Lời nói đầu
Trong thế giới tự nhiên, xã hội loài ngời là một hình thức tổ chức cao
nhất, trong đó con ngời luôn đóng vai trò là nhân tố trung tâm của mọi hoạt
động diễn ra trong xã hội và mọi hoạt động đó cũng không nằm ngoài mục
đích nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con ngời. Để có đợc những
thành tựu to lớn trên mọi phơng diện của đời sống con ngời nh ngày hôm
nay, con ngời đã không ngừng phấn đấu, tìm tòi học hỏi và nhận thức ngày
càng sâu sắc hơn thực tại khách quan nhằm cải thiện môi trờng sống và
hoàn thiện chính bản thân mình.
Mỗi con ngời tồn tại đợc một cách bình thờng trong xã hội đều cần
phải duy trì hai yếu tố cơ bản nhất, đó là trí lực và thể lực; trong đó yếu tố
này là tiền đề cho yếu tố kia phát triển và không tách rời nhau trong toàn bộ
đời sống con ngời. Muốn có đợc thể lực tốt nhất, con ngời phải luôn biết
cách chăm sóc sức khoẻ cho chính mình: khi khoẻ mạnh phải giữ gìn sức
khoẻ và khi ốm đau phải chạy chữa. Điều này dẫn đến các hoạt động y tế
dần nẩy sinh và không thể thiếu đợc trong đời sống con ngời khi hiểm họa
bệnh tật ngày một nhiều.
Do đó, với mục tiêu phát triển toàn diện con ngời, Đảng và Nhà nớc
ta luôn coi trọng sự nghiệp y tế là một trong những sự nghiệp quan trọng
nhất, thiết yếu nhất trong đời sống kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy các
lĩnh vực khác phát triển đi lên. Theo đó mục tiêu phát triển sự nghiệp y tế
chỉ có thể do nhà nớc quản lý và bảo đảm bằng quỹ tài chính lớn nhất, tập
trung nhất của nền kinh tế quốc dân, đó là Ngân sách Nhà nớc. Vì vậy, để
đạt đợc kết quả cao nhất trong sự nghiệp y tế ( chăm sóc sức khoẻ, khám
chữa bệnh cho nhân dân) thì nâng cao chất lợng các hoạt động y tế thông
qua quản lý chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp này là yêu cầu cấp bách
đặt ra trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay và trong tơng lai.
Hơn nữa, để ngời dân đợc trực tiếp hởng thụ các dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ, khám chữa bệnh do Nhà nớc cung cấp, định hớng phát triển thì chất l-
ợng các hoạt động y tế tuyến cơ sở có tính chất quyết định và hiện thực nhất
với phơng châm Nhà nớc và nhân dân cùng làm.
nhất của con ngời, khác xa với các hoạt động khác có trong thế giới tự
nhiên ở chỗ con ngời nhận thức đợc thực tại khách quan và các quy luật tự
nhiên. Để phát triển kinh tế xã hội thì yếu tố quyết định phải chính là
con ngời và mục tiêu của phát triển kinh tế xã hội phải hớng tới duy trì
sự tồn tại, phát triển của con ngời. Muốn vậy, con ngời phải có đợc một thể
lực và trí lực thích hợp nhất, trong đó thể lực lại là tiền đề cho tạo ra và
nâng cao trí lực.
Thể lực thể hiện sự ngày càng thích nghi với môi trờng sống của con
ngời và chính con ngời lại tự nhận thức, biết nâng cao thể lực thông qua các
hoạt động y tế của mình. Các hoạt động y tế với mục tiêu chăm sóc sức
khoẻ và bảo vệ con ngời trớc những tác động tiêu cực của môi trờng sống.
Khi có đợc sức khoẻ tốt nhất, con ngời có điều kiện để tiếp thu và phát triển
trí thức cho mình nhằm xây dựng, nâng cao chất lợng cuộc sống của mình
ngày càng tốt hơn.
Các hoạt động y tế là phần không thể thiếu đợc trong xã hội loài ng-
ời, con ngời luôn luôn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ không những của bản
thân mà của cả gia đình mình. Không một ai lại sống mà luôn luôn khoẻ
mạnh cả bởi sự thay đổi thờng xuyên của môi trờng sống cùng với sự vận
động của thế giới tự nhiên. Các hoạt động y tế mà con ngời sáng tạo ra cũng
chính nhằm mục đích điều hoà những tác động không tốt của môi trờng
sống tới con ngời.
