VIỆT NAM THAM GIA WTO VÀ CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO - Pdf 24

VIỆT NAM THAM GIA WTO VÀ CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG
MẠI TỰ DO (FTA):
Hàm ý đối với xuất khẩu hàng dệt may
(Báo cáo cuối cùng)
Người thực hiện: Nguyễn Anh Dương
Đặng Phương Dung
Báo cáo này thực hiện theo yêu cầu của Dự án “Hỗ trợ xúc tiến thương mại và
phát triển xuất khẩu tại Việt Nam – VIE/61/94”
Cục Xúc tiến thương mại
Bộ Công Thương
1
MỤC LỤC
Giới thiệu chung............................................................................................................................4
Cam kết thương mại của Việt Nam về dệt may trong các hiệp định thương mại........................5
Xuất khẩu hàng dệt may: Hiện trạng và triển vọng....................................................................15
Các vấn đề đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam.................................................................30
Kết luận và khuyến nghị..............................................................................................................36
Tài liệu tham khảo.......................................................................................................................43
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Thuế suất nhập khẩu ưu đãi tối huệ quốc của một số thị trường chính, 2006-2008....11
Bảng 2: Thuế nhập khẩu cam kết (trung bình) khi gia nhập WTO............................................12
Bảng 3: Tỷ lệ bảo hộ thực tế của các ngành dệt may (%)..........................................................14
Bảng 4: Tình hình xuất nhập khẩu hàng dệt may, 2000-2008....................................................16
Bảng 5: Trần thuế suất nhập khẩu cam kết cuối cùng của một số thị trường chính..................22
Bảng 6: Thuế suất (kết hợp) của Nhật Bản đối với hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam......22
Bảng 7: Bảng số liệu và dự báo tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu dệt may của Việt Nam
giai đoạn 2006-2013....................................................................................................................24
Bảng 8: Cân đối nhu cầu đối với một số nguyên phụ liệu dệt may trong giai đoạn 2005-2020
......................................................................................................................................................26
Bảng 9: Các mục tiêu cụ thể trong Chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may đến năm

xử lý được thách thức, các doanh nghiệp trước hết cần được cung cấp thông tin liên
quan đến sự phát triển của ngành.
Nghiên cứu này được thực hiện trước hết nhằm đưa ra những thông tin chung
và cơ bản nhất về các cam kết liên quan đến ngành dệt may của Việt Nam trong các
hiệp định thương mại. Cùng với việc trình bày một số đánh giá triển vọng và các vấn
đề, thách thức, nghiên cứu sẽ có một số khuyến nghị đối với Chính phủ, Hiệp hội Dệt
May Việt Nam, cũng như các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của ngành dệt
may. Nghiên cứu này được chuẩn bị chủ yếu cho các doanh nghiệp trong ngành dệt
may, mặc dù có thể sử dụng để tham khảo cho các đối tượng thuộc Chính phủ, Hiệp
hội Dệt May Việt Nam, và các cơ quan nghiên cứu khác.
Ngoài phần Giới thiệu, báo cáo còn có 04 phần. Phần II tóm tắt các cam kết
thương mại của Việt Nam trong ngành dệt may trong khung khổ WTO. Tiếp đó, phần
III đánh giá lại diễn biến và triển vọng phát triển của ngành dệt may Việt Nam, có tính
đến khả năng tiếp cận các thị trường xuất khẩu chính được thể hiện qua các hiệp định
thương mại. Phần III cũng nhìn nhận lại vai trò của Chính phủ và Hiệp hội Dệt May
Việt Nam trong công tác phát triển ngành dệt may nói chung và thúc đẩy xuất khẩu dệt
4
may nói riêng. Phần IV nêu lên những vấn đề và thách thức đối với xuất khẩu hàng dệt
may, nhìn từ góc độ các hiệp định thương mại. Cuối cùng, phần V rút ra một số kết
luận chính, và đưa ra những khuyến nghị đối với Chính phủ, Hiệp hội Dệt May Việt
Nam, và các doanh nghiệp trong ngành dệt may.
