà khu vực dân doanh hoàn toàn
có thể làm tốt hơn DNNN. Đó là một giải pháp hoàn toàn hợp lý.
Thứ hai, Nhà nước sẽ lựa chọn hình thức bán cho phù hợp, và nếu bán theo
cách để cho người lao động có cổ phần ưu đãi hay cổ phần không chia, thì rõ
ràng không thể nói rằng đó là tư nhân hóa.
Từ khi có chủ trương CPH DNNN của Đảng và Chính phủ đến nay, quá
trình CPH có thể phân chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ tháng 6/1992 đến
tháng 4/1996; giai đoạn 2 từ tháng 5/1996 đến tháng 6/1998; giai đoạn 3 từ
tháng 7/1998 đến tháng 12/2001 và giai đoạn 4 từ tháng 1/2002 đến nay.
1.2.2. Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp
Cổ phần hoá (CPH) là một hình thức chuyển đổi doanh nghiệp từ doanh
nghiệp có một hoặc số ít chủ sở hữu sang các doanh nghiệp có nhiều chủ sở
hữu dưới hình thức các công ty cổ phần (CTCP). Thực chất của quá trình này
là nhằm chuyển đổi hình thức sở hữu trong các doanh nghiệp cũ sang hình
thức sở hữu hỗn hợp giữa các cổ đông là tư nhân, pháp nhân; giữa tư nhân với
nhà nước; giữa tư nhân với nhau trên cơ sở chia nhỏ tài sản của công ty thành
những phần bằng nhau, bán lại cho các cổ đông dưới hình thức cổ phiếu.
Thông qua đó thiết lập hình thức tổ chức quản lý sản xuất theo mô hình
CTCP, hoạt động với tư cách một pháp nhân độc lập. Như vậy cổ phần hoá có
thể thực hiện cho bất cứ loại hình doanh nghiệp nào, kể cả doanh nghiệp tư

Cổ phần hoá các DNNN là biện pháp có tính đặc thù của một số nước,
trong đó có nước ta trong việc đổi mới các DNNN những năm vừa qua. Để đáp
10
ứng yêu cầu chuyển đổi các DNNN thành các công ty cổ phần qua cổ phần hoá,
cần phải có những nghiên cứu về lý thuyết và thực tiễn về cổ phần hoá các
DNNN. Vì vậy, ở Việt Nam trong những năm qua cũng đã có nhiều nghiên cứu
đưa ra các khái niệm khác nhau về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Theo Đỗ Bình Trọng, “cổ phần hoá chỉ việc chuyển đổi một DNNN
thành một công ty cổ phần, trong đó các đơn vị kinh tế phi chính phủ được
phép mua một phần hoặc toàn bộ quyền sở hữu của doanh nghiệp cổ phần
hoá”. Ban đổi mới, phát triển DNNN cho rằng: “Cổ phần hoá là quá trình
chuyển DNNN thành công ty cổ phần”.
Có tác giả lại quan niệm: “Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi doanh
nghiệp từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu thành công ty cổ phần, tức là doanh
nghiệp có nhiều chủ sở hữu”.
Vì vậy, cổ phần hoá các DNNN là quá trình chuyển đổi DNNN thành
công ty cổ phần, trong đó Nhà nước có thể vẫn giữ tư cách là một cổ đông
(một cổ đông đặc biệt). Đó là quá trình chuyển sở hữu nhà nước sang sở hữu
của các cổ đông, đồng thời DNNN thực hiện cổ phần hoá có thể thu hút thêm
vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu.
Nhìn chung các khái niệm về cổ phần hoá đều nói trực tiếp đến cổ phần
hoá các DNNN, vì vậy, đều nói tới quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ hình
thức DNNN sang hình thức công ty cổ phần, với những góc độ khác nhau.
Tuy nhiên, các khái niệm chưa đi sâu vào bản chất bên trong của quá trình cổ
phần hoá các DNNN. Từ những khái niệm trên có thể khái quát và đưa ra khái
niệm đầy đủ về cổ phần hoá DNNN như sau:
Cổ phần hoá các DNNN là biện pháp có tính đặc thù của quá trình đổi
mới các DNNN, là quá trình chuyển các DNNN thành các công ty cổ phần. Đó
là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ một chủ sở hữu nhà nước sang sở hữu
của nhiều chủ thể - đa sở hữu (hay sang sở hữu hỗn hợp), trong đó tồn tại một