Do đó, các hoạt động y tế là không thể thiếu đợc trong đời sống con
ngời. Tuy mỗi con ngời có cuộc sống khác nhau nhng các hoạt động y tế lại
đóng vai trò tác động chung tới từng ngời nhằm duy trì và phát triển giống
nòi. Qua những tác động to lớn của y tế tới đời sống con ngời nh vậy cho
nên mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội cần phải chú
3
trọng và lấy mục tiêu chăm sóc sức khoẻ cho con ngời làm gốc, định hớng
cho các chơng trình kinh tế xã hội khác vì một mục tiêu chung là phát
triển bền vững. Điều này cũng đợc thể hiện xuyên suốt trong đờng lối xây
để ngăn chặn các đại dịch xảy ra. Các nhu cầu đợc xác định bởi Chính phủ
nhằm góp phần đẩy lùi các đợt dịch bệnh lây lan hay phòng ngừa những
bệnh dễ mắc phải trong dân c.
4
Từ việc định hớng xác định nhu cầu về các dịch vụ y tế mà trong quá
trình quản lý, Nhà nớc sẽ có kế hoạch và thực thi các chơng trình mục tiêu
để đảm bảo sức khoẻ cộng đồng và hơn hết là gây dựng đợc sự tin tởng vào
bộ máy Nhà nớc, hệ thống chính trị.
Tìm hiểu về thị trờng dịch vụ y tế
Xuất phát từ nhu cầu các dịch vụ y tế của con ngời và các nhu cầu
này lại có khả năng chi trả từ phía các cá nhân cho nên các mức giá và sản
lợng tơng ứng sẽ đợc xác định, theo đó hình thành nên cầu về các dịch vụ y
tế. Có cầu thì có cung đó là điều mà các nhà kinh tế học đã chứng minh:
Cung các dịch vụ y tế là cung hạn chế bởi tính đặc thù và chuyên môn cao
vốn có của ngành y tế. Khi cung và cầu về y tế gặp nhau hình thành nên thị
trờng các dịch vụ y tế.
Điều quan trọng ở đây không phải là chúng ta đi tìm hiểu xem thị tr-
ờng các dịch vụ y tế hoạt động ra sao, mà điểm cốt lõi là đặc trng của thị tr-
ờng này có gì khác biệt với các thị trờng khác, nhằm định hớng cho công
tác triển khai các hoạt động trong sự nghiệp y tế với nền kinh tế thị trờng
định hớng XHCN có sự quản lý của Nhà nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng thì mọi hàng hoá, dịch vụ đợc định giá
bởi thị trờng nhng dịch vụ y tế lại không nên để thị trờng kiểm soát mà phải
có sự quản lý của Chính phủ và đợc trợ cấp bởi Chính phủ theo một số điểm
quan trọng sau:
+ Thị trờng dịch vụ y tế hoạt động phải đem lại mục tiêu công bằng,
nhất là đối với xã hội XHCN tồn tại ở nớc ta. Nếu giá cả và khối lợng dịch
vụ y tế đợc xác định hoàn toàn bởi thị trờng thì gây ra tình trạng mất công
bằng, chỉ có những ngời có đủ tiền mới đợc hởng những dịch vụ y tế có thể
với chi phí cao mà những ngời có thu nhập thấp hơn không thể có đợc.
Chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là một trong những công việc hết
sức to lớn, quan trọng mang lợi ích chung và lâu dài cho toàn bộ xã hội. Với
phơng châm xây dựng một xã hội XHCN bền vững và phát triển toàn diện,
coi trọng yếu tố quyết định là con ngời thì không thể đặt các hoạt động y tế
ngoài sự nghiệp chung của toàn xã hội đợc.
Do vậy, sự nghiệp y tế là yêu cầu tất yếu khách quan của chế độ xã
hội ở nớc ta và phải nhằm thực hiện những mục tiêu đem lại những kết quả
về chăm sóc sức khoẻ nhân dân cao nhất. Phấn đấu để mọi ngời dân đều đ-
ợc hởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử
dụng các dịch vụ y tế có chất lợng. Mọi ngời đều đợc sống trong cộng đồng
an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng
cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi.