Cam kết thương mại của Việt Nam về dệt may trong các hiệp định thương
mại
A. WTO và các hiệp định có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngành dệt
may
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là tổ chức toàn cầu chuyên xử lý các vấn
đề liên quan đến quy định thương mại giữa các nền kinh tế. Hoạt động của WTO dựa
trên nền tảng các hiệp định được các thành viên đàm phán, ký kết và phê chuẩn. Mục
tiêu hoạt động của WTO là hỗ trợ hoạt động của các nhà sản xuất, xuất khẩu, và nhập
khẩu hàng hóa và dịch vụ thông qua việc giảm dần các rào cản đối với hoạt động trao

một sản phẩm, dịch vụ hay tài sản trí tuệ đã tham gia thị trường.
Thứ hai, khuyến khích tự do hóa thương mại một cách dần dần, thông qua đàm
phán. Giảm bớt rào cản thương mại (như thuế nhập khẩu, hạn ngạch, v.v.) là một trong
những biện pháp rõ nhất để khuyến khích thương mại. Kể từ khi GATT được đưa vào
từ năm 1947-1948 đã có 8 vòng đàm phán. Vòng đàm phán thứ 9 - dưới Chương trình
Nghị sự Phát triển Doha - đang được tiến hành. Trong giai đoạn đầu, những vòng đàm
phán tập trung vào giảm thuế quan đối với hàng nhập khẩu. Đến giữa thập kỷ 1990,
các nước công nghiệp đã giảm mức thuế quan đối với hàng công nghiệp xuống dưới
mức 4%. Kể từ những năm 1980, các vòng đàm phán cũng tập trung với những rào cản
phi thuế quan đối với thương mại hàng hóa, và những lĩnh vực khác như dịch vụ và sở
hữu trí tuệ. Quá trình mở cửa thị trường có thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng đòi
hỏi phải có những bước điều chỉnh. Các hiệp định WTO cho phép các nước thành viên
điều chỉnh dần theo hướng gia tăng tự do hóa.
1
Thứ ba, chính sách thương mại phải dễ tiên liệu, thông qua cam kết có hiệu lực
và minh bạch. Trên thực tế, cam kết không tăng rào cản thương mại có thể đóng vai trò
quan trọng như là giảm rào cản thương mại, vì cam kết ấy giúp các doanh nghiệp có
niềm tin hơn vào các cơ hội trong tương lai. Tính ổn định và dễ tiên liệu của chính
sách sẽ giúp khuyến khích đầu tư, tạo việc làm, trong khi người tiêu dùng lại được
hưởng lợi từ cạnh tranh (khiến hàng hóa đa dạng hơn và giá rẻ hơn). Chính hệ thống
thương mại đa phương thể hiện nỗ lực của các chính phủ trong việc xây dựng môi
trường kinh doanh ổn định và dễ tiên liệu hơn. Trong khung khổ của WTO, khi các
quốc gia đồng ý mở cửa thị trường hàng hóa hoặc dịch vụ, họ sẽ phải đưa ra những
cam kết có hiệu lực. Đối với thương mại hàng hóa, cam kết có hiệu lực có thể được thể
hiện dưới dạng trần thuế suất. Một quốc gia có thể thay đổi các cam kết có hiệu lực
này, với điều kiện phải đàm phán với các đối tác thương mại khác. Bên cạnh đó, hệ
thống WTO còn cải thiện tính ổn định và dễ tiên liệu thông qua việc không khuyến
khích sử dụng hạn ngạch, yêu cầu làm rõ và công khai các quy định thương mại.
1
Các nước đang phát triển thường được cho phép thực hiện trong một khoảng thời gian dài hơn.

hưởng đến hoạt động của ngành dệt may. Hiệp định này nhằm bảo đảm các quy định,
tiêu chuẩn, thủ tục kiểm định và chứng nhận không tạo ra những trở ngại không cần
thiết đối với thương mại, rõ ràng. Trong những năm gần đây, các quốc gia thành viên
đã áp dụng rất nhiều quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật, với lý do nhằm bảo đảm cho
hàng hóa đủ chất lượng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân bản xứ - vốn có
mức sống cao hơn - hoặc nhằm khuyến khích các xã hội hiện đại sử dụng các hàng hóa
thân thiện với môi trường. Tuy vậy, những lý do này thường được sử dụng để bào
7
chữa cho những rào cản kỹ thuật có tác động bóp méo quá mức cần thiết. Bản thân
việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của nước ngoài cũng gây ra những khoản chi phí
không nhỏ cho các nhà sản xuất và xuất khẩu, và làm giảm khả năng cạnh tranh của
hàng xuất khẩu.