1.2.4. Quá trình Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và
trên Thế giới
Quá trình CPH DNNN được chia ra làm các giai đoạn với mức độ, phạm
vi cổ phần hóa khác nhau. Cơ chế chính sách cho công tác này cũng được ban
hành, sửa đổi hoàn thiện kịp thời, đáp ứng yêu cầu mỗi giai đoạn.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới
đã diễn ra quá trình tăng cường vai trò của khu vực kinh tế tư nhân bằng cách
từng bước giảm thiểu khu vực kinh tế nhà nước thông qua chương trình tư
nhân hoá. Điều này đã và đang diễn ra ở nhiều nước, bao gồm cả những nước
có nền kinh tế phát triển, các nước đang phát triển và cả các nước có nền kinh
tế chuyển đổi như Nga và các nước Đông Âu, Nhìn chung quá trình tư nhân
hoá diễn ra ở các nước này đều diễn ra theo ba mức độ:
Một là, Thay đổi một phần chế độ sở hữu của DNNN, chuyển một phần
sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân.
Hai là, Tự do hoá việc tham gia những hoạt động kinh tế mà trước đây
chỉ dành cho khu vực kinh tế nhà nước.
Ba là, Uỷ quyền kinh doanh hoặc cho phép tư nhân ký hợp đồng thực hiện
những dịch vụ công cộng hoặc cho khu vực tư nhân thuê các tài sản công cộng.
Ở các nước này, tư nhân hoá còn được hiểu là thị trường hoá, có nghĩa là
"nới lỏng hay bỏ bớt các hạn chế pháp lý dưới nhiều hình thức khác nhau đối
với sự cạnh tranh chống lại các xí nghiệp công cộng" [45,4]. Quan niệm của
Liên hiệp quốc về tư nhân hoá được hiểu: Tư nhân hoá là sự biến đổi tương
quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước theo
hướng ưu tiên thị trường. Thực chất, quan niệm nêu trên là mong muốn giảm
bớt vai trò của Nhà nước và mở rộng khu vực tư nhân, đồng thời làm cho các
13
DNNN phải chịu sức ép lớn hơn của thị trường. Việc giảm bớt sự can thiệp
trực tiếp của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế
cơ sở là nhằm giành cho thị trường vai trò điều tiết ngày càng lớn thông qua
tự do hoá giá cả trên thị trường. Giảm bớt vai trò của Nhà nước còn có thể

phương thức phát hành cổ phiếu;
Hai là: giữ nguyên toàn bộ giá trị vốn hiện có của Nhà nước tại DNNN, phát
hành cổ phiếu ra công chúng để thu hút thêm vốn mở rộng DNNN.
Cả hai hình thức trên đều là cổ phần hoá DNNN, đều là quá trình chuyển
DNNN từ một chủ sở hữu là Nhà nước sang công ty cổ phần - hình thức DN
có nhiều chủ sở hữu. Đây cũng là quá trình chuyển việc quản lý DN trực tiếp
là Nhà nước sang quản lý DN gián tiếp của các cổ đông thông qua Hội đồng
quản trị. Với cách nhìn nhận như vậy thì không thể quan niệm cổ phần hoá
DNNN là tư nhân hoá.
Quá trình cổ phần hoá các Doanh nghiệp nhà nước:
Sơ đồ 1.1: quá trình cổ phần hóa các DNNN.
Theo sơ đồ trên, cổ phần hoá các DNNN là quá trình chuyển các
DNNN thành công ty cổ phần. Tức là một quá trình, bao gồm hàng loạt các
biện pháp về kinh tế và tổ chức cả ở tầm vĩ mô và vi mô nhằm chuyển đổi
một doanh nghiệp từ hình thức sở hữu này sang hình thức sở hữu khác. Vì
vậy, thực chất cổ phần hoá DNNN chỉ sự tác động bằng các biện pháp kinh
DNNN CPH các DNNN Công ty cổ phần
Cty Nhà nước giữ
trên 50% vốn
Cty Nhà nước giữ
dưới 50% vốn
15
tế, kỹ thuật tác động vào DNNN (đối tượng của cổ phần hoá), chuyển chúng
thành công ty cổ phần (sản phẩm của quá trình cổ phần hoá). Để hiểu rõ thực
chất của cổ phần hoá các DNNN cần đi sâu phân tích các nhân tố nằm trong
sơ đồ của quá trình đó.
Nhân tố thứ nhất: DNNN với tư cách là đối tượng của cổ phần hoá
DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý
hoạt động với tư cách chủ sở hữu, là pháp nhân kinh tế hoạt động theo luật
pháp thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao.