Trong điều kiện hiện nay, khi chuyển cơ chế mới thì sự nghiệp y tế đ-
ợc xác định là loại hình sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt
6
động thờng xuyên hay là loại hình sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ chi
phí hoạt động thờng xuyên, cụ thể đợc xác định nh sau:
(
1
)
Trong đó:
Tổng số thu sự nghiệp của đơn vị bao gồm:
+ Tiền thu phí, lệ phí thuộc Ngân sách Nhà nớc ( phần đợc để lại đơn
vị thu theo quy định): Mức thu phí, lệ phí, tỷ lệ nguồn thu đợc để lại đơn vị
sử dụng và nội dung chi thực hiện theo quy định của cơ quan Nhà nớc có
thẩm quyền đối với từng loại phí, lệ phí.
+ Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ: Mức thu từ các hoạt
động này do Thủ trởng đơn vị quyết định, theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp
chi phí và có tích luỹ.
X100%
+ Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thờng
xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo đợc toàn bộ chi phí hoạt
động thờng xuyên, ngân sách không phải cấp kinh phí bảo đảm hoạt động
thờng xuyên cho đơn vị ( đây là những đơn vị có tỷ lệ A lớn hơn hoặc bằng
100%).
+ Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thờng
xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp cha tự trang trải toàn bộ chi phí
hoạt động thờng xuyên, Ngân sách Nhà nớc cấp một phần chi phí hoạt động
thờng xuyên cho đơn vị ( đây là những đơn vị có tỷ lệ A nhỏ hơn 100%).
Theo đó, các đơn vị sự nghiệp y tế hiện nay đợc chủ động hơn trong
hoạt động của mình khi áp dụng Nghị định 10/2002/NĐ-CP, phần nào giảm
bớt đi gánh nặng cho Ngân sách Nhà nớc và thể hiện sự đổi mới trong quản
lý các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung cũng nh sự nghiệp y tế nói riêng.
8
1.1.2. Nội dung quản lý chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế
tuyến cơ sở
Sự nghiệp y tế đóng vai trò hết sức quan trọng trong khám chữa bệnh
và thực hiện các chiến lợc chăm sóc sức khoẻ ban đầu mà Đảng và Nhà nớc
ta đã đề ra, cho nên phần lớn nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế
thuộc nguồn Ngân sách Nhà nớc. Nguồn Ngân sách Nhà nớc cấp cho các
đơn vị hoạt động sự nghiệp y tế bao gồm:
(1)
3Đối với cả hai loại đơn vị sự nghiệp có thu, đơn vị sự nghiệp tự bảo
đảm chi phí và đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí, thì nguồn
Ngân sách Nhà nớc cấp ( cả Ngân sách Trung ơng và Ngân sách địa phơng)
là các khoản sau:
+ Chi phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nớc, cấp Bộ,
ngành; chơng trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác đợc
cấp có thẩm quyền giao.
chủ yếu ( những trờng hợp bệnh nhân nặng phải chuyển lớn tuyến trên).
+ Hoạt động trong khuôn khổ các chơng trình quốc gia về y tế: các
đơn vị sự nghiệp y tế tuyến cơ sở là các đơn vị trực tiếp triển khai các chơng
trình dới sự chỉ đạo trực tiếp về nghiệp vụ của các sở y tế, bao gồm các mục
tiêu sau:
+ Mục tiêu phòng chống bệnh sốt rét.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh bớu cổ.
+ Mục tiêu tiêm chủng mở rộng.
+ Mục tiêu phòng chống lao.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh phong.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh sốt xuất huyết.
+ Mục tiêu phòng chống suy dinh dỡng trẻ em.
+ Mục tiêu phòng chống HIV/AIDS.
+ Mục tiêu nâng cấp thiết bị y tế.