Thứ ba, các quy định về xuất xứ của hàng hóa cũng có thể ảnh hưởng đến khả
năng thâm nhập thị trường của các sản phẩm dệt may. Các quy định này liên quan đến
các tiêu chí được sử dụng nhằm xác định xem sản phẩm được sản xuất ở đâu. Theo
Hiệp định về Quy định xuất xứ, các thành viên WTO phải bảo đảm các quy định xuất
xứ được ban hành và thực thi một cách minh bạch, mà không có tác dụng hạn chế, bóp
méo, hay gián đoạn đối với thương mại quốc tế, và được quản lý một cách thống nhất,
đầy đủ, và hợp lý. Về dài hạn, Hiệp định hướng tới sự hài hòa hóa các quy định về
xuất xứ của các nước thành viên WTO, ngoại trừ các quy định trong một số hiệp định
ưu đãi thương mại (như hiệp định thương mại tự do). Tất cả các quốc gia đều thừa
nhận rằng việc hài hòa hóa các quy định này sẽ góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế.
Các quy định về xuất xứ được sử dụng nhằm: thực hiện các biện pháp và công cụ
chính sách thương mại như thuế chống bán phá giá, các biện pháp tự vệ, v.v.; xác định
xem liệu sản phẩm nhập khẩu sẽ nhận được ưu đãi tối huệ quốc hay chỉ là ưu đãi
thương mại; thống kê thương mại; vận dụng các quy định về nhãn mác; và phục vụ cho
mua sắm chính phủ. Tuy vậy, các quy định này cũng có thể được vận dụng thiếu hợp
lý với mục đích bảo hộ. Chính vì vậy, Hiệp định về xuất xứ hàng hóa có thể ảnh hưởng
đến hoạt động của ngành dệt may.
Thứ tư, định giá hải quan cũng là một vấn đề cần được tính đến. Định giá hải

1994, theo Hiệp định về thỏa thuận đa sợi (MFA), hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may
được đàm phán song phương giữa các thành viên WTO, qua đó cho phép nhập khẩu
hàng dệt may không chịu điều chỉnh hoàn toàn của GATT. Trong giai đoạn 1995-2004,
Hiệp định ATC được thực hiện với vai trò là một công cụ chuyển đổi, giúp đưa các sản
phẩm dệt may trở lại quy trình tự do hóa theo GATT 1994. Kể từ 01/01/2005, hàng dệt
may xuất khẩu từ một nước thành viên WTO sang một nước thành viên khác sẽ không
còn chịu hạn ngạch nữa. Như vậy, với việc gia nhập WTO, Việt Nam sẽ không còn
gặp phải vấn đề hạn ngạch khi xuất khẩu hàng dệt may nữa. Điều này giúp Việt Nam
có nền tảng cạnh tranh công bằng hơn, ít nhất là về mặt pháp lý, với các nước sản xuất
hàng dệt may khác như Ấn Độ, Băng-la-đét, Trung Quốc, v.v.
Ngoài ra, hoạt động xuất nhập khẩu hàng dệt may cũng chịu điều chỉnh của các
quy định khác trong khung khổ của WTO như xử lý tranh chấp, tự vệ. Nếu cho rằng
một đối tác thành viên khác vi phạm các quy định về thương mại của WTO, các nước
có thể vận dụng cơ chế xử lý tranh chấp ở cấp độ đa phương, thay vì đơn phương thực
hiện các biện pháp đáp trả. Kể từ vòng đàm phán Uruguay, quá trình xử lý tranh chấp
đã được tổ chức tốt hơn, với các bước được quy định rõ ràng. Quy định về thời hạn xử
lý tranh chấp cũng rõ ràng hơn, trong khi thời gian của các bước lại linh hoạt.
3
Mặc dù
vậy, các quốc gia liên quan cũng có thể tự đàm phán và xử lý tranh chấp. Cơ chế tự vệ
cũng cho phép vận dụng những bảo hộ khẩn cấp đối với hàng nhập khẩu. Khi ấy, một
thành viên WTO có thể tạm thời hạn chế nhập khẩu một loại hàng hóa nào đó nếu
ngành công nghiệp trong nước bị tổn thương hoặc bị đe dọa do nhập khẩu hàng hóa ấy
gia tăng. Tuy nhiên, các biện pháp này ít được sử dụng, vì các chính phủ thường ưu
tiên đàm phán song phương nhằm thuyết phục các nước đối tác tự nguyện hạn chế xuất
khẩu.