công bằng, dân chủ;
DNNN có vai trò như trên, tại sao lại phải tiến hành cổ phần hoá chúng?
Trả lời đầy đủ câu hỏi này thuộc về tính tất yếu khách quan của cổ phần hoá
các doanh nghiệp nhà nước.
Tuy nhiên, trình bày vai trò của các DNNN tác giả luận văn muốn cho
thấy: việc cổ phần hoá các DNNN tuy là tất yếu trong điều kiện của nhiều
nước, nhưng cổ phần hoá các DNNN nào cũng cần phải có sự cân nhắc một
cách thấu đáo để không làm mất đi tiềm lực kinh tế của đất nước, để Nhà
nước vẫn giữ vai trò điều tiết nền kinh tế, đồng thời để các doanh nghiệp có
khả năng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Nhân tố thứ hai: công ty cổ phần với tư cách là sản phẩm của quá trình
cổ phần hoá các DNNN
Theo Luật doanh nghiệp: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó vốn
điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; công ty có
quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn theo quy định
của pháp luật chứng khoán; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng
tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông có quyền tự do
17
chuyển nhượng cổ phần (tuỳ trường hợp đặc biệt được quy định riêng). Cổ
đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Như vậy, công ty cổ phần có những nội dung tổ chức và quản lý khác
biệt với những loại hình doanh nghiệp khác, trước hết là các doanh nghiệp
tư nhân. Công ty cổ phần đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm, ngày nay
phát triển như là hình thức tổ chức doanh nghiệp khá phổ biến vì tính ưu
việt của nó không chỉ trong huy động vốn mà còn ở cách thức tổ chức sản
xuất kinh doanh.
Sự khác biệt của công ty cổ phần với các loại hình doanh nghiệp khác
trên các phương diện, trước hết là doanh nghiệp tư nhân đã cho phép hiểu rõ
thực chất của cổ phần hoá các DNNN và phân biệt cổ phần hoá các DNNN

