Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của việt nam áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông nhuệ đáy đối chiếu kết quả đánh giá chấ - Pdf 13

TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG

Chuyên đề

ĐỐI CHIẾU KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
THEO BỘ CHỈ THỊ SINH HỌC VỚI CÁC KẾT QUẢ ĐÁNH
GIÁ TỪ CÁC CHƯƠNG TRÌNH, ĐỀ TÀI KHÁC ĐÃ CÓ Người thực hiện: Dương Thị Phương Nga
5.3. Động vật nổi 11
II. Đánh giá chất lượng nước theo bộ chỉ thị sinh học khi áp dụng thử
nghiệm quan trắc trên lưu vực sông Nhuệ Đáy năm 2009 13
KẾT LUẬN 15

3
MỞ ĐẦU

Vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và vấn đề ô nhiễm môi trường
nước nói riêng đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Vận dụng sáng
tạo và phát triển các ý tưởng từ các nghiên cứu quốc tế, kết hợp với những
kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn trong điều kiện môi trường nước ta, việc
nghiên cứu sử dụng sinh vật chỉ thị
để đánh giá chất lượng môi trường nước
cũng đã được tiến hành trong các năm gần đây và đạt được 1 số thành tựu
nhất định.
Việc áp dụng phương pháp sinh học trong đánh giá chất lượng nước
ngày nay đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm và áp dụng. Tuy nhiên,
sử dụng các chỉ thị sinh vật để quan trắc, đánh giá chất lượng môi trường
nước còn chưa đượ
c áp dụng nhiều ở nước ta. Hiện nay chưa có những tiêu
chuẩn sinh học cụ thể hay các chỉ số sinh học đánh giá chất lượng nguồn
nước mặt.
Cần phải có những nghiên cứu trên nhiều khu vực để xây dựng một hệ

đã biết trước đây về các thủy vực có nước thải vùng hà nội, Nguyễn Xuân
quýnh đã đề xuất mộ
t hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn các thủy vực có nước
thải ở Hà Nội dựa trên 1 số tiêu chí cơ bản về sinh học kèm theo những chỉ
tiêu lý hóa học quy định sự có mặt hay vắng mặt 1 số loài hay nhóm loài
ĐVKXS, được coi như SVCT, quy định số lượng và khối lượng của chungs
ở những mức độ khác nhau. ĐVKXS thông qua các giá trị về sinh vật lượng,
sự khác nhau về tính đa dạ
ng, mức độ phong phú về thành phần loài…chỉ thị
tốt cho mức độ ô nhiễm các thủy vực trong mối tươgn quan nghịch. Tác giả
cũng đưa ra 1 số nhận xét về mối liên quan giữa các mức độ ô nhiễm của
thủy vực với 1 số chỉ tiêu thủy lý hóa học và sinh học như sau:
- Mức độ ô nhiễm bẩn của thủy vực tăng lên, các giá trị BOD, COD
tăng, hàm lượ
ng oxy hòa tan giảm xuống, đồng thời thành phân loài
và số lượng ĐVKXS giảm theo.
- Ở các thủy vực bẩn ít, hàm lượng oxy hòa tan cao, COD và BOD còn
thấp, thủy vực ở trong tình trạng giàu dinh dưỡng vừa phải, tạo điều
kiện cho ĐVKXS phát triển tốt nhất, đặc biệt là sinh vật lượng.

5
Ở các thủy vực đã bị nhiễm bẩn nặng, trong thành phần động vật nổi,
Rotatoria bao giờ cũng chiếm ưu thế so với giáp xác nổi. Giáp xác nổi giảm
sút nhiều ở thủy vực bẩn vừa loại α và hầu như mất hẳn ở các thủy vực rất
bẩn. trong thành phần động vật đáy, ấu trùng Chironomidae chiếm ưu thế so
v
ới Oligochaeta ở thủy vực ít bẩn. Ở thủy vực bẩn vừa Oligochaeta và
Chironomidae thay phiên nhau giữ vai trò ưu thế. Nhưng ở thủy vực bẩn vừa
loại α Oligochaeta luôn chiếm ưu thế, còn ở thủy vực rất bẩn đã không còn
gặp ấu trùng Mollusca và Chironomidae.