Ngoài ra, tuyến y tế cơ sở còn đóng góp hoạt động của mình trong
các nghiệp vụ sau:
+ Thờng xuyên tổ chức kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lý và
khắc phục nhanh chóng hậu quả của thảm họa, thiên tai, phòng chống tai
nạn và thơng tích, nhất là tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp hay xử lý các tác động gây ô nhiễm môi trờng và tác động xấu đến
sức khoẻ nh chất thải bệnh viện, hoá chất bảo vệ thực vật
+ Trực tiếp tiếp tham gia các đợt phòng dịch và ngăn chặn các bệnh
dịch lây lan kịp thời nh: dịch bệnh tiêu chảy, uốn ván, nhiễm khuẩn hô hấp
cấp, thấp tim, giun sán Tham gia triển khai chơng trình sức khoẻ sinh sản
10
và kế hoạch hoá gia đình nh truyền thông, tuyên truyền sinh đẻ có kế
hoạch, chăm sóc sản khoa
+ Tổ chức cai nghiện ma tuý và tuyên truyền tác hại của ma tuý sâu
rộng trong mọi tầng lớp nhân dân.
+ Các hoạt động y tế khác.
+ Chi cho quản lý hành chính: bao gồm các khoản chi phục vụ cho
việc quản lý mọi hoạt động sự nghiệp y tế nh: chi mua vật t văn phòng,
điện, nớc, thuê bao điện thoại, chi hội nghị, tiếp khách, chi thuê mớn và các
khoản chi khác có liên quan.
- Nhóm hai: Chi mua sắm, sửa chữa. Nhóm chi này bao gồm các
khoản chi chủ yếu cho tài sản cố định: các chi phí sửa chữa tài sản cố định;
mua sắm tài sản cố định; vận chuyển, lắp đặt tài sản cố định; chi phí thanh
lý, nhợng bán tài sản cố định Do tài sản cố định sử dụng trong lĩnh vực y
tế có đặc thù riêng và thuộc về sự nghiệp của Nhà nớc nên không đợc khấu
hao để bù đắp tài sản cố định, không tránh khỏi việc sử dụng kém hiệu quả,
lãng phí.
- Nhóm ba: Chi khác. Đây là các khoản chi phát sinh không thờng
xuyên, đột xuất và không thuộc các khoản chi trên.
Các khoản chi Ngân sách Nhà nớc hiện nay đợc cấp phát theo một số
hình thức sau:
+ Phơng thức cấp phát theo hạn mức kinh phí: định kỳ cơ quan tài
chính cấp phát hạn mức cho các đơn vị sự nghiệp, căn cứ vào hạn mức mà
các đơn vị rút tiền từ Kho bạc để chi tiêu, hết hạn thời hạn của hạn mức mà
hạn mức chi không hết sẽ bị xoá bỏ. Phơng thức này chủ yếu đợc sử dụng
trong cấp phát kinh phí chi thờng xuyên.
+ Phơng thức cấp phát theo lệnh chi: kinh phí sau khi cấp phát theo
lệnh chi qua Kho bạc nhà nớc quận, huyện tài khoản tiền gửi của các đơn vị
sẽ đợc tăng thêm đúng bằng số ghi trong lệnh chi, sau khi hết niên độ kế
toán mà đơn vị không chi hết số kinh phí đó thì số còn lại nằm trong số d
của tài khoản tiền gửi sẽ đợc chuyển sang năm sau. Phơng thức này dùng
cho các cơ quan, đơn vị không có quan hệ thờng xuyên với Ngân sách Nhà
nớc hay các khoản chi đầu t, mua sắm tài sản cố định của đơn vị sự nghiệp.
+ Phơng thức cấp phát ủy quyền: phơng thức này chủ yếu áp dụng
cho quan hệ giữa Ngân sách Nhà nớc Trung ơng và Ngân sách Nhà nớc địa
phơng, áp dụng phơng thức này khi các đơn vị thực hiện các nhiệm vụ chi
xuyên) đợc cấp có thẩm quyền phê duyệt; đơn vị sự nghiệp lập dự toán thu,
chi năm kế hoạch. Căn cứ lập dự toán chi nh sau:
- Các khoản chi tiền lơng, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ cấp
theo lơng: tính theo lơng cấp bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lơng theo
quy định hiện hành đối với từng ngành nghề, công việc. Quỹ tiền lơng, tiền
công của đơn vị sự nghiệp đợc xác định nh sau:
(1)
Đơn vị sự nghiệp có thu lập dự toán thu, chi Ngân sách Nhà nớc hàng năm thực hiện theo quy định tại
Thông t số 103/1998/TT-BTC ngày 18/07/1998 của Bộ tài chính và Thông t số 25/2002/TT-BTC ngày
21/03/2002 của Bộ tài chính.