DNNN, các vấn đề xã hội gắn với lực lượng lao động thường được xem xét cả
quá khứ, hiện tại và tương lai của họ.
Với những điểm khác biệt trên, tư nhân hoá các DNNN có những nội
dung thực hiện đơn giản hơn so với cổ phần hoá chúng. Các công việc như
định giá doanh nghiệp, giải quyết các chế độ liên quan đến người lao động và
lựa chọn chủ thể mới của doanh nghiệp là những công việc chủ yếu của tư
nhân hoá các DNNN. Các nội dung về thu hút thêm vốn, tổ chức bộ máy sau
tư nhân hoá là thuộc về DNNN sau khi đã tư nhân hoá. Trong khi đó, cổ phần
hoá các DNNN bao gồm các công việc như định giá doanh nghiệp; lựa chọn
mức độ kiểm soát của Nhà nước với doanh nghiệp, xác định mức độ ưu đãi
với các loại cổ phần theo các cổ đông ưu đãi, mức độ thu hút thêm vốn, duy
trì hoạt động ban đầu trước khi doanh nghiệp bầu Chủ tịch Hội đồng quản
trị… đều được quan tâm trong và sau cổ phần hoá.
19
Từ những phân tích trên cho thấy: Thực chất của cổ phần hoá DNNN là
quá trình chuyển doanh nghiệp từ sở hữu một chủ sở hữu nhà nước sang
doanh nghiệp đa sở hữu.
1.2.5. Khái quát về công ty cổ phần
Sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần tuân theo các quy luật khách
quan. Nó là kết quả tất yếu của quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu
tập trung lượng vốn lớn trong thời gian ngắn của từng nhà tư bản riêng biệt
với sự hạn chế của mỗi nguồn vốn riêng lẻ. Nó giải quyết vấn đề có tính lịch
sử của một số DNNN trong thời gian dài tồn tại và phát triển. Nó được thực
hiện thông qua cổ phần hoá các doanh nghiệp tư nhân, các DNNN và thực
hiện liên kết giữa các doanh nghiệp tư nhân với nhà nước.
Về công ty cổ phần, có nhiều khái niệm hay cách hiểu khác nhau, có thể
nêu một cách khái quát khái niệm mà được nhiều ý kiến thống nhất đó là:
Công ty cổ phần là một xí nghiệp lớn, mà vốn của nó được hình thành từ sự
đóng góp của nhiều người thông qua việc phát hành cổ phiếu. CTCP mang
những đặc trưng cơ bản sau:

Hai là, do cạnh tranh gay gắt, để tồn tại và tiếp tục phát triển đòi hỏi
các doanh nghiệp phải hạ giá trị cá biệt của hàng hoá. Muốn vậy, phải tăng
năng suất lao động, đòi hỏi phải áp dụng những thành tựu khoa học - công
nghệ hiện đại, muốn vậy phải có vốn lớn, đòi hỏi các xí nghiệp phải tích tụ,
tập trung vốn bằng cách liên kết với nhau và phát hành cổ phiếu để huy động
vốn, vì vậy hình thành nên các công ty cổ phần.
Ba là, do sự phát triển của quan hệ tín dụng tư bản chủ nghĩa, tạo điều
kiện thuận lợi cho sự tích tụ, tập trung tư bản nhanh chóng với các quy mô
lớn, làm cho sự dịch chuyển của tư bản vào các ngành một cách dễ dàng, điều
21
đó đã tạo điều kiện ra đời và phát triển các công ty cổ phần.
1.3. Khái quát về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
và hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3.1 Khái quát về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tổng thể các hoạt
động nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nó phụ thuộc vào nhiều
nhân tố bao gồm cả nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong.
Nhân tố bên ngoài gồm có: Môi trường chính trị, môi trường pháp lý,
môi trường văn hóa - xã hội, môi trường sinh thái, môi trường quốc tế, môi
trường công nghệ, môi trường kinh tế.
- Môi trường chính trị - pháp luật
Các nhân tố Chính phủ, pháp luật và chính trị tác động đến doanh nghiệp
theo các hướng khác nhau. Chúng có thể tạo ra các cơ hội, trở ngại, thậm chí
là rủi ro thật sự cho doanh nghiệp. Chúng thường bao gồm:
+ Chính phủ là người tiêu dùng lớn nhất cho nền kinh tế.
+ Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán về quan điểm chính sách lớn luôn
là sự hấp dẫn các nhà đầu tư. Hệ thống luật pháp được xây dựng và hoàn thiện
sẽ là cơ sở để kinh doanh ổn định. Chẳng hạn luật về bảo vệ môi trường là
điều mà các doanh nghiệp phải tính đến.
+ Các quyết định về quảng cáo đối với một số doanh nghiệp lĩnh vực