3
Quá trình xử lý tranh chấp có thể được đẩy nhanh nếu cần thiết.
9
Ngoài các hiệp định trong khung khổ WTO, các hiệp định thương mại tự do

Chương 63 Các mặt hàng dệt đã hoàn thiện khác; bộ vải; quần áo dệt cũ và các loại hàng
dệt cũ khác; vải vụn.
Bảng 1 trình bày mức thuế suất ưu đãi tối huệ quốc của một số thị trường chính
đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2008. Giai đoạn
10
2006-2008 được chọn nhằm giúp so sánh mức thuế nhập khẩu ưu đãi tối huệ quốc
trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Bảng 1: Thuế suất nhập khẩu ưu đãi tối huệ quốc của một số thị trường chính,
2006-2008
Đơn vị tính: %
Chươn
g HS
Cộng đồng châu Âu Nhật Bản Hoa Kỳ
2006 2007 2008 2006 2007 2008 2006 2007 2008
50 4,98 5,18 5,18 6,03 6,95 6,03 0,92 0,92 0,92
51 4,00 4,00 4,00 2,74 2,74 2,74 6,68 6,68 6,68
52 6,42 6,36 6,36 5,84 5,81 5,81 8,56 8,56 8,56
53 2,86 3,33 3,33 3,49 4,21 4,21 1,66 1,99 1,99
54 5,95 5,96 5,96 6,10 6,09 6,09 10,16 10,01 10,01
55 6,49 6,43 6,43 6,71 6,65 6,65 10,99 10,82 10,82
56 6,10 6,10 6,10 3,60 3,60 3,60 4,26 4,26 4,26
57 7,56 7,59 7,59 6,66 6,62 6,62 3,02 3,02 3,02
58 7,29 7,28 7,28 5,88 5,88 5,88 6,96 6,96 6,96
59 6,30 6,30 6,30 3,94 3,94 3,94 3,10 3,10 3,10
60 7,95 7,95 7,95 6,99 6,98 6,98 10,10 10,10 10,10
61 11,62 11,60 11,60 9,18 9,06 9,06 11,58 11,80 11,80
62 11,56 11,56 11,56 9,42 9,43 9,43 10,11 10,11 10,11
63 9,90 9,77 9,77 6,10 6,01 6,01 6,72 6,79 6,79
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu của WTO.
Có thể thấy mức thuế nhập khẩu ưu đãi tối huệ quốc trong khung khổ WTO ở

Nam tham gia đàm phán và thực thi các cam kết tự do hóa thương mại ngày một sâu
rộng hơn.
Như đã trình bày ở trên, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng đã tham ký kết
các hiệp định khác như VJCEP, AANZFTA, AJCEP. Chính những hiệp định này cho
thấy doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể sẽ nhận được tiếp cận thị trường tốt hơn.
Nghĩa vụ
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng phải thực hiện các cam kết trong lĩnh vực dệt may.
Thứ nhất, hàng rào bảo hộ dệt may trong nước không còn. Trước khi gia nhập WTO,
thuế nhập khẩu hàng may mặc vào Việt Nam là 50%, thuế nhập khẩu vải là 40%, thuế
nhập khẩu sợi là 20% thì khi vào WTO, tất cả phải giảm xuống 2/3 cho hợp với khung
của thế giới. Do vậy vải Trung Quốc sẽ tràn vào nước ta vì lúc nước sẽ phải cạnh tranh
với vải Trung Quốc nhập khẩu.
Thứ hai, nguồn lao động chắc chắn sẽ bị chia sẻ, giá lao động sẽ tăng lên, cạnh
tranh trong việc thu hút lao động cũng sẽ gay gắt hơn. Thứ ba, sẽ có rất nhiều nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này, do vậy, sức ép cạnh tranh đối với các doanh
nghiệp Việt Nam sẽ tăng lên.
Bảng 2: Thuế nhập khẩu cam kết (trung bình) khi gia nhập WTO
Đơn vị tính: %
Chương HS Trần thuế suất khi gia nhập Trần thuế suất cuối cùng
50 9,77 9,77
4
Từ 2005, trong khung khổ WTO, hạn ngạch đã được bãi bỏ đối với hàng dệt may. EU cũng bãi bỏ
hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt Nam ngay từ thời điểm này.