13
Quỹ
tiền l
ơng
của
đơn
vị
L ơng
tối
thiểu
chung
ng
ời/thá
ng do
Nhà n
ớc
quy
định
Hệ số
điều
trở lên
X X 12 tháng
Sau khi xác định quỹ tiền lơng của đơn vị, việc trả lơng cho từng ngời lao
động đợc xác định nh sau:
Từ cách xác định trên, tính đợc tổng số kinh phí Ngân sách Nhà nớc chi cho
các đơn vị sự nghiệp y tế của quận, huyện bằng cách lấy tổng quỹ lơng của
từng đơn vị cộng lại.
Đối với đơn vị sự nghiệp có thu áp dụng đơn giá, định mức lao động
đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền phê duyệt thì tiền lơng, tiền công tính
theo đơn giá. Trờng hợp nguồn thu, chi giảm sút, không bảo đảm mức tiền
lơng tối thiểu cho ngời lao động. Thủ trởng đơn vị thống nhất với tổ chức
Công đoàn sử dụng quỹ dự phòng ổn định thu nhập để bảo đảm mức tiền l-
ơng tối thiểu cho ngời lao động trong đơn vị.
- Chi hoạt động nghiệp vụ: căn cứ vào chế độ và khối lợng hoạt
động nghiệp vụ, kinh phí cho nghiệp vụ chuyên môn của sự nghiệp y tế xác
định theo công thức sau:
=
=
n
i
NViNV
CC
1
Trong đó:
C
NVi
: chi nghiệp vụ chuyên môn của Ngân sách Nhà nớc dự kiến kỳ kế
hoạch cho đơn vị thứ i.
C
môn
Số dự
kiến chi
về nghiên
cứu khoa
học hay
thuê
nghiên
cứu
Số dự
kiến chi
về đồng
phục,
trang
phục cho
y tế, bác
sĩ
Số dự
kiến chi
về các
khoản
khác
= + + +
- Chi quản lý hành chính(C
QL
): vật t văn phòng, dịch vụ công cộng,
công tác phí theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành do cơ quan Nhà nớc
có thẩm quyền quy định, đợc xác định theo công thức sau:
)(
1
1
)(
Trong đó:
MS
C
: chi cho mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ của sự nghiệp y tế
tuyến cơ sở theo kế hoạch.
i
NG
: nguyên giá tài sản cố định hiện có của đơn vị thứ i.
i
T
: tỷ lệ % đợc áp dụng để xác định kinh phí dự kiến chi cho mua sắm,
sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ của đơn vị thứ i.
- Chi khác: tuỳ từng thời kỳ, các khoản chi khác đợc xác định một tỷ
lệ % thích hợp trong tổng số chi Ngân sách Nhà nớc tuyến cơ sở.
15
3Quy trình lập dự toán chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế
tuyến cơ sở. Trên cơ sở những quy định chung về lập dự toán chi Ngân sách
Nhà nớc cho sự nghiệp y tế tuyến cơ sở, quy trình lập dự toán Ngân sách
Nhà nớc đợc trình tự theo các bớc sau:
- Bớc 1: Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện thông báo cho
các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở thời hạn bắt đầu triển khai lập dự toán Ngân
sách Nhà nớc ( thờng vào đầu qúi III của năm trớc).
- Bớc 2: Các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở ( trạm y tế xã, phờng, trạm
cai nghiện ) lập dự toán của đơn vị mình trực tiếp gửi lên Trung tâm y tế
quận, huyện.
- Bớc 3: Trung tâm y tế quận, huyện sau khi nhận đợc dự toán của
các đơn vị thì tổng hợp với dự toán của Trung tâm y tế rồi gửi lên Phòng Tài
thẩm quyền ban hành.
+ Dự toán Ngân sách Nhà nớc phải đợc lập theo đúng biểu mẫu, đúng thời
gian quy định
+ Dự toán của sự nghiệp y tế tuyến cơ sở sau khi đợc Sở Tài chính Vật
giá phê duyệt phải đợc sự thông qua của HĐND và UBND cấp quận, huyện
cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phơng.