- Các quần xã sinh vật phản ứng với chất lượng nước khác nhau ở 1
phạm vi rộng do các yếu tố xác định và những chất ô nhiễm. Quan trắc hóa
học phụ thuộc vào sự hiểu biết chất ô nhiễm đang có m
ặt thuộc dạng hóa
học nào. Với sự phức tạp của ngành công nghiệp ngày càng tăng lên thì khó
khăn này trở nên nhiều hơn.
- Những quần xã sinh vật có khả năng hợp nhất những ảnh hưởng của
các chất độc tổng hợp. Số liệu hóa học sẽ rất cần đến nó để tính toán những
tác động qua lại và để sự đoán ảnh hưởng của ch
ất độc lên khu hệ sinh vật.
2. Nghiên cứu sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá
chất lượng nước trên 4 hệ thống kênh chính tạo thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu do Trương Thanh Cảnh, Ngô Thị Trâm Anh, thuộc trường Đại
Học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM thực hiện trong năm 2006
2.1. Nội dung nghiên cứu:
Trong nghiên cứu này đã khảo sát thành phần động vật không xương
sống (ĐVKXS) cỡ lớn của 4 hệ thống kênh chính của TP. Hồ Chí Minh
nhằm bước đầu góp phần xây dựng hệ thống chỉ thị sinh học đánh giá chất
lượng nước mặt trên TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện
được 28 họ ĐVKXS cỡ lớn. Dùng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước
của 4 hệ thống kênh cho thấy nước kênh bị ô nhiễ
m từ mức độ trung bình
đến rất bẩn. Kết quả này phù hợp với việc đánh giá chất lượng nước mặt
thông qua các chỉ tiêu lý hoá.
Các công việc nghiên cứu:
- Khảo sát thành phần và số lượng ĐVKXS cỡ lớn
- Đánh giá chất lượng nước bằng chỉ số ASPT
- Đánh giá mối tương quan giữa các chỉ tiêu môi trường nước mặt và
ĐVKXS cỡ lớn


8
Kết quả đánh giá chất lượng nước dựa vào chỉ thị ĐVKXS cỡ lớn cho
kết quả tương ứng khi đánh giá chất lượng nước dựa vào các chỉ tiêu lý hoá.
Điều này cho thấy có thể sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để làm chỉ thị đánh giá
chất lượng nước trong 4 hệ thống kênh chính của TP. Hồ Chí Minh.
- Hầu hết các kênh chính tại TP. Hồ Chí Minh đều bị
ô nhiễm nặng,
nhất là kênh Nhiêu Lộc -Thị Nghè.
- Nghiên cứu đã phát hiện có 28 họ ĐVKXS cỡ lớn: 19 họ thuộc 08
bộ của ngành Chân khớp (Arthropoda), 7 họ thuộc 02 lớp của ngành Thân
mềm (Mollusca), 1 họ thuộc phân lớp Đỉa (Hirudinea) và 1 họ thuộc ngành
Giun dẹp (Platythelminthes).
- Sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để đánh giá chất lượng nước cho thấy hầu
hết các hệ thố
ng kênh chính của Tp.Hồ Chí Minh đều bị ô nhiễm. Mức độ ô
nhiễm từ trung bình đến rất bẩn. Đánh giá này trùng hợp với phương pháp
đánh giá bằng các tiêu chuẩn lý hoá.
- Nghiên cứu cho thấy có thể dùng chỉ thị sinh học ĐVKXS cỡ lớn để
đánh giá mức đô ô nhiễm của các nguồn nước mặt tại TP. Hồ Chí Minh. Đây
là phương pháp có nhiều ưu điểm góp phần đa dạng hoá các phươ
ng pháp
đánh giá chất lượng nguồn nước mặt.
3. Sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn đánh giá chất lượng nước
Nghiên cứu này tiến hành ở Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà
Nẵng nhằm nghiên cứu thành phần động vật không xương sống (ĐVKXS)
cỡ lớn tại cánh đồng Xuân Thiều, phường Hòa Hiệp, quận Liên Chiểu, TP.
Đà Nẵng, nhằm đánh giá chất lượng nước mặt tại các khu vực nghiên cứu
thông qua chỉ số BMWP
VIET
và chỉ số ASPT:

thấp hơn và phần trăm bão hòa oxy trong nước mùa mưa cao hơn mùa khô.
Nồng độ chất hữu cơ mùa mưa như BOD
5
cao hơn rõ rệt so với mùa khô. 19
thông số lý hóa đặc trưng được lựa chọn để đánh giá chất lượng môi trường
nước sông Đu.
Trong 7 đợt quan trắc, nhóm nghiên cứu đã thu thập 70 taxa động vật
không xương sống cỡ lớn đáy sông Đu, nhiều nhất là nhóm côn trùng (48
taxa). Nhưng quan trọng nhất là họ đã xác định được mối quan hệ mật thiết
giữa đa dạng sinh học với các thông s
ố về lưu lượng nước, chỉ tiêu lý hóa
trong nước tại các điểm quan trắc. Kết quả quan trắc cho thấy, quần thể đa
dạng sinh học đáy sông Đu phong phú vào mùa mưa, đặc biệt ở thượng
nguồn. Dựa vào đa dạng sinh học quần xã động vật không xương sống cỡ
lớn trên sông Đu có thể phân loại chất lượng môi trường tại các điểm nghiên
c
ứu. Nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố lý hóa học trong nước có liên
quan mật thiết đến phân loại dựa trên quan trắc sinh học(đối với mùa mưa là

10
nồng độ kim loại nặng, hàm lượng N-NO
2
trong nước, mùa khô là hàm
lượng P-PO
4
trong nước và hàm lượng Ni tơ trong trầm tích).
5. Nghiên cứu thành phần sinh vật nổi tại các thủy vực trên địa bàn
huyện Gia Lâm do Ngô Thành Trung, Nguyễn Thanh Hà, Lê Mạnh Dũng -
Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nông nghiệp
5.1. Các chỉ tiêu thủy lý-thủy hóa

khuẩn lam - Cyanobacteria, nhóm Tảo lục -
Chlorophyta, nhóm Tảo silic - Bacillariophyta và
nhóm Tảo mắt -
Euglenophyta, gồm tổng số 28
loài thuộc 12 họ. Trong đó phong phú
nhất là
nhóm Vi khuẩn lam với 9 loài. Các thủy vực ao,
hồ, đầm có thành
phần loài thực vật nổi phong phú hơn (25 loài) so với ruộng trũng (18
loài).
Trong đó, xuất hiện nhiều loài Tảo mắt với mức
độ gặp cao (50 -
75% mẫu) chứng tỏ các thủy
vực có dấu hiệu bị ô nhiễm.
5.3. Động vật nổi
Thành phần động vật nổi có tại các ao
nghiên cứu khá phong phú,
có 36 loài trong 13 họ thuộc 3 nhóm: Copepoda, Cladocera và

11
Rotatoria. Trong ba nhóm thì Rotatoria chiếm
thành phần lớn nhất, có 15
loài chiếm 41,7%,
Cladocera có 13 loài chiếm 36,1% và Copepoda chiếm
thành phần thấp nhất, có 8 loài chiếm 22,2%.
Đặc biệt có sự khác biệt về sự có mặt của
các loài động vật nổi tại
thủy vực ao, hồ đầm và
ruộng trũng. Kết quả điều tra cho thấy ở ao, hồ,
đầm có 31 loài trong khi đó ruộng trũng chỉ có

động vật nổi chỉ sống được trong môi trường
giàu dưỡng, chứng tỏ các
thủy vực tại địa bàn
nghiên cứu là nghèo dưỡng. Thành phần loài
trong
ao, hồ, đầm với 31 loài là phong phú hơn
so với ruộng trũng, chỉ có 25 loài.
Mật độ và sinh
khối động vật nổi tương đối thấp
(53.309 -62.853 con/
3

tương ứng với 3,06 - 3,71g/m
3
). Hai
chỉ tiêu này vào mùa mưa cao hơn mùa
khô và
trong ao, hồ, đầm cao hơn so với ruộng trũng.