12
51 7,73 7,73
52 9,50 9,50
53 5,66 5,66
54 9,05 9,05
55 8,77 8,77
56 10,32 10,32

Đây không phải là vấn đề lớn vì Việt Nam chỉ áp dụng hạn ngạch thuế quan với một số ít các mặt
hàng (gần đây nhất là 6 nhóm mặt hàng: trứng gà; trứng vịt; trứng gia cầm loại khác; thuốc lá nguyên
liệu; muối; đường tinh luyện và đường thô; theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BCT ngày 28/12/2007
của Bộ Công Thương).
13
Bảng 3: Tỷ lệ bảo hộ thực tế của các ngành dệt may (%)
2006 2007 2008 2009 2010 2015 2020
Dệt may 124,71 34,06 34,74 35,28 35,61 33,31 28,59
Sợi 4,00 -4,97 -4,46 -4,06 -3,81 -3,10 -2,66
Quần áo 135,70 58,02 58,44 57,72 57,48 58,26 57,83
Thảm dệt 56,00 25,02 25,22 25,38 25,47 19,81 20,32
Sản phẩm thêu ren (ngoại trừ thảm) 62,33 17,44 17,69 17,90 18,05 16,03 16,31
Nguồn: Phạm Văn Hà (2007).
Hộp 2: Tác động của thuế nhập khẩu và hàm ý từ tự do hóa thương mại
Thuế nhập khẩu khiến các sản phẩm dệt may từ nhập khẩu sẽ được bán trong
nước với giá cao hơn. Do đó, các sản phẩm dệt may tương tự trong nước cũng sẽ có giá
bán cao hơn, và các doanh nghiệp trong nước được nhiều giá trị gia tăng hơn. Tính
toán trong Bảng 3 cho thấy hầu hết các sản phẩm dệt may (trừ sợi) đều có nhiều giá trị
gia tăng hơn trong trường hợp có thuế nhập khẩu. Nói cách khác, giảm dần mức thuế
nhập khẩu sẽ làm giảm giá trị gia tăng của các doanh nghiệp trong ngành nếu các
doanh nghiệp này không nâng cao khả năng cạnh tranh và hàm lượng giá trị gia tăng
(thông qua việc thực hiện các công đoạn khác trong chuỗi giá trị như marketing, thiết
kế mẫu mã, v.v.).
Như đã trình bày ở trên, việc Việt Nam tham gia một loạt các FTA - chủ yếu ở
cấp đa phương trong khung khổ của ASEAN - cũng có những ảnh hưởng đến ngành
dệt may. Trong các hiệp định này, những cam kết của Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp
nhất đến ngành dệt may là cam kết thuế quan.
Theo Quyết định số 36/2008/QĐ-BTC ngày 12/06/2008 về việc ban hành biểu
thuế nhập khẩu ưu đãi theo Hiệp định về chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực
chung (CEPT) trong giai đoạn 2008-2013, các mức thuế suất mà Việt Nam dành cho

từ năm 2002 trở lại đây khi Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ
có hiệu lực. Chỉ riêng trong năm 2002, giá trị xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường
Hoa Kỳ đã tăng hơn 21 lần lên hơn 950 triệu USD, so với mức 45 triệu USD của năm
2001. Kể từ năm 2002 đến nay, xuất khẩu của hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ
cũng luôn tăng trưởng nhanh, đạt mức gần 2 tỷ USD vào năm 2003, và 3,8 tỷ USD vào
năm 2007.
Tỷ trọng của thị trường Hoa Kỳ trong tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may của
Việt Nam cũng tăng tương ứng, từ mức xấp xỉ 34,6% vào năm 2002 lên gần 50,7% vào
năm 2007. Các thị trường chủ yếu khác của hàng dệt may Việt Nam là EU và Nhật
Bản. Thị trường EU có mức tăng khá ổn định, từ mức 225 triệu USD vào năm 1996 lên
1,5 tỷ USD vào năm 2007. Trong khi đó, xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản có
diễn biến phức tạp hơn, mặc dù vẫn thể hiện xu hướng tăng: giá trị xuất khẩu tăng từ
gần 250 triệu USD lên 620 triệu USD vào năm 2000, sau đó giảm liên tục xuống còn
514 triệu USD vào năm 2003 trước khi tăng liên tục lên 800 triệu USD vào năm 2007.