Chấp hành chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế cơ sở
Trên cơ sở dự toán chi cả năm đợc duyệt và nhiệm vụ phải chi trong
qúi, các đơn vị sự nghiệp y tế tuyến cơ sở sử dụng Ngân sách Nhà nớc lập
dự toán chi qúi ( có chia ra tháng, chi tiết theo các mục chi của Mục lục
Ngân sách Nhà nớc) gửi Trung tâm y tế quận, huyện để Trung tâm y tế tổng
hợp gửi Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện ( trớc ngày 10 của tháng
cuối qúi trớc). Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện trình UBND cùng
cấp phê duyệt và tiến hành cấp phát cho các đơn vị sự nghiệp y tế và Trung
tâm y tế quận, huyện theo hình thức hạn mức kinh phí.
Đơn vị trực tiếp quản lý về chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế
tuyến cơ sở là Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện và kinh phí cấp phát
cho các đơn vị sự nghiệp đợc thực hiện qua Kho bạc nhà nớc trên cơ sở dự
toán đã đợc phê duyệt của qúi.
Trớc kia, kinh phí đợc cấp phát chi tiết theo các mục chi của Mục lục
Ngân sách Nhà nớc đối với kinh phí Ngân sách Nhà nớc bảo đảm hoạt động
thờng xuyên. Sau năm 2002( từ khi Nghị định số10/NĐ-CP có hiệu lực),
đối với kinh phí Ngân sách Nhà nớc bảo đảm hoạt động thờng xuyên ( đối
với các đơn vị bảo đảm một phần chi phí: đơn vị sự nghiệp y tế tuyến cơ
sở), Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện xuất lệnh chi cho các đơn vị
sự nghiệp qua Kho bạc nhà nớc quận, huyện vào mục 134 chi khác của
17
Mục lục Ngân sách Nhà nớc để các đơn vị chi chủ động và phù hợp với tình
hình thực tế đơn vị hơn; nhng kế toán và quyết toán các khoản chi phải theo
các mục chi của Mục lục Ngân sách Nhà nớc tơng ứng. Đối với các khoản
sách Nhà nớc ( chơng loại khoản nhóm tiểu nhóm mục
tiểu mục). Báo cáo quyết toán hàng năm của các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở
18
phải đúng theo mẫu thống nhất Bộ tài chính ban hành và phải gửi đầy đủ
lên các cấp quản lý có liên quan.
Trong quá trình lập báo cáo quyết toán của các đơn vị sự nghiệp y tế
cơ sở, Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện cần chú ý một số điểm mới
sau:
+ Kinh phí ủy quyền ( trớc năm 2001 ) đợc quyết toán vào chi Ngân
sách thành phố, tỉnh thì nay kinh phí chi mục tiêu của thành phố đợc quyết
toán vào Ngân sách quận, huyện. Ngoài ra, quyết toán chi Ngân sách Nhà
nớc phải bao gồm cả chi từ nguồn thu để lại đơn vị và chi từ Ngân sách
quận, huyện.
+ Các khoản kinh phí cha sử dụng hết đơn vi đợc chuyển sang năm
sau để hoạt động, bao gồm: kinh phí Ngân sách Nhà nớc bảo đảm hoạt
động thờng xuyên và các khoản thu sự nghiệp. Còn các khoản kinh phí
khác: kinh phí nghiên cứu khoa học; chơng trình mục tiêu quốc gia; kinh
phí thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nớc đặt hàng; các nhiệm vụ đột xuất đ-
ợc cấp có thẩm quyền giao; vốn đầu t xây dựng cơ bản của năm trớc cha
đợc thực hiện không đợc chuyển sang năm sau trừ trờng hợp đặc biệt theo
quy định của Luật Ngân sách Nhà nớc và các văn bản hớng dẫn hiện hành
của Bộ tài chính.
Sau khi quyết toán chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế cơ sở
đợc hoàn tất đòi hỏi Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện triển khai
ngay công tác kiểm toán đối với các đơn vị để có những điều chỉnh khi cần
thiết theo các văn bản pháp luật về quản lý Ngân sách Nhà nớc hiện hành.
Trong quá trình quản lý chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế cơ sở đòi
hỏi các đơn vị phải thực hiện công khai Ngân sách Nhà nớc nh sau:
(1)
+Công khai dự toán thu chi đã đợc Nhà nớc giao ( năm đầu) và dự
trong nhân dân của Nhà nớc cho sự nghiệp y tế. Bên cạnh đó, xã hội hoá
cần phải có sự đồng tình ủng hộ của quần chúng nhân dân tham gia vào sự
nghiệp y tế.