cũng phải tính đến thái độ người tiêu dùng, sự thay đổi của tháp tuổi, tỉ lệ kết
hôn và sinh đẻ, vị trí vai trò của người phụ nữ tại nơi làm việc và gia đình. Sự
xuất hiện của Hội bảo vệ người tiêu dùng đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan
tâm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm phải đảm bảo lợi ích người tiêu dùng.
23
Trình độ dân trí ngày càng cao, đa dạng và sẽ là một thách thức đối với các
nhà sản xuất.
- Phân tích môi trường công nghệ
+ Đây là một nhân tố ảnh hưởng lớn, trực tiếp cho chiến lược kinh doanh
của các lĩnh vực, ngành cũng như nhiều doanh nghiệp. Thực tế trên thế giới
đã chứng kiến sự biến đổi công nghệ làm chao đảo, thậm chí mất đi nhiều lĩnh
vực, nhưng đồng thời cũng lại xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới, hoặc
hoàn thiện hơn.
+ Thế kỷ XX là thế kỷ của khoa học và công nghệ. Do đó, việc phân tích
và phán đoán biến đổi công nghệ là rất quan trọng và cấp bách hơn nào hết.
Những ví dụ thường được dẫn ra với sự xuất hiện của điện tử, tin học và công
nghệ sinh học. Thực tế, sự đổi mới công nghệ ảnh hưởng đến mọi doanh
nghiệp, thậm chí cả doanh nghiệp vừa và nhỏ.
+ Sự thay đổi công nghệ đương nhiên ảnh hưởng tới chu kỳ sống của
một sản phẩm hoặc một dịch vụ. Một chu kỳ lý thuyết bao gồm các pha: bắt
đầu, phát triển, chín muồi và tàn lụi. Thực tế đối với một số doanh nghiệp và
cũng là một số sản phẩm sẽ lại có giai đoạn phát triển mới sau giai đoạn tàn
lụi. Hơn nữa, sự thay đổi công nghệ cũng ảnh hưởng tới các phương pháp sản
xuất, nguyên vật liệu cũng như thái độ ứng xử của người lao động.
+ Từ đó đòi hỏi các nhà chiến lược phải thường xuyên quan tâm tới sự
thay đổi cùng những đầu tư cho tiến bộ công nghệ. Nếu như không quá sớm
để các doanh nghiệp chú ý đặc biệt đến môi trường công nghệ từ quan điểm
“Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của các nền kinh tế tri thức. Thời đại kinh tế tri thức
thay thế thời đại công nghệ”
- Môi trường sinh thái: Tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của

25
(xí nghiệp, công ty, hãng) mà xét, để đạt được bất kì mục đích nào của mình,
doanh nghiệp cần phải cân nhắc, lựa chọn những hình thức kinh doanh quốc tế
cho phù hợp. Sự lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp phụ thuộc vào mục đích
hoạt động của doanh nghiệp, vào môi trường và thị trường mà doanh nghiệp
đang hoạt động hoặc muốn thâm nhập. Các điều kiện môi trường kinh doanh
quốc tế không chỉ ảnh hưởng đến việc lựa chọn các hình thức kinh doanh, mà
còn ảnh hưởng đến các chức năng hoạt động của doanh nghiệp như chức năng
sản xuất, marketing, tài chính, kế toán Ngược lại, sự hoạt động của doanh
nghiệp kinh doanh quốc tế cũng có những tác động nhất định đối với môi trường
nhằm hoà nhập với những thay đổi của môi trường.
- Nhân tố tác động bên trong: Đây là các nhân tố tác động tùy thuộc vào
nỗ lực của chủ thể.
Sơ đồ 1.2. Các nhân tố tác động bên trong
+ Lực lượng lao động: Nhân lực là nguồn tài nguyên quan trọng nhất
của một tổ chức. Quản trị nguồn nhân lực có thể hiểu một cách khái quát bao
gồm các công tác tuyển mộ, sắp xếp, đào tạo và điều động nhân sự. Mục tiêu
Nhân tố bên trong
Cơ sở
vật
chất kỹ
thuật
tiến bộ
Vật tư
NVL hệ
thống
tổ chức
cung
cấp
NVL


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status