Mật độ và sinh khối
Tương ứng với mật độ, sinh khối trung bình của nhóm động vật nổi tại
các loại hình thủy vực ao, hồ, đầm tại ba xã nghiên cứu cũng tương đối
thấp:

12
ở Đông Dư là 3,06 g/m
3
, ở xã Đặng Xá là
3,71 g/m
3

o
C) thấp hơn so
với TCCP. Các chỉ tiêu muối hoà tan, như muối
niơ NH
4+
(0,63 - 0,97 mg/l), muối phosphate
PO
43-
(0,32 - 0,45 mg/l) đều
hơi thấp hơn so với
TCCP, COD chỉ đạt 8,25 - 9,67mg/l chứng tỏ
các thuỷ vực tại địa bàn nghiên cứu là tương đối nghèo dưỡng. Các chỉ tiêu
về hàm lượng Fe tổng
số, khí độc H
2
S đều cao hơn so với tiêu chuẩn
(tuy không nhiều) song điều đó chứng tỏ các
thuỷ vực đã có nguy cơ bị
ô nhiễm, đặc biệt khu
vực xã Đông Dư đại diện cho vùng đê Sông
Hồng của huyện Gia Lâm. 13
II. Đánh giá chất lượng nước theo bộ chỉ thị sinh học khi áp dụng thử
nghiệm quan trắc trên lưu vực sông Nhuệ Đáy năm 2009 do Trung tâm
Quan trắc môi trường thực hiện
Khi áp dụng thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học cho quan trắc lưu vực
sông Nhuệ-Đáy, căn cứ vào các kết quả thu thập được nhận thấy 1 số đặc
điểm các số liệ

trắc khác nhau dẫn đến sai khác với những điểm quan trắc khác có thế không
do tác động của con người. Vì vậy cần có sự xem xét đánh giá toàn diện, đối
chiếu giữa các kết quả đạt được với chuỗi số liệu của những công trình
nghiên cứu trong vùng có nội dung tương tự làm cơ sở đối chiếu.

15
KẾT LUẬN

Dù có ô nhiễm hay không thì sự khác nhau về vật lý cũng như hóa học
giữa các con sông đều có thể ảnh hưởng len quần xã sinh vật đáy. Các
nghiên cứu trước đây đã cho thấy hệ thống tính điểm BMWP và ASPT có
thể khác nhau đáng kể giữa 2 con sông kề nhau có chất lượng nước giống
nhau nhưng khác nhau về đặc điểm vật lý. Những biến đổi được thừa nh
ận
là có tác động đến các quần xã động vật không xương sống cỡ lớn gồm kinh
độ, vĩ độ, độ dốc, độ cao, khoảng cách từ nguồn, chiều rộng và độ sâu trung
bình, nền đáy và độ kiềm.
Ở Việt Nam mặc dù việc nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễmcác
thủy vực đã được quan tâm từ lâu, nhưng cho đến năm 1995 hầu như vẫn
chưa có hệ
thống phân loại độ nhiễm bẩn các thủy vực. Các chỉ tiêu trong
các thang bậc phân loại độ ô nhiễm được tham khảo để áp dụng nghiên cứu
trong nước ta đều là các dẫn liệu được nghiên cứu ở vùng ôn đới, hoàn toàn
khác với điều kiện tự nhiên, đặc tính sinh học ở các thủy vực nước ta.
Giám sát chất lượng nước bằng bộ chỉ thị sinh học có thể phát hiện ra
những biế
n đổi sinh thái chỉ thị sự thay đổi chất lượng nước, nhưng không
biết đươc nguyên nhân rõ ràng của sự thay đổi đó. Chỉ biết được nguyên
nhân đó qua phân tích hóa học. Do đó cần tiến hành cả 2 phương pháp cùng
lúc. Để kết quả khảo sát sinh học chính xác cần phải tuần thủ đúng yêu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status