Để cụ thể quá trình thực hiện xã hội hoá các hoạt động y tế, nội dung
các chính sách khuyến khích cần phải tập trung vào khuyến khích các cơ sở
ngoài công lập phát triển một cách thích hợp. Các nội dung đó bao gồm:
chính sách khuyến khích về cơ sở vật chất, đất đai; về thuế, phí, lệ phí; về
tín dụng; về bảo hiểm; về chế độ khen thởng, phong tặng danh hiệu do
Nhà nớc đề ra; những nội dung này đợc coi có tính quyết định trong chủ tr-
ơng của Nhà nớc góp phần vào khuyến khích xã hội hoá các hoạt động
y tế. Cùng với việc phát triển các cơ sở công lập hoạt động phục vụ chăm
sóc, khám chữa bệnh nhân dân cần phải tích cực hơn nữa trong phát huy
tính tự chủ và năng động của các đơn vị sự nghiệp y tế tuyến cơ sở. Sự phát
triển bền vững sự nghiệp y tế nớc nhà phải luôn đợc đặt trong mối quan hệ
hỗ trợ qua lại giữa phát triển các đơn vị y tế công lập và dân lập mà các
chính sách xã hội hoá đã đề ra.
Yêu cầu khuyến khích xã hội hoá đối với sự nghiệp y tế
(1)
Điều 1, Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/08/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với
các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao.
20
Sự nghiệp y tế nếu chỉ đợc bảo đảm từ phía Nhà nớc sẽ không tạo đà
cho sự phát triển nhanh và bền vững, nên yêu cầu khuyến khích xã hội hoá
đối với sự nghiệp y tế là thực sự cần thiết và đang đặt ra cho phát triển kinh
tế xã hội của chúng ta, bởi xã hội hoá đối với sự nghiệp y tế góp phần:
+ Tạo điều kiện lồng ghép các yêu cầu bảo vệ và nâng cao sức khoẻ
của nhân dân trong các chính sách vĩ mô về kinh tế, xã hội, các chơng trình,
dự án phát triển sản xuất, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo.
+ Đa dạng hoá các loại hình chăm sóc sức khoẻ, tìm kiếm và khai
thác các nguồn đầu t khác nhau cho y tế nh: bảo hiểm y tế tự nguyện, viện
hớng nào cả, mà chỉ đáp ứng yêu cầu lợi ích cá nhân.
Thứ hai, cả xã hội hoá và phát triển tự phát đều phải tuân theo những
quy định chung của pháp luật nhng khả năng tiềm ẩn về vi phạm hay lách
luật của phát triển tự phát trong lĩnh vực y tế sẽ chiếm tỷ lệ cao hơn bởi yếu
tố lợi nhuận sẽ làm mờ đi tính chất nhân đạo vốn có của các hoạt động y tế.
Thứ ba, xã hội hoá các hoạt động y tế vừa góp phần giảm gánh nặng
cho Ngân sách Nhà nớc vừa đảm bảo sự công bằng vốn có và gia tăng động
lực hiệu quả các hoạt động y tế là rất lớn. Còn về phía phát triển tự phát
cũng có thể đạt đợc hiệu quả rất cao của các hoạt động y tế nhng ít có đợc
sự công bằng mà muốn điều hoà đợc mục tiêu công bằng và mục tiêu hiệu
quả sẽ gây áp lực lớn, bị động cho Ngân sách Nhà nớc do những hậu quả
ngoài ý muốn.
Ngoài ra, phát triển tự phát có thể dẫn tới độc quyền trong lĩnh vực y
tế mà chế độ xã hội XHCN không mong muốn điều đó. Chính vì vậy, xã hội
hoá là phù hợp với con đờng đi lên CNXH mà chúng ta đã lựa chọn, gây
dựng và bảo vệ cho đến ngày hôm nay.