15
Chỉ riêng ba thị trường này đã chiếm hơn 81% giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt
Nam, mặc dù đã giảm so với mức đỉnh điểm gần 85,9% vào năm 2004.
Mở rộng tiếp cận thị trường xuất khẩu của ngành dệt may cũng góp phần tạo
điều kiện cho ngành dệt may không ngừng lớn mạnh. Trong giai đoạn 2000-2006,
ngành dệt may Việt Nam đã tạo thêm việc làm cho khoảng 600.000 lao động.
6
Tính
theo giá so sánh (năm 1994), trong giai đoạn 2000-2008, giá trị sản xuất của ngành dệt
đã tăng gần 2,7 lần, từ gần 10.040 tỷ đồng lên hơn 26.950 tỷ đồng. Ngành may mặc
thậm chí còn đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, từ mức 6.040 tỷ đồng lên gần
26.620 tỷ đồng (cũng theo giá so sánh năm 1994) trong cùng giai đoạn.
Tuy nhiên, nguyên phụ liệu phục vụ cho ngành may mặc chủ yếu là từ nguồn
nhập khẩu. Trong khi đó, ngành dệt hầu như chưa đáp ứng được đủ yêu cầu (cả về số
lượng và chất lượng) cho ngành may. Nói cách khác, mối liên kết giữa ngành dệt và
ngành may mặc còn chưa thật sự chặt chẽ.

Tham khảo thêm nghiên cứu của Võ Trí Thành, Trịnh Quang Long, và Đinh Hiền Minh (2004).
16
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm giảm đáng kể
nhu cầu đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều biện pháp
điều chỉnh, nhưng việc thực hiện mục tiêu xuất khẩu 9,5 tỷ USD trong năm 2009 của
các doanh nghiệp dệt may dường như là rất khó khăn.
Tại thị trường Hoa Kỳ - thị trường lớn nhất với tỷ trọng trên 55% trong giá trị
xuất khẩu dệt may - các doanh nghiệp đã nỗ lực phối hợp với các nhà nhập khẩu trong
việc xác định lại cơ cấu giá cả hợp lý trên cơ sở vẫn giữ vững chất lượng sản phẩm và
dịch vụ. Nhờ đó trong năm 2008, hàng dệt may Việt Nam đạt kim ngạch vào Hoa Kỳ
trên 5,1 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2007. Trong 9 tháng đầu năm 2009, nhập khẩu
hàng dệt may của Hoa Kỳ giảm đến 12,7% và hàng nhập từ hầu hết các nước sản xuất
chính đều giảm (từ Hồng Kông giảm 21%, từ In-đô-nê-xi-a giảm 2,9%, từ Thái Lan
giảm 25,6%, từ Ấn Độ giảm 7,7%). Tuy nhiên, hàng dệt may Việt Nam xuất vào thị
trường này vẫn tăng 18% về lượng và chỉ giảm 4,5% về giá trị.
Tại thị trường châu Âu - chiếm khoảng 20% giá trị xuất khẩu dệt may, các
doanh nghiệp đã cải thiện chất lượng và mở rộng dịch vụ hỗ trợ cho nhà nhập khẩu
cũng như tuân thủ quy chế mới về an toàn cho người tiêu dùng. Nhờ đó, giá trị xuất
khẩu 9 tháng đầu năm 2009 đạt xấp xỉ 1,25 tỷ USD, chỉ giảm 3,5% trong điều kiện
nhập khẩu chung vào thị trường này giảm hơn 11% so với cùng kỳ năm trước.
Tại thị trường Nhật Bản - thị trường lớn thứ ba của ngành dệt may Việt Nam,
thông qua VJEPA, các doanh nghiệp đã tăng cường hoạt động xúc tiến hợp tác đầu tư,
thương mại với đối tác Nhật Bản. Nhờ đó kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này
không ngừng tăng trưởng (năm 2008 tăng 12% và 9 tháng đầu năm 2009 tăng 15,3 %).
Đây là kết quả đáng ghi nhận trong điều kiện nền kinh tế Nhật Bản cũng bị suy giảm
nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp đã có nhiều nỗ lực để xúc tiến các thị trường mới.
Trong 9 tháng đầu năm 2009, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Hàn Quốc đã tăng
50%, vào Ảrập Xeut tăng 23%, vào Thụy Sĩ tăng 12,7%, vào các nước ASEAN tăng
7,8%, v.v.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status