Mối liên hệ giữa quản lý chi Ngân sách Nhà nớc với xã hội
hoá các hoạt động y tế
Trong quá trình tiến hành xã hội hoá các hoạt động y tế, yêu cầu đặt
ra cho các đơn vị sự nghiệp y tế là cần phải tự chủ về tài chính và luôn phấn
đấu tiên phong trong các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh
cho nhân dân. Các cơ sở ngoài công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế cần đ-
ợc sự khuyến khích và đầu t phần nào về nguồn vốn hoạt động từ phía Nhà
nớc; có nh vậy mới vừa thúc đẩy các cơ sở ngoài công lập đi vào hoạt động
trong lĩnh vực y tế vừa tạo đà cho phát triển của hình thức này. Tuy nhiên,
việc xã hội hoá các hoạt động y tế, nguồn chi từ Ngân sách Nhà nớc vẫn
phải đóng vai trò chủ đạo, quan trọng nhất nhng tỷ trọng so với tổng chi về
y tế của toàn xã hội dần giảm một cách phù hợp.
Trớc kia, khi cha có chính sách khuyến khích xã hội hoá các hoạt
động y tế, việc quản lý chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế đã gặp
( hầu nh không có diện tích đất nông
nghiệp ), dân số 186.000 ngời, quận Hoàn Kiếm là một quận nội thành, có
vị trí ở trung tâm thủ đô Hà Nội, lịch sử phát triển gắn liền với lịch sử ngàn
năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội và lịch sử 36 phố phờng. Quận Hoàn
Kiếm không những là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của thành
phố Hà Nội mà còn là một trung tâm lớn của cả nớc. Ngày nay, với sự phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế nớc ta, quận Hoàn Kiếm luôn là một địa bàn
dẫn đầu về mọi lĩnh vực: công nghiệp, thơng mại và dịch vụ so với các đơn
vị hành chính cùng cấp, xứng đáng là quận trung tâm của thủ đô Hà Nội.
* Về kinh tế: sự phát triển về kinh tế đợc phản ánh thông qua mối
quan hệ mọi lĩnh vực với thu - chi Ngân sách Nhà nớc trên địa bàn quận.
Trong những năm qua công tác thu - chi Ngân sách Nhà nớc trên địa bàn
quận đã đạt đợc kết quả ổn định, vững chắc và có nhịp độ tăng trởng dơng
phù hợp tình hình phát triển kinh tế, xã hội của quận:
+ Về thu ngân sách nhà nớc trên địa bàn, quận Hoàn Kiếm là địa bàn
trọng điểm của kinh doanh thơng mại dịch vụ nên có số thu về thuế công
thơng nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong thu NSNN. Số thu Thành phố giao
cho quận năm sau cao hơn thực hiện năm trớc từ 15%-20%.
+ Về thu ngân sách quận: Thu ngân sách quận để cân đối chi ngân
sách theo tỷ lệ điều tiết chung của Thành phố thì quận có u thế là số thu
lớn, lại là nơi có nhiều đơn vị Trung ơng và Thành phố giao dịch đóng trên
địa bàn nên thu đảm bảo chi và có kết d lớn. Số thu tăng bình quân trên
11%/năm.
+ Về chi ngân sách: Quận Hoàn Kiếm là đơn vị có số chi trung bình
và thấp so với các quận (huyện) bạn, do nhiệm vụ chi sự nghiệp kinh tế,
giao thông, đô thị ở quận trung tâm nên Thành phố đảm nhiệm là chính chỉ
chiếm 30% đến 33% trên tổng số thu ngân. Nhiệm vụ chi của quận chủ yếu
là chi thờng xuyên chiếm tỷ trọng từ 70% đến 75% tổng chi ngân sách.
24
Tuy vậy, công tác quản lý Ngân sách Nhà nớc trên địa bàn quận cũng
Kiếm
Phòng Tài chính - Vật giá quận Hoàn Kiếm là đơn vị trực tiếp quản
lý tài chính Ngân sách Nhà nớc trên toàn địa bàn quận về mọi lĩnh vực,
trong đó có quản lý thu - chi Ngân sách Nhà nớc đối với các đơn vị sự
nghiệp y tế của quận.
Phòng TC-VG quận Hoàn Kiếm có trụ sở tại số nhà 56 Hàng Cân.
Phòng đợc thành lập từ tháng 08/1990. Thực hiện nhiệm vụ theo quy định
tại quyết định số 1141/QĐ-UB ngày18/03/1988 với chức năng quản lý tài
25